VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ VĂN QUYẾT
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI TÂM THẦN
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI BÌNH ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM TRƢỜNG GIANG
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Trường Giang.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là
trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
BNTT
Bệnh nhân tâm thần
BTXH
Bảo trợ xã hội
BYT
Bộ Y Tế
CSSKTT
Chăm sóc sức khỏe tâm thần
CTXH
Công tác xã hội
NTT
Người tâm thần
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
PHCN
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, hiện tượng người mắc bệnh
tâm thần có biểu hiện gia tăng, trong số đó chủ yếu là những người có số phận, hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn: nghèo khó, không có gia đình, không nơi nương tựa,…
sống lang thang ở vỉa hè, gầm cầu, công viên, nhà ga, bến xe,… Cho nên việc thành
lập các Trung tâm BTXH nhằm tập trung họ, để đưa về chăm sóc, nuôi dưỡng, điều
trị, là một viêc làm hết sức nhân đạo và nhân văn, đã góp phần giữ gìn mỹ quan, văn
minh cho thành phố Hồ Chí Minh.
Thực tế việc chăm sóc, điều trị cho NTT cho thấy, sau giai đoạn điều trị y tế,
thì việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng công tác xã hội vào quá trình điều trị, giúp
NTT hồi phục sức khỏe, sớm trở về với gia đình và cộng đồng chưa được Trung
tâm thể hiện rõ, do đội ngũ nhân viên còn thiếu về số lượng lẫn chất lượng. Toàn bộ
quá trình điều trị, chăm sóc tuy có tiến bộ, nhưng mới dừng ở bước đầu tiếp cận, mà
chưa đi vào chiều sâu, để phục vụ cho NTT.
1
Kỹ năng của gia đình, của cộng đồng trong ứng xử với NTT chưa được trang
bị. Nguồn lực thực hiện CTXH đối với NTT từ ngân sách, cũng như huy động sự
tham gia của cộng đồng, của các nhà từ thiện còn rất hạn chế.
Trung tâm BTXH Bình Đức được thành lập vào năm 2011, là đơn vị trực
thuộc Sở LĐTB&XH TP.HCM, tiền thân là Trung tâm Cai nghiện ma túy Bình Đức.
Đến năm 2012, thì Trung tâm được bổ sung thêm chức năng chăm sóc, nuôi dưỡng
NTT lang thang, không nơi nương tựa. Với nhiệm vụ mới chưa có tiền lệ, nhưng
đội ngũ nhân viên còn non trẻ, thiếu và yếu về chuyên môn lẫn kinh nghiệm công
tác. Việc điều trị cho NTT chủ yếu là dựa vào thuốc. Các hoạt động CTXH mới
bước đầu được áp dụng, chưa mang lại hiệu quả. Sự tham gia và hỗ trợ của
NVCTXH đối với quá trình điều trị cho NTT chưa được rõ nét, chưa có quy trình
hoạt động CTXH một cách cụ thể.
Trước thực trạng về công tác CSSKTT cũng như các hoạt động CTXH đối
thân chủ.
Từ năm 1960 đến nay, công tác chăm sóc SKTT bước vào một cuộc cách
mạng mới, đưa công tác chăm sóc SKTT về cộng đồng, nhiều lực lượng vào cuộc
trong đó đặc biệt có sự vào cuộc của ngành CTXH.
2.2. Các nghiên cứu trong nước
Trước thế kỷ XX, các RLTT cũng đã sớm được con người nhận biết và có
những cách ứng xử khác nhau với những người có RLTT.
Vào thời kỳ Pháp thuộc, việc điều trị bệnh tâm thần chưa được quan tâm.
Nhà Thương Vôi và khu “Trại điên” thực chất là nơi giam giữ “người điên” để tránh
phá rối trật tự xã hội. Người RLTT bị nhốt trong các phòng chật hẹp, ở trần truồng,
tranh nhau những nắm cơm qua lỗ hở đục ở cửa. Khi kích động, họ bị roi vọt, dây
trói, cùm tay chân, …
Sau năm 1945, ở miền Bắc, công tác chăm sóc SKTT đã được chú trọng. Các
khoa, bệnh viện điều trị tâm thần được thành lập nhưng còn bị phân tán nhỏ lẻ. Sau
năm 1975, Bệnh viện Tâm thần Thường Tín, nay là Bệnh viện Tâm thần Trung
ương I và Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa, nay là Bệnh viện Tâm thần Trung ương II,
được đầu tư nâng cấp về cả cơ sở vật chất và chất lượng phục vụ.
