Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THÁI ĐÀI

HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG,
TỈNH KHÁNH HÒA

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HÀ THỊ THƯ

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ công tác xã hội với đề tài: “Hỗ trợ việc làm
đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” là
nghiên cứu của tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài luận văn này là
hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Phạm Thái Đài



3.4. Biện pháp nâng cao nhận thức gia đình người khuyết tật, cộng đồng và
doanh nghiệp về vấn đề việc làm của người khuyết tật ................................... 71
3.5. Biện pháp về cơ chế, chính sách thúc đẩy hiệu quả hỗ trợ việc làm đối
với người khuyết tật.......................................................................................... 74
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 78
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH

Công tác xã hội

DVVL

Dịch vụ việc làm

ILO

Tổ chức Lao động Quốc tế

LĐTBXH

Lao động – Thương binh và Xã hội

LHQ

Liên Hợp Quốc




DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ

Trang

Biểu đồ 2.1:

Tình trạng việc làm của người khuyết tật (Tỷ lệ %) ................... 37

Biểu đồ 2.2:

Nguyên nhân người khuyết tật không tìm được việc làm
(Tỷ lệ %) ..................................................................................... 38

Biểu đồ 2.3:

Ý kiến của người khuyết tật về các mức độ cần thiết
của tư vấn việc làm (Tỷ lệ %) .................................................... 40

Biểu đồ 2.4:

Hình thức người khuyết tật được tư vấn việc làm (Tỷ lệ %) ...... 41

Biểu đồ 2.5:

Những thay đổi của người khuyết tật sau khi được tư vấn
việc làm (Tỷ lệ %) ....................................................................... 42


có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số. Trong đó, có khoảng 28,9%
người khuyết tật đặc biệt nặng và nặng, 58% người khuyết tật là nữ, 28,3% người
khuyết tật là trẻ em, 10,2% người khuyết tật là người cao tuổi, 61,5% người khuyết
tật trong độ tuổi lao động và khoảng 10% người khuyết tật thuộc hộ nghèo [2].
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác
người khuyết tật. Hệ thống chính sách, pháp luật về người khuyết tật không ngừng
được hoàn thiện, tạo môi trường pháp lý nhằm bảo vệ, chăm sóc, trợ giúp, hỗ trợ tạo
việc làm để người khuyết tật phát huy khả năng của mình, vượt qua khó khăn, hòa
nhập cuộc sống, vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội.
Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của
người khuyết tật vào tháng 10/2007 và Quốc hội phê chuẩn Công ước vào tháng
11/2014. Việt Nam cam kết tham gia Chiến lược Incheon nhằm hiện thực hóa quyền
cho người khuyết tật giai đoạn 2013-2022 được Liên Chính phủ cùng các tổ chức
người khuyết tật các nước Châu Á – Thái Bình Dương thông qua ngày 01/11/2012
tại Incheon, Hàn Quốc. Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 1717/QĐ-TTg ngày 06/10/2015 về việc thành lập Ủy ban Quốc gia về
người khuyết tật Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện các chính sách và các hoạt động trợ giúp người
khuyết tật thì hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật là một vấn đề khó khăn và bức
xúc nhất của người khuyết tật. Người khuyết tật rất khó tiếp cận việc làm, cơ hội
tìm được việc làm của người khuyết tật rất hạn chế. Việc làm và thu nhập của người
khuyết tật còn nhiều rào cản. Hiện nay, số người khuyết tật có việc làm chỉ chiếm
10-20% trong tổng số người khuyết tật [10], số người khuyết tật còn lại gặp nhiều
khó khăn, hầu hết phải sống dựa vào gia đình. Một bộ phận người khuyết tật tuy có
việc làm, nhưng công việc không ổn định và thu nhập còn rất thấp.

