Hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố hà nội - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

HỖ TRỢ HỌC NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN KHẮC BÌNH

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn của mình được thực hiện dựa vào hiểu biết và
quá trình tìm tòi, cố gắng thực hiện của bản thân cùng sự hướng dẫn của
PGS.TS Nguyễn Khắc Bình. Công trình nghiên cứu của tôi không sao chép
của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Và các thông tin
trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tôi xin chịu trách nhiệm
về nghiên cứu của mình.

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Thanh Tâm

NKT

: Người khuyết tật

CTXH : Công tác xã hội
LĐXH : Lao động xã hội
UBND : Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Thông tin chung về NKT
Bảng 2.2. Mức độ truyền tải thông tin về chương trình học nghề đến NKT
Bảng 2.3. Danh mục nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Bảng 2.4. Nhận thức của cán bộ LĐXH về thực hiện chương trình hỗ trợ học
nghề đối với NKT
Bảng 2.5. Đánh giá mức hỗ trợ tài chính khi NKT tham gia học nghề


DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Thông tin về chương trình học nghề đối với NKT
Biểu đồ 2.2. Tư vấn lựa chọn nghề nghiệp đối với NKT
Biểu đồ 2.3. Chính sách hỗ trợ học nghề đối với NKT
Biều đồ 2.4. Các hình thức học nghề đối với NKT
Biểu đổ 2.5. Hình thức sở hữu của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đối với
NKT
Biểu đồ 2.6. Nhu cầu học nghề của NKT
Biểu đổ 2.7. Đánh giá thời gian tổ chức học nghề đối với NKT
Biểu đổ 2.8. Đội ngũ giáo viên dạy nghề với NKT



nước đã ban hành và triển khai thực hiện nhiều chương trình, đề án riêng biệt
cũng như lồng ghép: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2011 2020 (Đề án 1956), Đề án hỗ trợ học nghề cho thanh niên giai đoạn 2008 2015 (Đề án 103), Đề án hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 20102015 (Đề án 295)... Đặc biệt, ngày 05 tháng 8 năm 2012 Thủ tướng Chính

1


phủ ký Quyết định số 1019/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án trợ giúp NKT
giai đoạn 2012 – 2020 và Thông tư liên tịch số 48/TTLT- BTC- BLĐTBXH
ngày 26 tháng 4 năm 2013 Qui định quản lý và sử dụng kinh phí thực hiện Đề
án trợ giúp NKT giai đoạn 2012 -2020 tại Điều 4 khoản 3.2. Dạy nghề, tạo
việc làm đã qui định nâng mức hỗ trợ học nghề đối với NKT từ 3.000.000
đ/người/khóa thành 6.000.000đ/người/khóa và mở rộng các hình thức học
nghề từ học nghề tại trường lớp, trung tâm công lập đến học nghề theo hình
thức truyền nghề, vừa học vừa làm, cầm tay chỉ việc... Ngày 21 tháng 10 năm
2014 Tổng Cục dạy nghề đã ban hành Công văn số 3930/LĐTBXH- TCDN
về việc thực hiện công tác dạy nghề tạo việc làm cho NKT và Công văn số
4830/BTC-HCSN ngày 14 tháng 4 năm 2015 Bộ Tài chính về việc ban hành
định mức chi phí đào tạo nghề đối với NKT gửi UBND và Sở Lao động –
Thương binh và Xã hội tại 63 tỉnh/thành phố. Có thể nói, đây là bước tiến rất
lớn về cơ chế chính sách của Nhà nước đối với hoạt động này đồng thời đang
từng bước nâng cao vị thế của NKT trong xã hội.
Tuy nhiên, số lượng NKT tham gia học nghề còn rất thấp, NKT cũng
như gia đình NKT còn chưa biết/chưa tiếp cận được đến các chính sách hỗ trợ
khi họ tham gia học nghề như kinh phí học nghề, kinh phí đi lại, tư vấn lựa
chọn nghề, kết nối giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp... hoặc học nghề
mang tính chất hình thức, học cho có nên chất lượng không cao, nhiều người
học nghề xong không có việc làm. Vậy cần làm như thế nào để NKT có thể
học nghề, có việc làm và tự tin hòa nhập xã hội? Đây là một câu hỏi lớn, vấn
đề khó và cần phải có sự chung tay góp sức của toàn xã hội để đảm bảo thực
hiện được nhu cầu chính đáng và cũng là một trong những quyền cơ bản nhất

cũng đã đề cập đến vấn đề không chỉ hỗ trợ tài chính cho NKT, người nghèo
mà phải quan tâm đến giải pháp hỗ trợ học nghề cho NKT, người nghèo mới
giải quyết vấn đề này có tính bền vững.

