VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
k HỌC XÃ HỘI
HỌC VIỆN KHOA
NGUYỄN THỊ HẬU PHƯỢNG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa
Hà Nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào, các thông tin trích
dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ HẬU PHƯỢNG
MỤC LỤC
3.2. Một số giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về người khuyết tật .................61
KẾT LUẬN .................................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN
: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CRPD
: Công ước quốc tế về các quyền của người khuyết tật
ESCAP
: Ủy ban Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc Khu vực châu Á- Thái Bình
Dương
HRBA
: Cách tiếp cận dựa trên quyền con người (a human rights based
approach)
ICCPR
: Công ước quyền dân sự và chính trị
ICESCR
Bảng 2.2. Các dạng khuyết tật .............................................................................. 42
Bảng 2.3. Mức độ khuyết tật................................................................................. 42
Bảng 2.4. NKT còn khả năng lao động ................................................................ 48
Bảng 2.5. Trình độ học vấn của NKT................................................................... 50
Bảng 2.6. NKT được cấp thẻ bảo hiểm ................................................................ 52
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia thành viên tích cực của các công ước quốc tế về
quyền con người, bao gồm hai Công ước quan trọng được Liên hợp quốc (LHQ)
thông qua vào năm 1966 và Việt Nam phê chuẩn năm 1982, đó là: Công ước quốc
tế về quyền dân sự, chính trị (ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa (ICESCR), đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về quyền của người
khuyết tật (năm 2007). Nhà nước Việt Nam luôn chăm lo, quan tâm đặc biệt đến
quyền của các nhóm DBTT, trong đó có NKT, thông qua việc ghi nhận, tôn trọng
và thực hiện tận tâm, hiệu quả và có trách nhiệm đối với các nghĩa vụ quốc tế và
các quy định về quyền con người. Sự thay đổi nhận thức từ NKT chỉ được coi là
những đối tượng chính sách, những người bệnh, hay nhóm xã hội, sang là chủ thể
thụ hưởng đầy đủ của các quyền con người, trong hệ thống luật, chính sách và thực
tiễn, đã và đang mang lại những chuyển biến lớn trong luật pháp quốc gia và quốc
tế và việc tôn trọng, bảo đảm và thực hiện các quyền con người của NKT.
Ở Việt Nam, người khuyết tật là một trong những nhóm đối tượng xã hội
được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm trong quá trình phát triển. Hỗ trợ người
khuyết tật khắc phục khó khăn, hòa nhập xã hội, góp phần vào công cuộc xây dựng
đất nước là trách nhiệm pháp lý của nhà nước, xã hội. Tinh thần đó thể hiện trong
Nghị quyết Đại hội Đảng; Sác lệnh; Nghị định; Hiến pháp các năm 1946,
1959,1980,1992, Hiến pháp 1992(sửa đổi 2001), Luật Người khuyết tật năm 2010...
Sự hiện diện của vấn đề người khuyết tật trong nội dung các Hiến pháp Việt Nam
đã cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này đối với xã hội Việt Nam. Hiến pháp đã
tiễn đời sống và các chính sách cho người khuyết tật được thực hiện hiệu quả giúp
cho người khuyết tật có được điều kiện tốt nhất để thể hòa nhập với cộng đồng.
Tuy nhiên việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật trên Thành phố Hà Nội còn
nhiều khó khăn nhất là trong vấn đề huy động các nguồn lực từ xã hội trợ giúp họ
hoà nhập cộng đồng cũng như phát huy tiềm năng của chính người khuyết tật đo là
những khó khăn về: Nhận thức của xã hội về vấn đề người khuyết tật còn hạn chế;
Sự thiếu đồng bộ trong hệ thống chính sách khiến nhiều người khuyết tật gặp trở
ngại hoà nhập; các cơ chế để thực hiện pháp luật còn nhiều bất cập chưa có sự đồng
bộ và thiếu hiệu quả cao; huy động sự ủng hộ từ bản thân nội lực các cơ quan tổ
chức trong nước chưa nhiều; chưa biết sử dụng có hiệu quả nguồn ủng hộ từ các tổ
2
chức quốc tế mà nguyên nhân chính là do năng lực quản lý; điều kiện giao thông
chưa tiếp cận; các chính sách an sinh xã hội như giáo dục, y tế, việc làm còn chưa
đi vào chiều sâu và hiệu quả; bản thân nhiều người khuyết tật còn chưa khẳng định
được tiếng nói của chính mình trong xã hội do mặc cảm, tự ti…
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu: “Thực hiện pháp luật về người khuyết
tật từ thực tiễn Thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ của mình góp phần làm
rõ cả về lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp đảm bảo
việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật tại Thành phố Hà Nội nói riêng và cả
nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật diễn ra ở rất nhiều lĩnh vực liên
quan tới nhiều Bộ, ngành, các cấp chính quyền vì vậy có rất nhiều những nghiên
cứu, đánh giá trong quá trình tổ chức và hoạt động thực hiện pháp luật về người
khuyết tật.