1


Thực tiễn tại thành phố Nha Trang, việc làm của người khuyết tật cũng gặp


giới tính, các đặc điểm riêng của người khuyết tật, nhu cầu, mong muốn và thực
trạng về vấn đề việc làm của người khuyết tật. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh những
khó khăn và thách thức của người khuyết tật tại Ấn Độ về vấn đề việc làm.
Nghiên cứu của Acemoglu và Joshua (2010) lại đề cập đến khía cạnh về các
chương trình bảo vệ và hỗ trợ người khuyết tật trong vấn đề việc làm [36]. Nghiên
cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc làm cũng như phân tích và đánh giá về các
chính sách liên quan đến việc làm của người khuyết tật. Từ đó đã có những đề xuất
và giải pháp định hướng cho việc xây dựng chính sách cho người khuyết tật trong
lĩnh vực này.
Tiếp cận theo hướng vĩ mô, Gladnet (2002) đã phân tích sự tác động của cơ
chế chính sách đối với vấn đề việc làm của người khuyết tật [38]. Tác giả chỉ ra
rằng ngoài những nỗ lực của người khuyết tật và gia đình thì các chính sách hỗ trợ
là cực kỳ quan trọng. Các chính sách ở đây không chỉ tập trung vào việc giúp người
khuyết tật có việc làm mà còn cần phải nâng cao nhận thức, giảm kỳ thị về người
khuyết tật để từ đó tạo ra việc làm hiệu quả và bền vững cho người khuyết tật.
Một cuộc nghiên cứu tổng thể về các vấn đề việc làm của người khuyết tật
trong lĩnh vực hành chính công đã được Hirst (2004) triển khai [37]. Trong nghiên
cứu này tác giả đã thu thập số liệu và tập trung phân tích các vấn đề về việc làm của
người khuyết tật dựa trên những số liệu và thông tin từ rất nhiều các nghiên cứu
khác nhau, ở các lĩnh vực khác nhau.
Tóm lại, nhiều công trình ở nước ngoài đã có nghiên cứu về vấn đề việc làm
của người khuyết tật. Những nghiên cứu này, cho thấy được những khó khăn, thách
thức đối với việc làm của người khuyết tật; những hiệu quả tác động của chính sách,
chương trình hỗ trợ việc làm dành cho người khuyết tật.
2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Hiện nay, tại Việt Nam có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề người khuyết tật
dưới nhiều góc độ khác nhau từ vấn đề sức khỏe, chăm sóc y tế, chính sách pháp
luật đối với người khuyết tật, quyền con người của người khuyết tật đến vấn đề xã
hội như thái độ, hành vi đối với người khuyết tật, hòa nhập cộng đồng của người

vững cho một số nhóm đối tượng yếu thế trên thị trường lao động bao gồm: người
khuyết tật, nông dân nghèo các vùng đặc biệt khó khăn, người dân tộc thiểu số và
4


lao động nữ [5]. Cuốn sách đã nêu một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy nghề tạo
việc làm bền vững cho người khuyết tật mà chủ yếu chỉ là nêu một số giải pháp
chung về dạy nghề cho người khuyết tật.
- Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật tại
Việt Nam của Tổ chức Lao động Quốc tế (2011) [12]. Báo cáo đã cho thấy một
cách nhìn về các tổ chức của người khuyết tật, các tổ chức đại diện cho người
khuyết tật và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho
người khuyết tật. Kết quả phân tích khảo sát của báo cáo cho rằng người khuyết
tật tại Việt Nam rất ít được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm cũng như về
phát triển doanh nghiệp. Theo báo cáo, Chính phủ, nhiều tổ chức phi chính phủ
và chính người khuyết tật đều nhận thấy người khuyết tật cần có các dịch vụ đào
tạo riêng (ít nhất theo học các lớp đào tạo riêng cho người khuyết tật), các dịch
vụ bố trí việc làm riêng và các kế hoạch và hoạt động phát triển kinh doanh riêng
cho người khuyết tật.
- Trong luận văn thạc sĩ công tác xã hội “Hoạt động tạo việc làm cho người
khuyết tật huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình” của tác giả Ngô Thị Bích Phượng (2013)
đã tiến hành khảo sát nghiên cứu tại hai cơ sở tư nhân trên địa bàn xã Yên Thắng và
Khánh Thịnh [17]. Tác giả chỉ ra được những đặc điểm của người khuyết tật như độ
tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng khuyết tật, hoàn cảnh kinh tế gia đình,
là một trong những yếu tố tác động đến quá trình học nghề và tìm kiếm việc làm.
Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến những yếu tố khác có tác động đến việc làm của
người khuyết tật như yếu tố về môi trường, doanh nghiệp, chính sách. Bên cạnh đó
các giải pháp chủ yếu chỉ tập trung cho công tác tuyên truyền, cơ chế của nhà nước.
- Luận văn thạc sĩ công tác xã hội “Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh
niên từ thực tiễn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Đào Thị Tỉnh (2015)

