VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VIỆT HƯNG
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN CAO TUỔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM TRỢ GIÚP XÃ HỘI VÀ PHỤC HỒI
CHỨC NĂNG CHO NGƯỜI TÂM THẦN TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số
: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. NGUYỄN HỮU MINH
Hà Nội, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh
vực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình khoa học nào khác. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời
cam đoan này.
Tác giả luận văn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Chữ đầy đủ
1
CTXH
Công tác xã hội
2
NTT
Người tâm thần
3
NTTCT
Người tâm thần cao tuổi
4
9
Sở LĐ-TB&XH
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
10
TG&CTS
Trợ giúp và can thiệp sớm
Trung tâm
Trung tâm trợ giúp xã hội và phục hồi
11
chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú
Thọ
DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP
TÊN HÌNH/HỘP
STT
TRANG
49
về CTXH tại Trung tâm
Hộp 2.2
Những kiến nghị của gia đình bệnh nhân
51
Hộp 2.3
Nhận thức, thái độ và hành động với người tâm thần
59
và NTTCT của người dân địa phương
Hộp 3.1
Một số hình thức tuyên truyền nâng cao nhận thức của
64
cộng đồng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ về CTXH đối với
NTTCT
Hộp 3.2
Những thói quen và nhận thức của người dân dẫn đến
65
Ngoài ra còn có các bệnh lý khác như chấn thương sọ não, u não, xơ cứng rải
rác lan tỏa, sử dụng ma túy… cũng có thể dẫn tới sa sút tâm thần.
Người cao tuổi rất cần được chăm sóc cả về thể chất lẫn tinh thần. Khi
bị bệnh phải được phát hiện và chăm sóc điều trị kịp thời. Khi bị mắc các
bệnh về tâm thần người già mất đi khả năng sống độc lập vì họ bị hạn chế
về vận động, yếu về thể chất, nhiều người sống cô đơn, bị mất người thân,
không ít người bị ngược đãi, nghèo đói, sự cô lập xã hội, mất tự do… đang
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của họ. Sự đoàn kết, mối liên hệ lỏng
lẻo giữa các thế hệ đang ngày càng giảm xuống đẩy người già vào nỗi cô đơn
buồn chán, khiến họ dễ bị các rối loạn tâm thấn.Nên người cao tuổi khi mắc
các bệnh tâm thần rất cần được trợ giúp và cần tuân thủ một chương trình
điều trị thích hợp, giúp cải thiện các triệu chứng ngày càng tốt hơn. Người
bệnh sẽ cảm thấy sinh lực trở lại để làm những công việc mà mình yêu thích,
1
mọi đau đớn và các suy nghĩ bất ổn cũng qua đi và vượt lên tất cả là ý nghĩ,
cái nhìn toàn cục mới mẻ về cuộc sống.
Đó chính là điều mà tất cả chúng ta ai cũng cần hướng tới. Vấn đề đặt
ra là nhân viên y tế, nhân viên công tác xã hội, người nhà bệnh nhân và cả
người thân bệnh nhân cần được đào tạo hướng dẫn chăm sóc chuyên nghiệp
nhằm giữ sự sa sút sức khỏe ở mức thấp nhất, cùng với các hỗ trợ xã hội cải
thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân sa sút tâm thần.
Ở Việt Nam chưa có cuộc tổng điều tra về sức khoẻ tâm thần song
những số liệu từ các cuộc khảo sát lớn của các cơ quan chức năng cho thấy,
số lượng người bị các bệnh liên quan đến sức khoẻ tâm thần ngày một tăng.