Quyền con người của các nhóm dễ bị tổn thương nói chung và quyền của
người khuyết tật nói riêng luôn là một đề tài được nghiên cứu, tiếp cận và phân tích
gia Hồ Chí Minh). Tác giả đã phân tích và làm rõ khái niệm, bản chất và nội dung
cơ bản của quyền NKT và hệ thống pháp luật về NKT ở Việt Nam hiện nay.
- Các công trình nghiên cứu khác có liên quan từ góc độ phân tích thành tựu
và thực trạng của hệ thống pháp luật về NKT, bao gồm: Phạm Thị Trang (2016),
“Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật – từ thực tiễn tại Thành phố
Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ (Đại học Quốc gia Hà Nội); Hồ Thị Trâm (2013),
“Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật”, Luận văn Thạc sĩ (Trường Đại học
Luật Hà Nội); và Trần Thị Thúy (2012), “Chế độ giáo dục đối với người khuyết tật
ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ (Trường Đại học Luật Hà Nội), …đã tiếp cận từ
nhiều góc độ và lĩnh vực khác nhau liên quan đến NKT ở Việt Nam hiện nay.
- An sinh xã hội đối với lao động là người khuyết tật “Dự án” nâng cao năng
lực của các cơ quan và tổ chức chính quyền Việt Nam trong việc triển khai Nghị
quyết 15/NQTW về một số chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020;
Một số công trình nghiên cứu khác có liên quan tiếp cận NKT từ thực tiễn bảo đảm,
chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về
NKT. Cụ thể: “Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Luật người khuyết tật và Đề án
trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012- 2020 trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Sở
Thương binh lao động và xã hội thành phố Hà Nội; “Kế hoạch Thực hiện trợ giúp
4
người khuyết tật thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2020”, Sở Thương binh lao
động và xã hội thành phố Hà Nội; Tạo việc làm cho Người khuyết tật-kinh nghiệm
từ một dự án quốc tế;Thái Ninh Thắng , “Sự cần thiết đưa chuyên đề của Người
khuyết tật ở Việt Nam vào giảng dạy trong chương trình các chuyên đề tự chọn
thuộc môn Luật Hiến pháp”, bài trích số 5 tạp chí Luật học, 2008;- Th.S Đỗ Thị
Dung, “ Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật và phương hướng hoàn thiện”,
Tạp chí Luật học số 10/2013; và Th.S Đinh Thị Cẩm Hà, “Hoàn thiện các quy định
của Hiến pháp bảo đảm quyền của người khuyết tật”, Tạp chí Nghiên cứu Lập
pháp số 9(217) 5/2012.
ICCPR). Đã có hàng chục ngàn các công trình nghiên cứu về người khuyết tật,
quyền của người khuyết tật và việc thực thi pháp luật quốc tế, khu vực và quốc gia
về NKT. Điển hình là công trình nghiên cứu “the UN Convention on the Rights of
Persons with Disabilities: European and Scanadivian Perspectives” do tác giả
Gerard Quinn (chủ biên, 2009) đã cung cấp cách tiếp cận của các quốc gia phát
triển ở châu Âu và Bắc Âu về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính
sách và thực tiễn bảo đảm các quyền của NKT..:
Tác phẩm, “The development of disability rights under international law:
from charity to human rights”, của tác giả Arlene S. Kanter, Abingdon, Rougtlege
Publishers, 2015, đã phân tích và làm rõ những khía cạnh luật pháp quốc tế, nhất là
luật nhân quyền quốc tế, quy định về NKT và quyền của NKT.