chính sách hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật và từ đó đề xuất cải thiện một số
chính sách phù hợp hơn. Nhóm đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng một số hoạt
động như dạy nghề cho người khuyết tật, tuyển dụng lao động người khuyết tật, từ
đó khuyến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả những hoạt động này. Nghiên cứu các
hoạt động hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật hiện nay, từ tư vấn việc làm, giới

6


thiệu việc làm đến hỗ trợ dạy nghề, hỗ trợ tự tạo việc làm chưa được các đề tài đề
cập đến nhiều.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ
trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh
Hòa. Từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả hỗ trợ việc làm đối với
người khuyết tật tại thành phố Nha Trang.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ
nghiên cứu như sau:
- Làm sáng tỏ các khái niệm về người khuyết tật, về việc làm và hỗ trợ việc
làm đối với người khuyết tật.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật.
- Phân tích đánh giá thực trạng về hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ
thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đề xuất một số biện pháp thúc đẩy hiệu quả hỗ trợ việc làm đối với người
khuyết tật tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Nha Trang,

cận vấn đề của nghiên cứu. Vì thế nó có vai trò quan trọng, quyết định sự thành
công của một nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học nền tảng là
phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử. Mọi hiện tượng,
sự kiện trong báo cáo đều được phân tích, nhìn nhận dưới góc độ lịch sử, đặt trong
mối tương quan, liên hệ chặt chẽ với nhau. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận để lý giải các hiện tượng,
các vấn đề xã hội. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, mỗi kết
cấu vật chất có muôn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật và hiện tượng, quá trình

8


khác của hiện thực, không có một sự vật hiện tượng nào trong thế giới khách quan
tồn tại riêng rẽ, tách rời mà có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau.
Như vậy, khi xem xét vấn đề hỗ trợ việc làm của người khuyết tật cần xem
xét, chú ý đến bối cảnh xã hội, bối cảnh nghề Công tác xã hội tại Việt Nam và nhiều
yếu tố khác mà nó có liên hệ. Mặt khác Chủ nghĩa duy vật biện chứng còn cho rằng
các sự vật hiện tượng quá trình cũng như sự phản ánh của chúng luôn biến đổi phát
triển không ngừng. Vì thế phải đánh giá vấn đề này theo quá trình vận động và phát
triển của nó.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
Là phương pháp thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu
có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước. Phương pháp này được áp dụng phân
tích các tài liệu như:
- Tra cứu các tài liệu về Công ước quốc tế; các chủ trương, chính sách, pháp
luật của Đảng và Nhà nước về người khuyết tật và vấn đề việc làm đối với người
khuyết tật ví dụ như Luật người khuyết tật, Bộ luật lao động, Luật việc làm, Đề án
trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP.

Trong đề tài, phương pháp quan sát được sử dụng để ghi lại những nguyện
vọng, mong muốn, thái độ của bản thân người khuyết tật về vấn đề hỗ trợ việc làm;
quan sát ghi lại những thái độ, hành vi, cách cư xử, trao đổi của nhân viên tư vấn,
giới thiệu việc làm cho người khuyết tật.
5.2.5. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích các số liệu điều tra, số
liệu thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích tại các
cơ sở nghiên cứu và đào tạo về công tác xã hội.
Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ việc làm
đối với người khuyết tật.