Mục tiêu của đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm
thần, rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011- 2020 do Thủ tướng
Chính phủ ban hành, xác định : “90% số người tâm thần có hành vi nguy
kinh tế xã hội khác nhau, cho thấy chỉ tính trên 10 mã bệnh phổ biến, nước ta
đã có 15% dân số bị các bệnh liên quan đến sức khoẻ tâm thần. Trong khi đó,
quy chuẩn của nhân loại cũng như ở Việt Nam, có tới hơn 300 mã bệnh tâm
thần. [33]. Người tâm thần dù ở bất kỳ quốc gia nào cũng rất cần sự quan tâm
trợ giúp của người thân, cộng đồng, các dịch vụ xã hội. Đặc biệt là công tác xã
hội với NTTCT, hiện nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào về lĩnh vực
này, nên việc chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này không được dựa trên sự kế
thừa của các nghiên cứu trước đó về công tác xã hội với NTTCT, chúng tôi chỉ
tham khảo những nghiên cứu từ góc độ y tế để tìm hiểu về đặc điểm và nhu cầu
của người bệnh. Tuy nhiên căn cứ vào tình hình thực tế hoạt động tại TTTGXH
& PHCNCNTT Tỉnh Phú Thọ cùng với những kiến thức về công tác xã hội
trong thời gian được đào tạo chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu về vấn đề này
nhằm đưa ra những đề xuất, kiến nghị đem lại lợi ích cho sức khỏe tâm trí
người Việt Nam nói chung và những vấn đề về CTXH với NTTCT.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác xã hội
đối với NTTCT qua thực tế tỉnh Phú Thọ. Từ đó đề xuất các giải pháp để thúc
đẩy công tác xã hội đối với NTTCT tại Trung tâm
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến công tác xã hội đối với NTTCT
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về người tâm thần, các lý thuyết được
áp dụng trong công tác xã hội đối với NTTCT
Đánh giá thực trạng CTXH đối với NTTCT tại địa bàn tỉnh Phú Thọ
Nhận diện các yếu tố tác động đến CTXH đối với NTTCT tại địa bàn
tỉnh Phú Thọ
đề CTXH đối với người tâm thần, người tâm thần phân liệt.
+ Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo để đánh giá thực trạng công tác
xã hội đối với người tâm thần cao tuổi.
+ Đọc, tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến chính
sách hỗ trợ đối với người tâm thần.
- Phương pháp quan sát
+ Quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu thông qua
các tri giác như nghe, nhìn, để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm
đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp quan sát để quan sát
các hoạt động bao gồm: giờ giấc sinh hoạt, điều trị, nghỉ ngơi, lao động, tư
vấn trong một ngày, một tuần, một tháng để hiểu rõ về thực trạng người tâm
5
thần cao tuổi đang được nuôi dưỡng trong Trung tâm Trợ giúp xã hội và phục
hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú Thọ.
- Phương pháp phỏng vấn sâu (cán bộ trực tiếp chăm sóc người tâm thần cao
tuổi)
Là phương pháp thu thập thông tin qua hỏi đáp. Phương pháp này được
sử dụng để tìm hiểu sâu sác về các phản ứng, suy nghĩ, thái độ tình cảm, động
cơ, quan điểm, chính kiến của các đối tượng được phỏng vấn đối với các vấn
đề liên quan.
Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng phỏng vấn sâu để tìm hiểu về đời
sống, tâm tư nguyện vọng cũng như nhu cầu của người tâm thần cao tuổi
trong Trung tâm trợ giúp xã hội phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh
Phú Thọ và thuận lợi, khó khăn gặp phải của đội ngũ cán bộ khi thực hiện
chính sách trợ giúp người tâm thần cao tuổi tại Trung tâm.
Đối tượng phỏng vấn : gia đình, con hoặc vợ ( chồng) NTTCT có
NCT và NTTCT
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có cái nhìn tổng quan về tâm sinh lý
người cao tuổi cũng như CTXH với người tâm thần cao tuổi qua thực tế tại
TTTGXH & PHCNCNTT tỉnh Phú Thọ, từ đó nâng cao trách nhiệm của mọi
người cùng với sự hỗ trợ của nhà nước nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho NCT
và NTTCT.