Ngành LĐTB&XH cũng đã có những hoạt động mạnh mẽ trong lĩnh vực
CSSKTT. Riêng Sở LĐTB&XH TP.HCM có 03 Trung tâm đang chăm sóc, điều trị
3
và PHCN cho gần 2.800 NTT, trong đó có Trung tâm Bảo trợ Xã hội Bình Đức, nơi
bản thân đang công tác. Việc chăm sóc, điều trị cho NTT ở mỗi Trung tâm đang
được thực hiện một cách đơn lẻ, dựa vào thực tiễn của đơn vị đó, mà chưa có sự
thống nhất chung, chưa có quy trình cụ thể. Đặc biệt là hoạt động CTXH trong
CSSKTT đối với NTT tại các Trung tâm chưa được thể hiện rõ, liệu pháp trị liệu
được áp dụng chủ yếu vẫn là điều trị bằng thuốc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
a. Đội ngũ cán bộ, nhân viên ở Trung tâm đã hỗ trợ gì cho NTT?
b. Các hoạt động CTXH có vai trò như thế nào đối với người tâm thần tại
Trung tâm?
c. Trung tâm đã kết nối được những nguồn lực gì trong việc hỗ trợ người tâm
thần?
Giả thuyết nghiên cứu
a. Cán bộ, viên chức ở Trung tâm đã thực hiện tốt việc chăm sóc, nuôi dưỡng
và PHCN cho NTT.
b. Các hoạt động CTXH có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ NTT về mặt
tâm lý và PHCN cho NTT, để họ sớm hòa nhập với cộng đồng.
c. Để đưa NTT về với cộng đồng, Trung tâm đã làm tốt việc kết nối các
nguồn lực như gia đình, địa phương, các doanh nghiệp, các nhà từ thiện,…
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập thông tin và phân tích tài liệu: thu thập, tìm hiểu và
vận dụng các lý thuyết của ngành CTXH; phân tích, tổng hợp những công trình
nghiên cứu khoa học, các mô hình, dự án, báo cáo,… để phục vụ cho công trình
nghiên cứu.
Phương pháp phỏng vấn sâu: tìm hiểu, thu thập thông tin chuyên sâu về
thực trạng đời sống của NTT, những vấn đề về sức khỏe, tâm lý, các hoạt động
CTXH tại Trung tâm thông qua việc phỏng vấn NTT, nhân viên y tế, lãnh đạo Khoa
Tâm thần và lãnh đạo Trung tâm.
Phương pháp điều tra bảng hỏi: sử dụng bảng hỏi để thu thập thông tin
chung về hoạt động CTXH, đời sống, điều kiện sinh hoạt, ăn uống, vui chơi, giải
trí,… từ những bệnh nhân tâm thần tương đối tỉnh táo, thân nhân bệnh nhân và nhân
5
viên tại đơn vị. Nghiên cứu này sẽ sử dụng bảng hỏi dành cho 50 NTT tỉnh táo, thân
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người tâm thần.
Chƣơng 2: Thực trạng về công tác xã hội đối với người tâm thần tại Trung
tâm Bảo trợ Xã hội Bình Đức giai đoạn năm 2013 - 2016
Chƣơng 3: Một số định hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác xã
hội đối với người tâm thần tại Trung tâm Bảo trợ Xã hội Bình Đức
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƢỜI TÂM THẦN
1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm sức khỏe tâm thần
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): “Sức khỏe là một trạng thái khỏe mạnh
về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ có nghĩa đơn thuần là không mang bệnh
tật hay thương tật”.
Sức khỏe tâm thần được xem như trạng thái khỏe mạnh của cá nhân mà ở đó,
họ có thể nhận biết tiềm năng của bản thân, có khả năng đối mặt với những căng
thẳng thông thường trong cuộc sống, làm việc một cách hiệu quả, từ đó đóng góp
cho xã hội [15, tr.5]
Trong khi, sức khoẻ về thể chất đã được xã hội từng bước đặt đúng vào vị trí
của nó, thì sức khoẻ về tâm thần vẫn còn phải phấn đấu, để thay đổi dần những nhận
thức còn nhiều lệch lạc. Sức khoẻ tâm thần không chỉ là một trạng thái không có rối
loạn hay dị tật về tâm thần, mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái.
Muốn có một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, thì cần phải có chất lượng
nuôi sống tốt, có được sự cân bằng và hoà hợp giữa các cá nhân, môi trường xung
quanh và môi trường xã hội. Như vậy, thực chất sức khoẻ tâm thần là:
Về dạng tật của người khuyết tật:
- Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm
xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất
thường ( là dạng thứ 04/06 dạng tật của người khuyết tật).
- Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy
biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng,
giải quyết sự việc (là dạng thứ 05/06 dạng tật của người khuyết tật), (theo điều 2
của NĐ số 28/2012/NĐ-CP) [4].
Về mức độ khuyết tật:
a. Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất
hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt
động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh
hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn.
9
b. Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần
hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số
hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu
sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc.
c. Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định
tại Khoản 1 và Khoản 2 điều này (điều 3 của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP) [4].
1.1.4. Khái niệm Công tác xã hội
CTXH là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng
cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều
kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó [14]. Nghề công tác xã hội thúc đẩy
sự thay đổi xã hội, nhằm giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ của con người,
tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày
càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống
con người và tác động đến các chính sách xã hội.
DuBois và Miley (2005) lại nhận định nhân viên xã hội là những nhà chuyên
nghiệp, có nền tảng kiến thức chuyên môn, có kỹ năng cần thiết, tuân thủ những
tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công tác xã hội.
1.2. Các lý thuyết ứng dụng
1.2.1. Thuyết nhu cầu
Theo quan điểm của nhà tâm lý học A. Maslow, con người có 5 loại nhu cầu
cơ bản. Các nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau,
được sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao, bao gồm:
Nhu cầu về sinh lý: đây là các nhu cầu cần thiết để con người sống và tồn
tại như ăn, uống, ngủ, không khí sạch… khi các nhu cầu này được thỏa mãn, thì con
người có xu hướng tìm kiếm, đáp ứng nhu cầu ở bậc cao hơn.
Nhu cầu về an toàn: đây là những nhu cầu giúp con người có cuộc sống an
toàn, bình yên, ổn định, được sống trong sự bình ổn về kinh tế, về pháp luật, về trật
tự xã hội, không bị đe dọa,… Khi nhu cầu sinh lý được thỏa mãn mà nhu cầu an
toàn chưa được đáp ứng, thì các nhu cầu an toàn sẽ là động lực điều khiển hành
động của con người. Con người mong muốn một thế giới bình yên, mọi sự mất ổn
định đều làm cho người ta lo lắng sợ hãi.
11
Nhu cầu được yêu thương, được kết bạn, được giao tiếp, được tham gia
vào các nhóm gắn bó về tình cảm. Đây là những nhu cầu, giúp con người có cuộc
sống vui vẻ, hạnh phúc, con người thấy được giá trị của mình qua tương tác với
những người khác và họ cũng học được, hiểu và biết cách sống chung, biết hòa
nhập với mọi người, với cộng đồng xã hội.
Nhu cầu được tôn trọng: đây là nhu cầu giúp con người sống bình đẳng, tự
tin vào khả năng, nhu cầu về vị thế, uy tín, tôn trọng phẩm giá, không bị coi thường,
định kiến hoặc chối bỏ…
hoạch hoạt động, những mô hình phát triển xã hội, cũng như trong tiến trình thực
hiện các hoạt động CTXH.
Với cách tiếp cận này, NTT cho dù đang gặp phải vấn đề khó khăn về bệnh
tật, nhưng cũng được tôn trọng như là một con người, với đầy đủ các giá trị, các
quyền như những con người bình thường khác.
Tiếp cận dựa trên quyền con người, lấy con người làm trung tâm, tập trung
vào nhu cầu và tiềm năng của họ để đi đến giải quyết vấn đề, hướng tới việc cải
thiện hoàn cảnh sống, chất lượng sống cho chính NTT.
Do đó với cách tiếp cận này, NVCTXH sẽ là người thực hiện vai trò biện hộ,
ngay cả khi đối tượng đã nhận thức hoặc chưa nhận thức được những quyền của họ,
giúp họ nói lên tiếng nói của mình đối với các cấp chính quyền, với cộng đồng xã
hội xung quanh họ, đảm bảo NTT nhận được mọi quyền đối với các dịch vụ xã hội.
1.2.3. Thuyết hành vi
Tiếp cận hành vi nhằm khắc phục tính chủ quan trong nghiên cứu các hiện
tượng tâm lý của tâm lý học thế giới đầu thế kỷ XX. Kết quả đã hình thành một
trường phái có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của tâm lý học Mỹ và thế giới
thế kỷ XX, mà đại biểu xuất sắc là các nhà tâm lý học kiệt xuất: J.Watson (18781958), E.Tolman (1886-1959), E.L.Thomdike (1874-1949), B.Ph.Skinne (19041990),… Các nhà tâm lý học theo hướng tiếp cận hành vi phủ nhận việc nghiên cứu
ý thức của con người.
Theo trường phái hành vi thì tính tích cực của chủ thể được coi nhẹ, trong
khi vai trò kích thích bên ngoài trong việc tạo ra các các phản ứng được đề cao. Do
đó, điều khiển việc hình thành hành vi của con người được quy về việc tạo ra môi
13
trường kích thích, được sắp xếp theo logic cho phép hình thành các phản ứng mong
muốn.
Ví dụ như là trong giờ ăn cơm đối với NTT. Khi ngồi vào bàn ăn, mỗi NTT
có thể, có nhiều hành vi khác nhau hoặc có người biết cách chia sẻ thức ăn với
những NTT khác hoặc giữ lấy những món ăn ngon mà mình thích, hay biết ăn uống
Phương pháp tiếp cận này, mô tả các hệ thống con người và môi trường xã hội ở
cấp độ vi mô (cá nhân), trung mô (gia đình, nhóm nhỏ) và vĩ mô (nhóm lớn, tổ chức,
cộng đồng). Ở đó, có hành động tương tác và trao đổi cởi mở, tự tổ chức, tự điều
chỉnh và chức năng thích nghi, các tiểu hệ thống phức tạp và phụ thuộc lẫn nhau.
Vì vậy, theo quan điểm hệ thống sinh thái, con người được xem như là một
hệ thống với các bộ phận phụ thuộc lẫn nhau bao gồm sinh học, tâm lý, chính trị,
kinh tế, tinh thần, xã hội và một số yếu tố khác. Môi trường là một hệ thống chức
năng bao gồm nuôi dưỡng (gia đình, bạn bè, và nhóm nhỏ) và duy trì (tổ chức, cơ
quan, các chương trình xã hội).
Thuyết hệ thống sinh thái cho phép, NVCTXH vừa nhìn được bức tranh tổng
thể, vừa thấy rõ những thành phần nhỏ, đóng góp nên bức tranh, để thiết lập các hệ
thống trợ giúp cho NTT, nhằm cải thiện tốt hơn các mối quan hệ giữa gia đình và xã
hội. Đồng thời, NVCTXH là tác nhân thay đổi, cung cấp sự hỗ trợ về tinh thần, kết
nối NTT với các nguồn thông tin, truyền thông nhằm giúp cho họ có những thay đổi
cần thiết trong quá trình điều trị bệnh.
1.3. Một số lý luận cơ bản về công tác xã hội đối với ngƣời tâm thần
1.3.1. Công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe người tâm thần
Bệnh tâm thần nói riêng hay rối nhiễu tâm thần nói chung, phần lớn có
nguồn gốc đa yếu tố, trong đó có yếu tố môi trường xã hội là quan trọng và có hậu
quả trực tiếp đến đời sống tình cảm, đời sống xã hội của đối tượng. Do đó, người có
rối nhiễu tâm thần cũng chính là đối tượng của công tác xã hội.
CTXH trong chăm sóc sức khỏe cho người RNTT là những hoạt động, nhằm
để thúc đẩy các yếu tố tích cực, giảm các yếu tố tiêu cực từ môi trường xã hội đến
người RNTT [19, tr.41], giúp cho người bệnh được phục hồi chức năng, để sớm hòa
nhập trở lại với đời sống xã hội. Vì vậy, CTXH đã quan tâm chăm sóc sức khỏe tâm
thần, từ những năm đầu tiên khi mới phát triển nghề CTXH, thông qua việc cung
cấp các dịch vụ chăm sóc sau chữa trị bệnh cho NTT.
15
16
khỏe mạnh thông qua việc giáo dục, nâng cao các tiêu chí với nhu cầu cơ bản và các
biện pháp bảo vệ cụ thể đối phó với các nguy cơ của các vấn đề sức khỏe tâm thần.
Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, các hoạt động ngăn ngừa bao gồm việc
giáo dục cá nhân, cộng đồng liên quan đến việc tự chăm sóc tinh thần và mối quan
hệ khỏe mạnh, xây dựng các kĩ năng kiến thức tại cộng đồng (phát triển cộng đồng),
các hành động xã hội và biện hộ cho nhóm đối tượng.
Can thiệp: mảng hoạt động này của NVCTXH có nhiều điểm giống với nhà
tâm lí lâm sàng và tâm thần. Trong một số trường hợp cần thiết, NVCTXH trong
lĩnh vực tâm thần cũng tiến hành các liệu pháp tâm lý đối với NTT. Đó có thể là
liệu pháp tâm lý cá nhân, can thiệp khủng hoảng, liệu pháp gia đình, liệu pháp nhóm.
Phục hồi: công tác phục hồi tâm thần hướng tới giảm thiểu hậu quả của trạng
thái RLTT của thân chủ sau khi đã được chữa trị về mặt y tế. Phục hồi còn nhằm trợ
giúp cho thân chủ sử dụng tối đa các khả năng của cá nhân. Trong lĩnh vực chăm
sóc sức khỏe tâm thần, các hoạt động phục hồi tập trung vào xây dựng kiến thức, kĩ
năng và cung cấp các nguồn lực đào tạo, hướng nghiệp và biện hộ cho nhóm đối
tượng nhằm đảm bảo sự phát triển của các dịch vụ cần thiết để thay đổi thái độ kì
thị của cộng đồng với nhóm đối tượng này. Từ đó giúp nhóm đối tượng này hòa
nhập với xã hội và đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho họ.
1.3.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong chăm sóc sức khỏe
người tâm thần
CSSKTT có nhiều mô hình khác nhau nhưng ở đây, chỉ đề cập đến việc
CSSKTT tại các Trung tâm, nơi đang phải nuôi dưỡng, chăm sóc, điều trị và PHCN
cho NTT nặng, có những hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc do NTT mãn tính,
không còn có khả năng phục hồi.
Tuy nhiên, do bệnh tâm thần bao gồm nhiều cấp độ khác nhau, và ở mỗi cấp
độ, lại có những cách thức can thiệp khác nhau. Do đó, NVCTXH sẽ hợp tác với
tâm lý, mối quan hệ cá nhân và gia đình của người tâm thần. Kiến thức này sẽ giúp
cho NVCTXH, phân tích được nguyên nhân, gốc rễ của vấn đề, biết được các ảnh
hưởng và tác động từ các yếu tố của chính bản thân NTT, các mối quan hệ trong gia
đình đối với vấn đề của thân chủ. Qua đó, nhân viên CTXH sẽ có phương pháp tiếp
cận phù hợp với từng đối tượng NTT, bao gồm 3 phương pháp.
* Công tác xã hội với cá nhân
18
CTXH cá nhân là phương pháp tác động thông qua mối quan hệ tương tác 11, giữa NVCTXH với thân chủ nhằm trợ giúp họ, giải quyết các vấn đề nảy sinh từ
sự thay đổi (kinh tế - xã hội) của môi trường, giúp họ điều chỉnh bản thân và cách
thức tương tác với môi trường (Charle Zastrow, 2003). Fardey O.W.et la (2000)
cũng coi CTXH cá nhân là phương pháp trợ giúp, mà ở đó NVCTXH sử dụng hệ
thống giá trị, kiến thức hành vi con người và các kỹ năng chuyên môn về CTXH để
giúp đỡ cá nhân và gia đình giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội, xử lý các mối quan
hệ giữa con người với môi trường xung quanh thông qua mối quan hệ tương tác 11.[20, tr 5].
Khi con người rơi vào tình trạng bị rối loạn tâm thần, luôn cần đến sự hỗ trợ
về mặt tâm lý. Do đó, với đối tượng NTT thì CTXH cần phải tập trung nhiều hơn,
quan tâm nhiều hơn. Thông qua tư vấn, tham vấn, NVCTXH sẽ làm thay đổi tình
trạng tâm lý tiêu cực cho họ. Bên cạnh đó, việc hỗ trợ tâm lý không chỉ cho NTT,
mà còn phải hỗ trợ cho gia đình NTT, bởi vì gia đình thường hay rối ren, khi có một
thành viên trong gia đình gặp vấn đề về sức khỏe, đặc biệt là liên quan đến bệnh
tâm thần.
Tình trạng rắc rối này lại càng gia tăng, khi NTT suy nghĩ về những vấn đề
đã và đang xảy ra đối với mình theo hướng suy nghĩ tiêu cực. Họ càng trở nên mặc
cảm, xa lánh hoặc có những suy nghĩ sai lệch với những gì đang diễn ra trong thực
tế, dẫn đến buông xuôi, thờ ơ hoặc có ý định tự tử, tự sát. Trong hoàn cảnh này,
NVCTXH cần phải tư vấn, tham vấn kịp thời. Việc tham vấn, tư vấn sẽ giúp NTT
giải tỏa được các lo lắng, căng thẳng, khắc phục được nguyên nhân dẫn đến tình
mối quan hệ đó làm công cụ chính để nhận diện và giải quyết vấn đề của từng cá
nhân.
Với các hoạt động CTXH nhóm được thực hiện trong nghiên cứu, NTT có
cơ hội được tham gia sinh hoạt trong nhóm NTT có cùng hoàn cảnh, sẽ giúp NTT
học được cách cảm thông với người khác và hỗ trợ lẫn nhau. Bản thân NTT được
chia sẻ những tâm sự, lo lắng của mình, đồng thời được nghe những người khác
chia sẻ cảm xúc. Đây là những tương tác có ảnh hưởng tích cực đến suy nghĩ của
NTT, vì họ thường có tâm lý mặc cảm, tự ti, bị xa lánh cùng với sự cô đơn và lo
lắng. Vì thế qua sinh hoạt nhóm, với những người có cùng cảnh ngộ là cách thoát
khỏi những suy nghĩ tiêu cực như trên.
20
Mặt khác, làm việc nhóm cùng với những người có chung cảnh ngộ sẽ giúp
cho NTT có thêm những thông tin liên quan đến SKTT, tăng cường thêm niềm tin
và sức mạnh trong cuộc sống.
NVCTXH trong các hoạt động nhóm, với các bài tập về giá trị và niềm tin,
cùng với cách khai thác và nhấn mạnh các điểm mạnh của NTT, sẽ giúp họ lấy lại
nghị lực trong cuộc sống. Ngoài ra, các hoạt động đóng vai, xử lý tình huống, sẽ
giúp cho NTT trang bị nhiều kiến thức và kỹ năng về phòng tránh bệnh tật cho bản
thân và cho những người tham gia trong nhóm.
Thông qua hoạt động nhóm, sẽ giúp NTT học được kỹ năng giao tiếp và
hình thành các mối quan hệ xã hội. Những điều này rất cần thiết, cho sự phục hồi
của NTT về mặt tinh thần và xã hội.
CTXH nhóm đối với NTT, là nhóm yếu thế có nguy cơ cao trong xã hội. Do
đó, phương pháp này góp phần hỗ trợ NTT, hồi phục tâm lý, đồng thời nâng cao
khả năng ứng phó của họ trước các tình huống có thể xảy ra trong cuộc sống.
* Công tác xã hội với cộng đồng
Mỗi cộng đồng xã hội luôn phản ánh trạng thái và các hình thức tồn tại, phát