10


6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Đối với người khuyết tật: Giúp khắc phục những vấn đề, khó khăn trong việc
hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật từ đó nâng cao số lượng và chất lượng giải
quyết việc làm cho người khuyết tật. Người khuyết tật sẽ ngày càng khẳng định
được vai trò trong xã hội.
- Đối với các cơ quan, trung tâm, tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ việc làm cho
người khuyết tật: Các phát hiện và đề xuất của nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao
chất lượng dịch vụ của các cơ sở từ đó nâng cao hiệu quả hỗ trợ người khuyết tật.
- Đối với các cơ quan quản lý: Giúp các cơ quan quản lý có những chính sách
hoạch định hiệu quả về vấn đề hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật.
- Đối với xã hội: Việc giải quyết vấn đề việc làm cho người khuyết tật sẽ góp
phần giải quyết các vấn đề chung của người khuyết tật, góp phần khẳng định nỗ lực
trong việc thực hiện Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật

khiếm khuyết nào đó.
Người khuyết tật là người không bình thường về sức khỏe do các khuyết tật,
hoặc do bệnh tật làm hủy hoại, rối loạn các chức năng của cơ thể, hoặc do hậu quả
của những chấn thương dẫn đến những khó khăn trong đời sống và cần được xã hội
quan tâm giúp đỡ, bảo vệ. Người khuyết tật là người bị mất toàn phần hay một phần
khả năng, điều kiện để tự phục vụ mình, học tập và tham gia lao động. Những người
bị khiếm khuyết tay hoặc chân, bị liệt toàn thân hay một phần, bị khiếm thị, khiếm
thính, khuyết tật nói hoặc bị rối loạn chức năng cơ thể,... là những người khuyết tật
do sự sai lệch rõ ràng so với thể trạng bình thường của một con người.
Công ước của LHQ về quyền của người khuyết tật (2006) định nghĩa: “Người
khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác
quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có

12


thể cản trợ sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ
sở bình đẳng với những người khác” [31, tr.143].
Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm (của
người khuyết tật): “Theo Công Ước này, từ người khuyết tật dùng để chỉ một cá
nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng
tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm
thần được thừa nhận” [13].
Luật người khuyết tật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2011 đã đưa ra cách giải thích thuật ngữ về người khuyết tật như sau:
“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị
suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt,
h c tập gặp khó khăn [21]. Như vậy, người khuyết tật phải đủ 3 điều kiện là:
(1) Phải có khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức

- Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc,
kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất
thường.
- Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy
biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng,
giải quyết sự việc.
- Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến
cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường
hợp nêu trên.
* Các mức độ khuyết tật [7]
Theo Luật người khuyết tật và Nghị định số 28/2012/NĐ-CP, người khuyết tật
được chia theo 3 mức độ khuyết tật sau đây:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự
thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày. Do khuyết tật dẫn đến
bị mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các
hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu

14


sinh hoạt cá nhân hàng ngày nên cần có người theo dõi, trợ giúp chăm sóc hoàn
toàn. Vì vậy, người khuyết tật đặc biệt nặng cần có nhu cầu trợ giúp rất cao.
- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện
một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày. Do khuyết tật dẫn đến
mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực
hiện một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục
vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày nên cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm
sóc. Vì vậy, người khuyết tật nặng cần có nhu cầu trợ giúp.
- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp ở hai nội
dung trên. Người khuyết tật nhẹ chỉ cần sự trợ giúp nhỏ.