Giáo trình nhân quyền quốc tế (Textbook on international human rights),
Rohna K.M. Smith, Nxb Đại học Oxford, phân tích và làm rõ nội hàm, khái niệm
và đặc trưng của các quyền của DBTT trong đó có NKT,…
Công trình nghiên cứu “ASEAN and the convention on the rights of persons
with disabilities: using international law to promote social and economic
development” của tác giả Carole J. Petersen đã phân tích những quy định của luật
quốc tế cũng như các cơ chế, thiết chế của ASEAN trong việc bảo đảm quyền của
những người khuyết tật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu về cơ sở lý luận chung về nhà nước cũng như pháp luật
người khuyết tật dựa trên những hiểu biết và thực trạng của việc thi hành pháp luật
người khuyết tật ở nước ta hiện nay cũng như trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Từ
đó đưa ra những cái nhìn khái quát từ những hạn chế trên cơ sở đó đưa ra những cơ
sở pháp lí cũng như những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống cơ sở pháp luật
6
về người khuyết tật và nâng cao hiệu quả của việc thực thi pháp luật về người
khuyết tật. Từ đó góp phần bảo đảm cho quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật
Tuy nhiên trong luận văn sẽ chú trọng đánh giá về Hiến pháp, các Bộ luật và các
luật chuyên ngành quy định về người khuyết tật (như: Bộ Luật lao động, Bộ Luật
Dân sự, Bộ Luật Hình sự, Luật Giáo dục, Luật Bình đẳng giới, Luật Bảo vệ và
chăm sóc, giáo dục trẻ em, Luật công nghệ thông tin...). Đồng thời, luận văn chỉ tập
trung nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về NKT trên một số lĩnh vực chủ yếu,
bao gồm: lao động-việc làm, giáo dục, sức khỏe và văn hóa-xã hội (hay việc thực
hiện pháp luật về một số quyền cụ thể của NKT, đó là quyền có việc làm, quyền
được giáo dục, quyền về sức khỏe…).
Giới hạn về thời gian nghiên cứu: Luận văn tập trung phân tích và làm rõ việc
thực hiện pháp luật về người khuyết tật bắt đầu từ năm 2010 cho tới nay (kể từ khi
có luật người khuyết tật 2010).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước Việt Nam về
người khuyết tật cũng như các bộ luật khác được sử dụng cho việc nghiên cứu.
5.2. Phương pháp và cách tiếp cận
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể đó là là: phương pháp
tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo cứu tài liệu, thống kê, luận văn cũng sử dụng các
cách tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học và cách tiếp cận dựa trên quyền con
người,…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn hệ thống hóa các cơ sở lý luận về người khuyết tật, pháp luật về
người khuyết tật. Qua đó nhận biết chung nhất về chủ trương chính sách của nhà
nước trong việc bảo đảm quyền của người khuyết tật thông qua pháp luật. So sánh
pháp luật về người khuyết tật của Việt Nam với các nước khác trên thế giới.
Đánh giá được thực trạng của hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết
tật từ đó nhận thức được những hạn chế và nguyên nhân của nó.
Theo cách phân chia của WHO năm 1978, thì NKT được chia thành 7 nhóm
dạng NKT đó là khuyết tật: về vận động, khiếm thị, khiếm thính, chậm phát triển
tính thần/ trí tuệ, tâm thần, động kinh, mất cảm giác[5]. Tồn tại các quan niệm khác
nhau ở các quốc gia trên thế giới xung quanh thuật ngữ “khuyết tật”, “giảm khả
năng”, “tàn tật” hay “mất khả năng” và “tàn phế” [35]. Tuy nhiên tựu chung lại,
thuật ngữ NKT được tiếp cận và định nghĩa trong các văn kiện của LHQ như sau:
Thứ nhất, tại Tuyên ngôn của LHQ về quyền của NKT,“người khuyết tật” là
“bất cứ người nào mà không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay
từng phần, những sự cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã
hội do dự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh trong những khả năng về thể chất
hay tâm thần của họ”[33].
