BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VÀ XÃ HỘI
_________
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
________________________
Số: 62/BC-LĐTBXH
Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2009
BÁO CÁO
Tổng kết tình hình thi hành Pháp lệnh về người tàn tật
và các văn bản pháp luật liên quan
_____________
Thực hiện Nghị quyết số 27/2008/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội
khoá XII về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung chương trình
xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII (2007 - 2011), để có cơ sở
trình Quốc hội xây dựng Luật người khuyết tật thay thế Pháp lệnh về người tàn tật, Bộ
Lao động- Thương binh và Xã hội báo cáo tổng kết tình hình thi hành pháp luật liên quan
đến lĩnh vực người tàn tật/khuyết tật (sau đây gọi chung là người khuyết tật) như sau:
Phần 1.
TÌNH HÌNH BAN HÀNH VÀ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CÁC VĂN BẢN
PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1. Xây dựng và ban hành văn bản luật pháp
tập huấn cho các đơn vị trong ngành, các đơn vị có liên quan, các tổ chức của người khuyết
tật và địa phương về những quy định và các vấn đề kỹ thuật trong thiết kế, xây dựng công
trình để người khuyết tật tiếp cận và sử dụng. Bộ Giao thông - Vận tải đã biên soạn và tổ
chức tập huấn trên toàn quốc cho nhân viên phục vụ xe khách về kiến thức và kỹ năng phục
vụ người khuyết tật tham gia giao thông. Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi, Hiệp hội sản
xuất kinh doanh của người khuyết tật, Hội cựu chiến binh, Hội liên hiệp phụ nữ trong cả
nước hàng năm đều tổ chức các lớp tập huấn cán bộ, triển khai các hoạt động vì người
khuyết tật theo lĩnh vực và chức năng do đơn vị mình phụ trách. Pháp lệnh về người tàn tật
và các văn bản liên quan khác về người khuyết tật đã được phát hành đến cơ sở vào Ngày
người khuyết tật Việt Nam 18/04, Ngày quốc tế của người khuyết tật 03/12” hoặc ngày
thương binh liệt sỹ 27/7 v.v... Hội đồng tuyên truyền pháp luật của nhiều địa phương đã
trang bị tài liệu Pháp lệnh về người khuyết tật cho “Tủ sách pháp luật” ở các xã, phường, thị
trấn; nhiều địa phương Trung tâm trợ giúp pháp lý còn tổ chức nhiều đoàn trợ giúp pháp lý
lưu động đến các cụm, xã, thị trấn để trợ giúp pháp lý miễn phí cho hộ nghèo, các đối tượng
chính sách và người khuyết tật như Thái Bình, Hưng Yên...
Các cơ quan báo chí, đài phát thanh và truyền hình Trung ương, địa phương đã
đóng vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền Pháp lệnh về người khuyết tật bằng các
hình thức như: Mở chuyên đề, chuyên mục, tổ chức các buổi tọa đàm, đưa tin về các
gương điển hình của các tập thể, cá nhân làm tốt công tác người khuyết tật, người khuyết
tật vượt khó vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng kêu gọi gây quỹ hỗ trợ người
khuyết tật. Đặc biệt các chương trình “Người đương thời”, “Người xây tổ ấm” của Đài
3
Truyền hình Việt Nam đưa nhiều gương người khuyết tật cần cù, sáng tạo, vượt qua
muôn vàn khó khăn, thành đạt trong cuộc sống, đã gây xúc động cho hàng triệu người
trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, công tác tuyên truyền phổ biến Pháp lệnh và chính sách liên quan đến
người khuyết tật cũng còn hạn chế. Theo đánh giá của Uỷ ban các vấn đề xã hội của
I. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
4
Hiện nay ước tính cả nước có khoảng 5,1 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 6%
dân số, trong đó có 1,1 triệu khuyết tật nặng, chiếm 21,5% tổng số người khuyết tật. Bao
gồm 29,% khuyết tật vận động, 17% tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thính giác, 7% tật
ngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các dạng tật khác. Tỷ lệ nam là người khuyết tật cao hơn nữ
do các nguyên nhân hậu quả chiến tranh, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, tai nạn
thương tích...
Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do
hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động. Dự báo trong nhiều năm tới số lượng
người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng
của chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và
tai nạn lao động, hậu quả thiên tai…
Đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn. Có tới 80%
người khuyết tật ở thành thị và 70% người khuyết tật ở nông thôn sống dựa vào gia đình,
người thân và trợ cấp xã hội; 32,5% thuộc diện nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ lệ nghèo
chung cùng thời điểm); 24% ở nhà tạm. Những khó khăn này cản trở người khuyết tật tiếp
cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến
khó khăn trong cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng.
II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH
1. Chăm sóc đời sống người khuyết tật
Thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật, Chính phủ đã quy định chi tiết chính sách
trợ giúp xã hội đối với người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương
tựa, người mắc bệnh tâm thần mãn tính, hộ gia đình có từ hai người tàn tật nặng không có
khả năng tự phục vụ. Thực hiện chính sách này đến năm 2008, các địa phương đã thực
hiện trợ cấp xã hội hàng tháng cho 395.962 người khuyết tật nghèo và 8.599 hộ có từ hai
người khuyết tật, nuôi dưỡng tập trung 9.798 người khuyết tật trong 300 cơ sở bảo trợ xã
hội. So với năm 1998, số người số người khuyết tật được hưởng các chính sách trợ giúp
Nhiều địa phương do điều kiên khó khăn nên công tác chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng
chưa đuợc quan tâm thực hiện.
3. Học văn hoá đối với người khuyết tật
Thực hiện Luật giáo dục, Pháp lệnh về người tàn tật, Chính phủ, các bộ ngành, địa
phương đã có nhiều quan tâm tạo điều kiện để người khuyết tật tiếp cận dịch vụ giáo dục.
Số lượng học sinh, sinh viên là người tàn tật tăng nhanh: Năm học 1996-1997 cả nước có
6.000 trẻ khuyết tật học trong 72 cơ sở giáo dục chuyên biệt, 36.000 trẻ khuyết tật học
trong 900 trường phổ thông đến năm học 2005-2006 có 230.000 trẻ khuyết tật đi học
trong 9.000 trường phổ thông (đạt 25%). Người khuyết tật đi học không chỉ tập trung ở
bậc mầm non, tiểu học mà còn ở bậc trung học và một số đang học ở bậc trung cấp, cao
đẳng, có nhiều học sinh khuyết tật đã đặt kết quả cao.
Công tác đào tạo nguồn lực cho giáo dục khuyết tật ngày càng được quan tâm đến
nay các trường đại học, cao đẳng sư phạm đã có các khoa đào tạo, giáo dục đặc biệt; Bộ
Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các Bộ liên quan đã ban hành mã ngành đào tạo giáo
dục trẻ em khuyết tật, giáo dục đặc biệt. Có 264 cán bộ quản lý giáo dục của 63 tỉnh,
thành phố và giảng viên của các trường đại học và cao đẳng sư phạm trong cả nước đã
được bồi dưỡng về giáo dục trẻ khuyết tật, gần 700 giáo viên trung học được đào tạo
trình độ chuyên môn về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại 07 trường cao đẳng sư phạm,
hơn 10.000 giáo viên mầm non và trung học được bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng dạy
học trẻ khuyết tật, mạng lưới giáo viên cốt cán của các huyện được hình thành để đáp
ứng nhu cầu đi học của gần 230.000 trẻ khuyết tật.
Ngoài việc triển khai thực hiện các chính sách đối với trẻ khuyết tật, công tác
nghiên cứu khoa học về giáo dục trẻ khuyết tật ngày càng có chiều sâu và tập trung
6
nghiên cứu mô hình phát hiện, hỗ trợ cho trẻ khiếm thính, khiếm thị, khó khăn về học.