Chỉ ra được tầm quan trọng của NVCTXH với NTTCT cũng như các
đối tượng yếu thế trong xã hội.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với người tâm thần
cao tuổi
7
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi
tại Trung tâm Trợ giúp xã hội và Phục hồi chức năng cho người tâm thần tỉnh
Phú Thọ
Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện công tác xã hội
đối với người tâm thần cao tuổi tại Trung tâm Trợ giúp xã hội và Phục hồi
chức năng cho người tâm thần tỉnh Phú Thọ .
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
về mặt sinh hóa, miễn dịch, di truyền… Ða số các dấu hiệu bệnh là do rối
loạn chức năng của não. Phần lớn bệnh nhân có thể ăn khỏe, chơi khỏe, đi
đứng bình thường nhưng có ý nghĩ, cảm xúc, hành vi không phù hợp, kỳ dị,
khó hiểu. Bệnh nhân tâm thần thường không nhận thấy mình bị bệnh, từ chối
điều trị tại chuyên khoa tâm thần. - Bệnh nhân thần kinh có nhiều nguyên
nhân khác nhau gây ra làm tổn thương thực thể tại các phần khác nhau của hệ
thần kinh như não bộ, tủy sống, dây thần kinh ngoại vi gây rối loạn chủ yếu
chức năng tiếp thu và thực hiện của con người. Người bệnh ít có các hành vi
kỳ dị, ý nghĩ bất bình thường nhưng có thể tê liệt nửa người, khó khăn đi
đứng, ăn nói, điếc, mù.
* Nguyên nhân và các bệnh tâm thần thường gặp:
Nguyên nhân gây nên bệnh tâm thần là một vấn đề phức tạp. Hiện nay,
có những bệnh nguyên nhân đã rõ ràng, nhưng vẫn còn một số bệnh nguyên
nhân chưa xác định được. Xung quanh vấn đề bệnh nguyên và bệnh sinh các
bệnh tâm thần còn tồn tại nhiều quan điểm và giả thuyết khác nhau.
Do có sự kết hợp phức tạp của nhiều nguyên nhân khác (di truyền,
chuyển hóa, miễn dịch, cấu tạo thể chất…) nên khó xác định nguyên nhân chủ
yếu. Các rối loạn tâm thần nội sinh thường gặp là:
Bệnh tâm thần phân liệt.
+ Rối loạn cảm xúc lưỡng cực.
+ Động kinh nguyên phát.
Các nhân tố thuận lợi cho bệnh tâm thần phát sinh :
+ Yếu tố di truyền : Vấn đề di truyền tất nhiên có ảnh hưởng xấu đến
một số bệnh tâm thần nhưng không phải là tuyệt đối. Có khi bệnh tâm thần
phát sinh trong một thành viên của gia đình mà không thấy trong các thành
viên khác, có trường hợp cha mẹ đều có bệnh mà con cháu vẫn khỏe mạnh
10
bớt, hay ý nghĩ của mình vang thành tiếng hay bị phát thanh. Cảm thấy có sức
mạnh tự nhiên hay siêu nhiên đang hoạt động làm ảnh hưởng đến ý nghĩ, cảm
xúc hay hành vi của mình. Tri giác thường bị rối loạn theo những cách khác
nhau, thường có những ảo thanh bình luận về bệnh nhân. Nét đặc trưng của
cảm xúc là nông cạn, thất thường hay không thích hợp. Trong một số trường
hợp tư duy trở nên gián đoạn hay thêm từ khi nói hoặc lời nói không thích
hợp. Tác phong có thể trở nên rối loạn trầm trọng, kích động hay sững sờ giữ
nguyên tư thế, tập tính cá nhân có thể biến đổi, trở nên mất thích thú, thiếu