3


Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB) với tên gọi “Đánh giá nghèo
đói và chiến lược” (2010) nghiên cứu này đã đánh giá thực trạng đói nghèo của
Việt Nam, bước đầu đưa ra các giải pháp và các chính sách trực tiếp tác động
tới giảm nghèo ở Việt Nam. Nghiên cứu khẳng định để tiến hành xóa đói giảm
nghèo có hiệu quả không chỉ thực hiện bởi các chính sách thúc đẩy tang trưởng
kinh tế mà phải có các chính sách tác động trực tiếp đến người nghèo trong đó
bao gồm các chính sách về đất đai, cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục. Trong phần
nói về chính sách giáo dục trong xóa đói giảm nghèo, báo cáo đã đề cập đến
một số giải pháp hỗ trợ người nghèo, NKT trong đó giải pháp hỗ trợ học nghề
cho các đối tượng này nhằm xóa đói giảm nghèo bền vững.
Phạm Thái Hưng và các tác giả “Nghèo đói của dân tộc thiểu số ở Việt
Nam thực trạng và thách thức tại các xã đặc biệt khó khăn” đã đề cập đến các
khía cạnh quan trọng về mức sống ở đồng bào dân tộc thiểu số. Nghiên cứu
mô tả một cách toàn diện về tình trạng vấn đề nghèo đói và mức sống của
nhóm dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn, mô tả tập chung ở các khía cạnh
nghèo về thu nhập và các khía cạnh phi kinh tế như tiếp cận giáo dục, dịch vụ
y tế, phát huy tính chủ động. Đồng thời nghiên cứu về các yếu tố quyết định
giữa nhóm đa số và nhóm dân tộc thiểu số khác nhau bằng cách phân tích thu
nhập về các đặc điểm và nguồn lực giữa các nhóm dân tộc. Hai là những khác
biệt về thu nhập từ các đặc điểm và nguồn lực. Ba là tìm hiểu các dân tộc
thiểu số nghèo được hưởng các chính sách và các chương trình hiện tại như
thế nào. Sau cùng là tác giả có những kiến nghị cho các chính sách và chương
trình trong tương lai. Trong nghiên cứu đó, tác giả cũng nêu lên một số giải

thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp hỗ trợ học nghề đối với NKT trên địa bàn thành phố Hà Nội.

5


4.2. Khách thể nghiên cứu
Công tác hỗ trợ học nghề với NKT tại thành phố Hà Nội
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: huyện Gia Lâm – thành phố Hà Nội
Phạm vi thời gian: Từ tháng 1/2016 đến tháng 6/2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp phân tích tài liệu sẵn có
Các văn bản luật, chính sách của Đảng và Nhà nước về hỗ trợ học nghề
đối với NKT.
Nghiên cứu các tài liệu, các báo cáo về tình hình trợ giúp NKT trong
những năm qua, đặc biệt là trợ giúp NKT trong lĩnh vực học nghề.
Song song với đó, kết hợp với các nguồn thông tin thu thập được từ sách,
báo, internet...
5.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Là phương pháp được thực hiện với nhiều người theo một bảng hỏi in
sẵn với 2 dạng câu hỏi chính là: câu hỏi đóng và câu hỏi mở. Người được hỏi
trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ô tương ứng hoặc trả lời
câu hỏi theo một quy ước mặc định sẵn.
5.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà
nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh
nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ

Chương 1: Lý luận về hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật.
Chương 2: Thực trạng hỗ trợ học nghề đối với người khuyết tật tại
huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Chương 3. Một số biện pháp hỗ trợ học nghề đối với NKT tại thành phố
Hà Nội.

7


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ HỌC NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1. 1. Một số khái niệm
1.1.1. Người khuyết tật
Có nhiều khái niệm khác nhau về NKT tùy theo từng giai đoạn, từng
thời kỳ và tùy từng cách tiếp cận.
* Trên thế giới
Cơ sở pháp lý để công nhận ai là NKT và từ đó đượcbảo vệ bởi hệ thống
pháp luật liên quan, phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật hoặc chính sách
cụ thể theo đuổi. Do vậy, không có một khái niệm chung về NKT áp dụng
chung cho tất cả các nước trên thế giới.
Những định nghĩa khác nhau về NKT theo quy định pháp luật của các
nước trên thế giới, có thể kể đến như sau:
(1) Định nghĩa theo quan điểm y tế thường tập trung vào sự khiếm
khuyết về thể trạng, tinh thần, thính giác, thị giác và sức khỏe tâm thần…Có
một số định nghĩa theo quan niệm này như sau:
- Trung Quốc: Luật của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về bảo vệ
NKT ban hành năm 1990, Điều 2 quy định: “NKT là một trong những người
bị bất thường, mất mát của một cơ quan nhất định hoặc chức năng, tâm lý
hay sinh lý, hoặc trong cấu trúc giải phẫu và những người đã mất toàn bộ
hoặc một phần khả năng tham gia vào các hoạt động một cách bình thường.

- Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm
của NKT (1983), khoản 1, Điều 1 quy định: “NKT dùng để chỉ một cá nhân
mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng
tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất
và tâm thần được thừa nhận”.
- Công ước về Quyền của NKT của Liên hiệp quốc (2006), Điều 1 quy

9


định: “NKT bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ
hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt
những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của NKT vào xã
hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”.
- Ở Đức, sách số 9 của Bộ Luật xã hội định nghĩa: “NKT là người có các
chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với
người có cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường
này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã
hội”.
- Luật bình đẳng về việc làm của Nam Phi định nghĩa NKT là “người bị
suy giảm khả năng về thể lực hoặc trí lực trong một thời gian dài hoặc tiếp
diễn nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc
phát triển nghề nghiệp”.
- Đạo luật về NKT của Hoa Kỳ (1990) (ADA - Americans with
Disabilities Act of 1990) định nghĩa “NKT là người có sự suy yếu về thể chất
hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan
trọng trong cuộc sống”. Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao
gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh
thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động
kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây

một việc làm có tính ổn định, đem lại thu nhập để duy trì và phát triển cuộc
sống cho mỗi người[28].
Điều 3 Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014) không qui định cụ thể về học
nghề, tuy nhiên có thể hiểu đây là hoạt động nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng
và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm
hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ
nghề nghiệp.
Hỗ trợ học nghề đối với NKT có thể hiểu là trang bị cho NKT những

11


kiến thức chuyên môn, những kỹ năng cơ bản để có thể tự tạo việc làm hoặc
xin việc làm phù hợp với năng lực và trình độ của mình. Bên cạnh đó, khơi
gợi và khuyến khích tinh thần lao động bền bỉ, kiên trì và sáng tạo, khả năng
làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, có ý thức kỷ luật và trách nhiệm của họ
đối với công việc đang làm.
Dưới góc độ CTXH hỗ trợ học nghề đối với NKT chính sự hỗ trợ về các
mặt:
- Tiếp cận các thông tin, các chính sách về hỗ trợ học nghề đối với NKT.
- Tiếp cận các hình thức dạy nghề đối với NKT, hình thức nào là phù
hợp, hình thức nào cần sửa đổi.
- Cở sở giáo dục nghề nghiệp, đội ngũ giáo viên, cán bộ làm công tác hỗ
trợ học nghề đối với NKT.
- Tiếp cận nguồn kinh phí hỗ trợ NKT học nghề: kinh phí của các cấp,
các ngành, kinh phí của các tổ chức quốc tế, kinh phí hỗ trợ từ các doanh
nghiệp.
1.2. Đặc điểm và quan điểm hỗ trợ người khuyết tật
NKT trước hết là “con người” nên họ mang những đặc điểm chung về
mặt kinh tế - xã hội, tâm sinh lý như mọi người khác trong xã hội. Tuy nhiên,

biệt đối xử: Điều này diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều bối cảnh, nhiều
lĩnh vực khác nhau: gia đình, cộng đồng, trường học, bệnh viện, nơi làm việc
và các tổ chức ở địa phương,thậm chí sự kì thị từ chính NKT (hầu hết NKT
cho rằng mình kém cỏi hơn, mặc cảm, thấy khó hòa nhập cộng đồng). Do đó,
nhiều cư dân coi NKT là “đáng thương”, không có cuộc sống “bình thường”,
là “gánh nặng” của xã hội…Về nhận thức pháp luật, nhiều người không hề
biết đến quy định của pháp luật về NKT nên họ không quan tâm và vẫn nhìn
NKT với “ánh mắt thương hại”.
Hoạt động hỗ trợ cho NKT còn rất hạn chế, thực tế cho thấy có sự khác
biệt lớn giữa nhu cầu của NKT và những giúp đỡ mà họ nhận được.Sự hỗ trợ
13


của nhà nước và cộng đồng mang tính từ thiện nhiều hơn là phát triển con
người. Hầu hết NKT được hỗ trợ như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, lương
thực… nhưng lại ít được trợ giúp trong việc làm, dạy nghề và tham gia hoạt
động xã hội.
1.2.2. Đặc điểm và quan điểm hỗ trợ người khuyết tật dưới góc độ
dạng tật, mức độ khuyết tật
Khuyết tật được phân loại dựa theo các quan điểm khác nhau của các
nhà nghiên cứu nhưng nói chung thường dựa trên tiêu chí của sự khiếm
khuyết bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng.
Ở Việt Nam, việc phân loại NKT dựa trên quy định về dạng tật và mức
độ khuyết tật[10] theo đó các dạng tật bao gồm: Khuyết tật vận động; khuyết
tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ;
khuyết tật khác. Mỗi loại khuyết tật này có những đặc điểm nhất định về tâm,
sinh lý qua đó tác động đến các nhu cầu và sự hòa nhập của NKT.
- Khuyết tật vận động: Là những người có cơ quan vận động bị tổn
thương, biểu hiện dễ nhận thấy là có khó khăn trong ngồi, nằm, di chuyển,
cầm, nắm…Do đó, NKT vận động gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá

Ngôn ngữ, tư duy, hành vi, cách ứng xử của những người này cũng giống
người bình thường. Tuy nhiên, cũng có những tồn tại nhất định như ngôn ngữ
thiếu hình ảnh, không thể viết và đọc bằng chữ phẳng. Ít di chuyển nên thể
lực giảm sút, cơ bắp thiếu linh hoạt nên dễ tự ty và thiếu niềm tin ở bản thân.
Môi trường cần thiết với họ là tránh tiếng ồn, đảm bảo đủ ánh sáng, dùng
những màu tương phản, hợp lý trong sinh hoạt và các hoạt động khác, cung
cấp thiết bị phóng đại hình ảnh, công cụ di chuyển hỗ trợ thông minh, lối đi
thuận tiện và dễ nhận biết…
- Khuyết tật trí tuệ: Xét về mức độ, đây là nhóm khuyết tật thường chịu
nhiều sự thiệt thòi và khó khăn nhất trong cuộc sống. Khuyết tật về trí tuệ

15


được xác định khi: (i) chức năng trí tuệ dưới mức trung bình (chỉ số thông
minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá
nhân); (ii) bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất là hai trong số những hành
vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng xã hội/cá
nhân, sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng học
đường, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn; (iii) tật xuất hiện trước 18 tuổi.
NKT về trí tuệ có nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường
của họ và người thân cả về trí tuệ (phần lớn chỉ dùng ở mức độ tư duy trực
quan cụ thể, mức độ, nhịp độ tư duy của các thành phần không giống
nhau); về trí nhớ (gặp khó khăn về trí nhớ cả ngắn hạn và dài hạn, khó khăn
trong việcnhớ những gì mang tính trìu tượng hay có quan hệ logic, dễ quên
những gì gần gũi với cuộc sống và không gắn với nhu cầu bản thân); về chú
ý (phần đông NKT có khó khăn khi phải tập trung và duy trì sự chú ý vào một
công việc nào đó, đặc biệt là chú ý đến lời nói. Do duy trì chú ý kém nên việc
tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin của NKT thường gặp khó khăn); về kỹ
năng giao tiếp xã hội (đa phần NKT trí tuệ yếu kém về các kỹ năng xã hội, rất

không? Là một nhân viên CTXH cần phân tích cho NKT thấy những khó
khăn, thuận lợi, những điểm mạnh và điểm yếu của họ trước khi họ đưa ra các
quyết định của mình.
Khi thực hiện nguyên tắc này, nếu thấy quyết định của thân chủ có thể
gây tổn hại nghiêm trọng cho thân chủ hoặc cho người khác, hoặc thân chủ
không có khả năng thực hiện được cần xem xét và bàn bạc lại[19].
1.3.3. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của người khuyết tật
Tôn trọng quyết định của NKT cũng chính là tôn trọng NKT, không áp
đặt ý kiến cá nhân trong việc lựa chọn giải pháp giải quyết vấn đề thay cho

17


NKT. Trong hoạt động hỗ trợ học nghề, nếu NKT lựa chọn học nghề may
mặc để theo học thì nên tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trường lớp, giáo viên,
nguyên vật liệu...để NKT có thể hoàn thành được việc học của mình.
Bên cạnh đó, việc họ tự đưa ra quyết định của mình sẽ giúp họ có trách
nhiệm hơn với lựa chọn ấy và không lệ thuộc vào nhân viên CTXH[19].
1.4. Lý thuyết áp dụng
1.4.1. Thuyết về quyền con người
Tiếp cận dựa trên quyền là cách tiếp cận mang tính nhân văn, nó không
dừng lại ở các nhu cầu của con người mà còn khẳng định đó là quyền và
nghĩa vụ.
Tiếp cận dựa trên quyền luôn coi con người là trung tâm, luôn nhìn nhận
họ là những người có năng lực, song chưa được phát huy và chưa được sự hỗ
trợ của nguồn lực cộng đồng. Đồng thời, cách tiếp cận này sẽ lôi kéo sự quan
tâm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống vật chất, đời sống tinh thần
với những đối tượng yếu thế giúp họ tự tin khẳng định mình. Từ đó nhân viên
CTXH sẽ nhìn nhận, khai thác những điểm mạnh và cùng họ đấu tranh để
giành lại cho họ những quyền mà họ được hưởng dù họ là ai, đang ở trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status