Thứ hai, Công ước quốc tế về các quyền của người khuyết tật (CRPD) được
Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 13-12-2006 đã nhận định: “khuyết tật là một
khái niệm mới và rằng khuyết tật là kết quả của sự tương tác giữa những người có
khiếm khuyết và những rào cản về thái độ và môi trường mà ở đó hạn chế sự tham
gia một cách đầy đủ, và có hiệu quả vào các hoạt động trên cơ sở bình đẳng với
các thành viên khác trong xã hội,” khái niệm này được đưa ra trên cơ sở tiếp cận
NKT một cách toàn diện dưới góc độ quyền con người từ việc nhận này cho rằng
cần những khiếm khuyết tạo ra những rào cản, hạn chế khả năng tham gia đầy đủ
10
và hiệu quả vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [12] của “những
người khuyết tật”. Hơn vậy, Công ước khẳng định: “Tôn trọng sự khác biệt và
chấp nhận người khuyết tật như là một bộ phận và sự đa dạng của con người và
của nhân loại”(Điều 3)[12] và nhấn mạnh muốn phát triển bền vững nhân loại thì
các vấn đề liên quan tới NKT là một phần quan trọng của chiến lược phát triển.
Như vậy, đã có những thay đổi sâu sắc về NKT trong Công ước bởi tình trạng ảnh
hưởng của khuyết tật không tập trung vào nguyên nhân mà là trách nhiệm của tất cả
mọi người, khuyết tật là một vấn đề của xã hội vì vậy xã hội phải có trách nhiệm
nhiều lần, khiến người đó bị hạn chế đáng kể về khả năng tham gia hoặc phát
triển sự nghiệp.”
Có thể thấy rằng, mỗi quốc gia đều có cách quan niệm, quy định khác nhau
tuy nhiên đều có điểm chung đó là đều dựa trên sự suy giảm chức năng làm căn cứ
định nghĩa NKT.
1.1.1.2. Các cách tiếp cận khái niệm người khuyết tật
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm NKT nhưng có thể thấy nó
được nhìn nhận thông qua các quan điểm và cách tiếp cận chính đó là:
Thứ nhất, cách tiếp cận từ góc độ từ thiện: NKT là nạn nhân của những khiếm
khuyết của họ vì vậy họ bị hạn chế trong việc thực hiện những công việc sinh hoạt
cá nhân đó là họ không thể đi lại, ăn uống, nhìn, học tập, làm việc,… Họ dễ trở nên
tự ti và luôn bị coi là gánh nặng của gia đình và xã hội. Việc tiếp cận NKT theo
cách này diễn ra trong một thời gian dài, NKT lúc đó được coi là một góc của xã
hội, liên quan tới những tổ chức đặc biệt nào đó liên quan tới NKT. Cách nhìn nhận
của xã hội đối với NKT chỉ là những người đáng thương, những bi kịch đau khổ mà
họ phải chịu đựng chứ họ chưa được nhìn nhận thấy giá trị của con người họ làm
cho họ mặc cảm về bản thân và xa kánh xã hội hơn.
Thứ hai, cách nhìn nhận dưới góc độ sinh học, y tế hay mô hình cá nhân cho
rằng NKT là do hạn chế của cá nhân của chính con người đó. Theo cách tiếp cận
này NKT trước hết là những người có khiếm khuyết về thể chất cần được chữa trị,
có chế dộ chăm sóc y tế đặc biệt, NKT được nhìn nhận là những người bệnh, hay
bệnh nhân (patient). Họ chịu sự phân biệt về chế độ đãi ngộ, cư xử, về môi trường
hay là về những thể chế của nhà nước đối với NKT và những người không khuyết
tật khác nhau. Điều này dẫn tới trong thực tế khi họ muốn hòa nhập vào xã hội, họ
lại phải đối mặt với những hình thức phân biệt đối xử khác và họ lại rơi vào vai trò
là thụ động.
12
13
Những cách tiếp cận trên phản ánh quan niệm của xã hội về khuyết tật. Mỗi
cách tiếp cận ảnh hưởng tới suy nghĩ và tương tác với NKT và phải phù hợp với
tình hình phát triển của mỗi quốc gia.Tuy nhiên, trên thực tế, các phong trào khuyết
tật hiện nay trên thế giới đề hướng tới vận động xã hội và Chính phủ áp dụng cách
tiếp cận dưới góc độ quyền con người.
1.1.1.3. Quan niệm về người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay
Sự thay đổi trong hiểu biết về khuyết tật cũng như NKT giúp cho quan niệm
về người khuyết tật ngày càng được hoàn thiện hơn nữa. Ở Việt Nam trước khi có
Luật người khuyết tật năm 2010 chính thức ra đời thì hầu hết trong tất cả các văn
kiện của Đảng, các văn bản pháp luật và Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 đều
sử dụng thuật ngữ “Người tàn tật”.
Thuật ngữ “tàn tật” theo Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa là “tình thế bất lợi
xuất phát từ sự khiếm khuyết hoặc khuyết tật hạn chế thực hiện một vai trò được
coi là bình thường đối với tuổi tác, giới tính và các yếu tố xã hội” còn “khuyết tật”
thì được hiểu là “bất kỳ giới hạn hoặc mất chức năng bắt nguồn từ sự khiếm khuyết
làm ngăn cản việc thực hiện một hoạt động trong khoảng thời gian được coi là bình
thường đối với một con người”. Việc thay đổi việc dùng từ “tàn tật” hay “khuyết
tật” Việt Nam đã tổ chức Hội thảo về “Khái niệm và từ ngữ về người tàn tật” do
Văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật thuộc Bộ lao động-Thương
binh và Xã hội chủ trì ngày 14-7-2006[45]. Sau đó đã đi tới thống nhất việc dùng từ
“khuyết tật” điều này nó thể hiện tính nhân văn cao hơn, không mang tính kì thị,
bắt kịp với xu hướng của xã hội . Hội thảo thống nhất quan điểm là họ mong muốn
mọi người gọi họ là người “khuyết tật” thay cho “tàn tật” để mang tính nhân văn,
tính xã hội nhiều hơn và đáp ứng được nguyện vọng của cộng đồng NKT.
Theo Luật người khuyết tật Việt Nam: “Người khuyết tật là người bị khiếm
khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện
phận kém may nắm chỉ biết sống dựa vào gia đình và sự trợ giúp của Nhà nước.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm tổng thể về NKT như sau:
“Người khuyết tật là những người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể
hoặc có những rối loạn về sinh lý, tâm lý hay một chức năng nào đó của con người,
không phân biệt nguồn gốc gây ra, dấn đến hạn chế một phần hoặc mất khả năng lao
động và gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, học tập và hòa nhập cộng đồng”.
15
1.1.2. Đặc điểm của người khuyết tật
1.1.2.1. Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ sinh học
NKT là những người bị khiếm khuyết một hay toàn bộ cơ thể, hoặc có sự rối
loạn về tâm sinh lý hay một chức năng nào đó của con người. Đó là nguyên nhân
dẫn tới việc NKT bị hạn chế về sức khỏe, việc vận động, giao tiếp hay tự mình có
khả năng thực hiện các công việc cá nhân hàng ngày, tiếp cận giáo dục, y tế, các
dịch vụ an sinh xã hội. NKT thường sống dựa vào gia đình, cộng đồng vì vậy bản
thân họ hay những người khác luôn bi coi là gánh nặng. NKT mang trong mình
những khiếm khuyết tuy nhiên lại không có khả năng tự bảo vệ bản thân vì vậy họ
rất cần tới sự quan tâm chăm sóc, sự hỗ trợ của y tế giúp cho bệnh tật của họ được
phục hồi và thuyên giảm để họ có thể tồn tại và hòa nhập với cộng đồng .
1.1.2.2. Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế - xã hội
Có thể nói NKT là nhóm cư dân đặc biệt thiệt thòi về mặt kinh tế và xã hội.
Những gia đình có NKT thường phải đối mặt với việc thiếu nhân lực lao động
trong khi đó lại phải giúp đỡ NKT trong mọi sinh hoạt đời thường. Hơn thế nữa
NKT đa phần có học vấn thấp, chất lượng lao động kém, không đảm bảo được điều
kiện sức khỏe vì vậy việc tìm việc làm đối với họ là rất khó khăn, hầu hết NKT đều
đối diện với tình trạng thất nghiệp trong đó khuyết tật chính là nguyên nhân dẫn tới
tình trạng đó. Bên cạnh đó, NKT còn phải đối diện với sự kì thị của xã hội. Do
nhận thức của xã hội không đúng về NKT từ đó dẫn tới việc họ bị phân biệt đối xử
giám hộ của họ. Hay khi họ được hưởng thụ các quyền cơ bản thì việc tự khả năng
NKT thụ hưởng gặp nhiều khó khăn hơn nên cần được Nhà nước quan tâm đặc biệt
và tạo cơ tốt hội hơn trong việc để thụ hưởng được các quyền của mình.
Tuy nhiên bên cạnh những quyền cơ bản đó, do những điểm khác biệt về cơ
thể và thể chất nên NKT có những quyền đặc thù đặc trưng riêng đó là: Quyền
được hòa nhập và hỗ trợ để hòa nhập vào cộng đồng; Quyền được hỗ trợ trong việc
đi lại; Quyền được hỗ trợ để phục hồi chức năng.
1.2. Pháp luật quốc tế về người khuyết tật
1.2.1. Pháp luật quốc tế về người khuyết tật
1.2.1.1. Các điều ước quốc tế về quyền con người
Trước hết khi nghiên cứu về NKT ta cần có cái nhìn tổng quan về quyền con
người vì xét cho cùng NKT trước hết là một con người, họ mang những quyền cơ
bản nhất của con người. Có những khái niệm khác nhau liên quan tới định nghĩa về
quyền con người tuy nhiên tựu chung lại có thể hiểu quyền con người là quyền của
17
tất cả mọi người, là những đòi hỏi xuất phát từ nhân phẩm được chế định trong
pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Quyền con người là giá trị chung của nhân loại, thành quả của cuộc đấu tranh
của con người qua hàng nghìn năm lịch sử cho tới hiện tại, việc bảo đảm thúc đẩy
quyền con người đã trở thành mục tiêu phấn đấu chung của cộng đồng quốc tế và
được thể hiện trong chính sách pháp luật của các quốc gia trên thế giới.
Khi hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hợp tác quốc tế giữa các nước trên
thế giới ngày càng được mở rộng và thắt chặt hơn nữa. Pháp luật quốc tế rất quan
tâm tới vấn đề quyền con người và được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế:
Thứ nhất, ngay ở lời mở đầu Hiến chương đã khẳng định: “Tuyên bố một lần
nữa lòng tin tưởng ở những quyền cơ bản của con người, ở phẩm giá và giá trị của
con người, ở quyền bình đẳng nam, nữ và ở quyền bình đẳng giữa các nước lớn và
con người năm 1950, Công ước Châu Mỹ về quyền con người năm 1969; Hiến
chương Châu Phi về quyền con người và của các dân tộc năm 1981. Hiến chương
ASEAN…
1.2.1.2. Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật
Ngay từ những văn bản pháp lý đầu tiên của Liên hợp quốc (UN) đã đề cập tới
sự cần thiết của việc tôn trọng và thực hiện các quyền và tự do cơ bản của tất cả
mọi người không phân biệt thành phần, tôn giáo, giới tính,…Tuy nhiên những vấn
đề về NKT mới chỉ bắt đầu bằng việc thúc đẩy quyền của họ trong phương pháp
tiếp cận an sinh xã hội (vào những năm 1940, 1950) và những bản công ước sau đó
chưa có điều cụ thể nào về NKT. Bản Tuyên bố của Liên hợp quốc về Quyền
Người chậm phát triển và Tuyên bố về Quyền của Người khuyết tật được thông qua
năm 1970 được coi là văn kiện đầu tiên của quốc tế quy định về các nguyên tắc
nhân quyền liên quan tới NKT. Từ đó những bản công ước và văn kiện pháp lý sau
vấn đề nhân quyền của NKT được để và hoàn thiện hơn nữa. Ngày 19 tháng 12
năm 2001, Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua Quyết định 56/168 từ đó đưa ra
những đề xuất xem xét xây dựng một công ước quốc tế toàn diện và đầy đủ nhằm
tăng cường và bảo vệ nhân quyền và nhân phẩm của NKT. Sau sáu năm và tám
phiên họp, tại kì họp lần thứ 61 Đại hội đồng UN và toàn thể đại biểu đã nhất trí
thông qua CRPD. Đây được coi là văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu một bước
ngoặt về nhân quyền của NKT trên thế giới. Điều này thể hiện sự quan tâm của thế
giới đối với NKT và là việc làm đó là cần thiết vì muốn có xem xét xã hội đó có
phát triển hay không là bằng cách đánh giá việc quốc gia ấy đối xử với những
người yếu thế trong xã hội như thế nào..
19
CRPD là văn bản mang tính pháp lý có hiệu lực pháp lý cao, đưa ra khung
pháp lý, ghi nhận các chuẩn mực quốc tế về quyền của NKT. Công ước được coi là
công cụ thúc đẩy hành động đầy đủ, toàn diện và hiệu quả về quyền của NKT trên
thế giới. Công ước ghi nhận và đảm bảo thực hiện quyền tự do cơ bản của NKT