Đồng thời xây dựng mô hình giáo dục hòa nhập, chuyển đổi và thẩm định sách giáo khoa
chữ phẳng sang chữ nổi Braille, xây dựng hệ thống ngôn ngữ kí hiệu, thống nhất hệ
thống chữ cho người mù và nhiều đề tài nghiên cứu về các chương trình, nội dung và
việc làm, trong đó chủ yếu làm việc trong khu vực nông nghiệp (trên 70%). Thực hiện
các chính sách giải pháp tạo việc làm người khuyết tật, cả nước có hơn 400 cơ sở sản
xuất, kinh doanh của thương binh và người khuyết tật, tạo việc làm ổn định cho 15.000
7
lao động là người khuyết tật, khoảng 65% số hộ có người khuyết tật được hưởng các
chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, như: miễn giảm thuế, hỗ trợ tín dụng ưu đãi, hỗ trợ
đất sản xuất...
Tuy nhiên, phần lớn những người khuyết tật có việc làm không ổn định, chủ yếu là
tự tạo việc làm, làm việc trong các tổ chức, cơ sở mang tính nhân đạo từ thiện. Rất ít
người tìm được việc làm và làm việc ổn định trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
Pháp luật lao động quy định các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải
nhận từ 2-3% lao động là người tàn tật vào làm việc tuỳ theo loại hình doanh nghiệp,
doanh nghiệp không nhận đủ tỷ lệ lao động là người tàn tật theo quy định phải đóng một
khoản tiền vào Quỹ việc làm cho người tàn tật. Hầu hết các doanh nghiệp không thực
hiện được quy định này. Nguyên nhân là do công tác tuyên truyền phổ biến, kiểm tra
giám sát chưa được quan tâm thực hiện. Mặt khác bản thân người khuyết tật chưa đáp
ứng được yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, đồng thời do tính chất sản xuất, kinh
doanh các doanh nghiệp cũng khó khăn trong việc bố trí việc làm phù hợp với sức khoẻ,
đặc điểm của người khuyết tật, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề
đặc thù như luyện kim, hoá chất, địa chất, đo đạc bản đồ, dầu khí, khai thác mỏ, khai thác
khoáng sản, xây dựng cơ bản, vận tải...
5. Tiếp cận văn hóa, thể thao và công trình công cộng
a) Về văn hóa, thể thao
Trong những năm qua nhiều hoạt động văn hóa, thể thao đã được tổ chức từ Trung
ương đến địa phương. Các hoạt động văn hoá, thể thao, giải trí của người khuyết tật ngày
càng được quan tâm, nhiều cuộc thi đấu thể thao được tổ chức để người khuyết tật được
tham gia hoạt động góp phần tăng cường sức khỏe, cải thiện đời sống tinh thần người
khuyết tật xóa bỏ mặc cảm. Tham gia hoạt động thể dục thể thao giúp người khuyết tật
khung pháp lý về chăm sóc người khuyết tật, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan
chức năng từ Trung ương đến cơ sở cũng như tạo môi trường thuận lợi cho người khuyết
tật tiếp cận học nghề, việc làm và các dịch vụ xã hội cơ bản. Nhờ vậy, những năm qua
đời sống vật chất, tinh thần và vị thế của người khuyết tật trong xã hội được cải thiện một
bước. Tuy nhiên qua quá trình thực hiện cho thấy hệ thống các văn bản chưa thật sự đồng
bộ, tính khả thi của một số chính sách chưa cao, công tác tuyên truyền, kiểm tra giám sát
thực hiện chưa thường xuyên, nguồn lực về tài chính và nhân lực cũng chưa đáp đòi hỏi
của thực tiễn.
Phần 3.
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN LUẬT PHÁP VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
I. ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
Để khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật đối với người khuyết tật và bảo
đảm để người khuyết tật thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ thì việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật đối với người khuyết tật cần quán triệt theo các quan điểm định huớng sau:
- Phải quán triệt và thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
về người khuyết tật, xác định nội dung, chức năng quản lý Nhà nước về người khuyết
tật nhằm góp phần bảo đảm cho người khuyết tật sống hoà nhập với xã hội.
9
- Điều chỉnh hệ thống pháp luật về người khuyết tật phải dựa trên cơ sở kế thừa,
chọn lọc những quy phạm hiện nay còn phù hợp trong Pháp lệnh về người tàn tật và các
văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến người khuyết tật khác, bảo đảm giữ tính ổn
định những quy định còn phù hợp đồng thời điều chỉnh và hoàn thiện các quy định không
còn phù hợp, bổ sung những vấn đề mới nảy sinh cần được điều chỉnh bằng pháp luật.
- Các quy định bảo đảm có tính khả thi và phù hợp với trình độ phát triển kinh tếxã hội, khả năng tài chính của nhà nước ta. Quy định khung pháp lý cơ bản về quyền,
nghĩa vụ của người khuyết tật và quy định chi tiết về các chế độ chính sách, điều kiện bảo
đảm, trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội để người khuyết tật thực hiện các
người khuyết tật trở lên (miễn, giảm thuế hoặc hỗ trợ tài chính cho việc xây dựng cơ sở
vật chất, v.v... của doanh nghiệp); đối với hoạt động dạy nghề, tạo việc làm cho người
khuyết tật phải bảo đảm bình đẳng trong tuyển dụng, sử dụng và bố trí công việc, cải tạo
cơ sở vật chất bảo đảm môi trường tiếp cận đề người khuyết tật làm công việc như những
người bình thường khác.
- Quy định bắt buộc đối với việc xây dựng mới, cải tạo các công trình công cộng,
trụ sở của các cơ quan nhà nước phải có thiết kế tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp
cận được.
- Tổ chức câu lạc bộ dành riêng cho người khuyết tật để người khuyết tật có cơ hội
tham gia các hoạt động mang tính tập thể như thể dục, thể thao, văn hóa, văn nghệ v.v…
nhằm tạo cơ hội hòa nhập cộng đồng và nâng cao đời sống tinh thần của người khuyết
tật.
- Xây dựng các Trung tâm dịch vụ xã hội nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện sinh hoạt
phù hợp đồng thời bảo đảm quyền bình đẳng và hòa nhập đời sống xã hội cho người
khuyết tật.
III. ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM
Trong quá trình xây dựng Luật và khi được Quốc hội ban hành thì việc tổ chức
thực hiện cũng cần phải có quy định cụ thể về:
1) Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, làm rõ vai trò trách
nhiệm của các tổ chức, các cơ quan thông tin đại chúng trong công tác thông tin tuyên
truyền để nâng cao nhận thức cho cộng đồng và bản thân người khuyết tật về vấn đề
khuyết tật, người khuyết tật, Luật người khuyết tật cũng như các văn bản pháp lý liên
quan tới quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật . Đối với một số cơ quan, tổ chức hoạt
động trong lĩnh vực thông tin đại chúng như đài phát thanh, truyền hình ở Trung ương và
một số địa phương cần nghiên cứu và đưa ra những quy định bắt buộc nhằm bảo đảm
quyền tiếp cận và sử dụng đối với người khuyết tật.
2) Khi xây dựng các chính sách đối với người khuyết tật phải xác định rõ nguồn lực
để thực hiện các chính sách. Đẩy mạnh việc phân cấp và làm rõ trách nhiệm của chính
quyền các cấp trong hoạt động xây dựng các giải pháp nhằm trợ giúp đối với người khuyết
tật (từ ngân sách nhà nước, từ quỹ hỗ trợ người khuyết tật, v.v...). Cần có cơ chế quản lý phù