- Người khuyết tật gặp khó khăn trong giao tiếp với môi trường xung quanh.
Họ có đời sống nội tâm rất nhạy cảm và tế nhị, dễ cảm thông với những người đồng
cảnh ngộ và biết ơn khi được quan tâm, giúp đỡ. Vì vậy, người khuyết tật là những
người hoạt động rất tích cực trong nhóm tự giúp nhau, vượt qua khó khăn, chia sẽ
kinh nghiệm trong cuộc sống, việc làm.
- Một số người khuyết tật có ý chí, nghị lực cao, đặc biệt những người khuyết
tật về vận động nhưng trí tuệ phát triển bình thường hoặc thậm chí rất tốt. Họ
thường cố gắng học tập, tìm kiếm việc làm để không phụ thuộc vào người khác. Vì
vậy, với sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng, họ sẽ đạt được nhiều thành công trong
học tập và lao động sản xuất.
- Trong mối quan hệ tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng, họ
thường có cảm xúc buồn, thất vọng, hay tự ái. Do đó, người khuyết tật thường thiếu
những kỹ năng xã hội cần thiết, ít tiếp cận được với các chính sách hỗ trợ, các trung
tâm tư vấn giới thiệu việc làm, các cơ sở dạy nghề hoặc ngân hàng chính sách xã
hội, thiếu thông tin từ các nhà tuyển dụng.
- Nếu sống trong những gia đình khó khăn, người khuyết tật có cảm giác mình
bị bỏ rơi. Đa số người khuyết tật chưa được đi học hoặc học nghề đến nơi, đến chốn
là do tâm lý gia đình ít quan tâm đến nhu cầu đi học, việc làm của người khuyết tật.
* Nhu cầu của người khuyết tật [9]
Nhu cầu là cái gì đó được cho là cần thiết, đặc biệt khi nó được coi là thiết yếu
cho sự sinh tồn của một con người, một tổ chức hay bất kỳ thứ gì khác [29, tr.385].
16


Theo quan điểm của nhà tâm lý học A. Maslow, con người có 5 bậc thang nhu cầu
được xếp theo thứ tự từ nhu cầu vật chất cơ bản cần thiết đến nhu cầu tinh thần nâng
cao như sau:
- Nhu cầu về sinh lý: đây là các nhu cầu cần thiết để con người sống và tồn tại
như ăn, uống, tình dục, không khí sạch,…khi các nhu cầu này được thoả mãn, thì
con người có xu hướng tìm kiếm các đáp ứng nhu cầu cao hơn.

Vận dụng thuyết nhu cầu trong việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật sẽ
giúp nhân viên xã hội nhận thức rằng dù là người khuyết tật nhưng họ cũng có
những nhu cầu cơ bản như những người bình thường khác và một trong những nhu
cầu đó là nhu cầu được hỗ trợ việc làm để ổn định cuộc sống, hòa nhập với cộng
đồng và phát triển trong xã hội. Do đó sau khi hỗ trợ và đảm bảo những nhu cầu ở
bậc thấp thì nhân viên xã hội cũng cần có kế hoạch và chiến lược để hỗ trợ người
khuyết tật. Ngoài ra vận dụng thuyết nhu cầu cũng rất hữu ích với nhân viên xã hội
trong việc biện hộ để giúp người khuyết tật có được việc làm. Cụ thể là không riêng
gì người khuyết tật mà cả những người bình thường như lãnh đạo trong các cơ sở
tuyển dụng cũng sẽ có những nhu cầu này. Vậy vận dụng thuyết này chúng ta sẽ
hiểu lãnh đạo và quản lý các doanh nghiệp cũng sẽ có những nhu cầu như được thể
hiện mình và được xã hội công nhận tôn trọng. Do đó ngoài yếu tố pháp luật, nếu
nhân viên xã hội khéo léo vận dụng việc biện hộ để đáp ứng những nhu cầu này của
các doanh nghiệp thì khả năng người khuyết tật có được việc làm sẽ cao hơn nhiều.
1.2. Lý luận về hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm việc làm
Việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi người vì nhờ nó con
người tạo thu nhập để đảm bảo các nhu cầu vật chất, tinh thần của mìnhvà các thành
viên trong gia đình, đồng thời là điều kiện để con người tham gia vào các hoạt động
xã hội, quan hệ xã hội, qua đó khẳng định vai trò, giá trị xã hội của mình.
Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13, các nhà thống kê về lao động của Tổ chức
Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm như sau: “Người
có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận
hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động
18


mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận tiền
công hay hiện vật [3, tr.47]. Theo pháp luật của Việt Nam quy định tại Khoản 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status