mục đích, lười nhác và cách ly xã hội. Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 18 đến 30,
tỷ lệ mắc bệnh từ 0,5% đến 1% dân số. Điều trị chủ yếu bằng các thuốc an
thần kinh phối hợp với liệu pháp lao động thích ứng xã hội
1.1.2. Đặc điểm đời sống tâm lý- xã hội và nhu cầu của người tâm thần cao tuổi
* Tuổi thọ của người tâm thần
Cuộc đời người mắc bệnh tâm thần nặng ngắn hơn từ 15–20 năm so
với tuổi thọ dân số chung ở 3 quốc gia (Đan Mạch, Phần Lan và Thụy Điển)
có chính sách chăm sóc sức khỏe chất lượng cao và tỷ lệ tử vong ở người
bệnh tâm thần cao gấp 2–3 lần so với dân số chung. Đây là kết quả nghiên
cứu của Cơ quan nghiên cứu sức khỏe tâm thần Bắc Âu, Gothenburg, Thụy
Điển từ năm 1987–2006. Nghiên cứu này cho thấy có sự mất cân bằng lớn
giữa những người bệnh tâm thần và dân số còn lại. Theo Gs Kristian
Wahlbeck, lãnh đạo nhóm nghiên cứu cho biết cuộc đời bệnh nhân tâm thần
nam ngắn hơn 20 năm và bệnh nhân nữ ngắn hơn 15 năm. Nghiên cứu này
đăng trên Tạp chí tâm thần Anh quốc số tháng 12/2011. [37]. Tương tự như
các nước phát triển, Thụy Điển, Phần Lan và Đan Mạch đã qua giai đoạn
“giải phóng bệnh nhân tâm thần khỏi các bệnh viện tâm thần lớn – nơi giam
giữ” sự thay đổi lớn lao với chính sách bệnh nhân tâm thần điều trị nội trú
chuyển sang điều trị ngoại trú tại cộng đồng và hòa nhập xã hội. Các tác giả
12
Cuối cùng người bệnh trở nên lú lẫn, không biết ngày tháng năm,
không nói được tên địa danh nơi họ đang sống, nếu đi ra khỏi nhà thì thường
hay đi lang thang và không tìm được đường về, đêm khó ngủ, không thể nói
chuyện mạch lạc với người chung quanh, quên tên và không nhận ra con cái,
không thể tự làm những việc cơ bản hằng ngày như tắm rửa, ăn uống, làm vệ
sinh cá nhân. Lúc này người thân sẽ phải chăm sóc bệnh nhân về mọi mặt và
trong mọi lúc.
Khoảng 30% bệnh nhân có ảo giác và 30% bệnh nhân có hoang tưởng.
40 - 50% bệnh nhân có các triệu chứng trầm cảm và lo âu. Diễn tiến bệnh sẽ
trở nên nặng hơn một cách từ từ . Thời gian sống trung bình của người bệnh
từ lúc phát bệnh đến lúc chết thường là từ 8 – 10 năm. Bệnh nhân thường chết
vì suy kiệt hoặc do các bệnh lý phối hợp như viêm phổi, bệnh tim mạch [35].
1.2. Lý luận về công tác xã hội đối với người tâm thần cao tuổi
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm công tác xã hội
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011)
thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp
tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và
thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền
lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người. CTXH sử dụng các học
thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự
tương tác của con người với môi trường sống.
Theo IFSW (Hiệp hội nhân viên CTXH Quốc tế), Tháng 07/2000,
Montreal, Canada: "Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã
hội, việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng
quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày
càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ
Với mạng lưới hơn 1.000 bệnh viện, nếu hình thành một mạng lưới hoạt động
16
CTXH thì cũng có nghĩa là sẽ cần đến hàng nghìn nhân viên xã hội. Hoạt
động CTXH ở bệnh viện, không chỉ có vai trò trong hỗ trợ người bệnh mà còn
có tác dụng lớn trong việc hỗ trợ thầy thuốc giảm bớt áp lực công việc cũng
như nâng cao hiệu quả điều trị. Tại cộng đồng, hiện nay nhiều chương trình
mục tiêu y tế quốc gia đang triển khai và rất cần có sự tham dự của nhân viên
CTXH, nhất là các chương trình liên quan đến những nhóm xã hội đặc thù
như: quản lý, chăm sóc, tư vấn cho người nhiễm HIV, phục hồi chức năng
dựa vào cộng đồng, phòng, chống lao, tâm thần, quản lý sức khỏe hộ gia đình,
sức khỏe sinh sản, phòng chống tai nạn thương tích... Tại tuyến xã, phường,
các chương trình này từ trước đến nay thường do nhân viên y tế và các cán bộ
đoàn thể đảm nhận theo tinh thần tự nguyện, chưa được đào tạo một cách
chuyên nghiệp. Tại cấp hoạch định chính sách chăm sóc sức khỏe hiện nay
cũng chưa có sự tham gia của CTXH. Nhu cầu sử dụng đội ngũ nhân viên
CTXH của ngành y tế hiện nay là rất lớn và rất cần thiết ở mọi cấp độ. Song
theo các chuyên gia trong ngành, cần phải căn cứ vào nhu cầu thực tế và khả
năng đáp ứng để xác định lĩnh vực ưu tiên, lộ trình phát triển sao cho phù
hợp. Trước mắt, cần ưu tiên hình thành mạng lưới hoạt động CTXH tại các
bệnh viện, nhất là các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh. Tại mỗi bệnh
viện nên thành lập một đơn vị chuyên đảm nhận hoạt động này. Về lâu dài,
cần thiết phải mở rộng mạng lưới CTXH trong chăm sóc sức khỏe đến tận
cộng đồng để có thể hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của chăm sóc sức
khỏe ban đầu, đem dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến gần với người dân.
1.2.3 Lý thuyết tiếp cận trong làm việc với người tâm thần
Cũng như các ngành chuyên môn khác, ngành CTXH tiếp cận và sử
dụng một số các lý thuyết khoa học về xã hội thuộc ngành tâm lý học như:
họ như là những người bình thường cần được hưởng các dịch vụ xã hội như
những người khác và chưa được xã hội tạo điều kiện tốt nhất có thể, chưa
18
được sự hỗ trợ của nguồn lực cộng đồng. Từ đó, NVCTXH sẽ giúp đỡ họ
tiếp cận và sử dụng đúng quyền mà họ đáng được hưởng, cho dù họ là ai,
trong hoàn cảnh như thế nào.
Trong phạm vi đề tài này, NTTCT được xem là đối tượng cần trợ giúp,
hỗ trợ và họ có đầy đủ các quyền của mình. Tiếp cận hướng vào quyền không
chỉ tạo điều kiện cho chính những NTTCT thấy được tầm quan trọng của bản
thân trong hệ thống xã hội, cộng đồng để họ có thể được hưởng những dịch
vụ trờ giúp của xã hội. Tiếp cận dựa vào quyền còn thể hiện tính nhân văn sâu
sắc của hệ thống chính trị, xã hội của nước ta - vì con người và đặt con người
là trung tâm của sự phát triển, là điều kiện cần và đủ để NTTTCT thực hiện
quyền của họ và sử dụng quyền có mục đích và có ý nghĩa.
Vận dụng thuyết này vào đề tài ta có thể giúp NTTCT nhận thấy được
những quyền cơ bản của họ đã được các văn bản pháp luật có liên quan như
quyền được tham gia các hoạt động xã hội; quyền được học tập, giáo dục; trợ
giúp pháp lý; chăm sóc sức khỏe; việc làm; sống độc lập… Ngoài ra, việc
đánh giá các chế độ, chính sách và chương trình, mô hình trợ giúp NTTCT
tại địa phương cũng như việc triển khai thực hiện tại TTTGXH
&PHCNCNTT Tỉnh Phú Thọ cần phải dựa trên quan điểm quyền con người,
từ việc thực hiện quyền và sử dụng quyền của NTTCT cũng như các yếu tố
nào ảnh hưởng đến việc tiếp cận các quyền của NTTCT tại địa phương.
1.2.3.2 Lý thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow được xem là cha đẻ của lý
thuyết nhu cầu. Theo ông, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của
họ. Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau