Vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền con người ở giai đoạn khởi tố điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố Hà Nội - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN CHUNG

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG BẢO VỆ
QUYỀN CON NGƯỜI Ở GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ
ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Thị Minh Sơn

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tác giả.
Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn
chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Chung



Điều tra viên

KSV

:

Kiểm sát viên

LS

:

Luật sư

QCN

:

Quyền con người

THTT

:

Tiến hành tố tụng

TTHS

:


Viện kiểm sát nhân dân

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THỂ
HIỆN VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI Ở
GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ............................................ 7
1.1. Những vấn đề lý luận về vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền con người ở giai
đoạn khởi tố điều tra vụ án hình sự ................................................................................. 7
1.2. Sự thể hiện vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền con người ở giai đoạn khởi tố
điều tra vụ án hình sự .................................................................................................... 14
1.3. Quy định của pháp luật hình sự thể hiện vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền
con người ở giai đoạn khởi tố điều tra vụ án hình sự.................................................... 15
Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG
BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI Ở GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ ĐIỀU TRAVỤ ÁN
HÌNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI ..................................................................... 45
2.1. Những kết quả đạt được ......................................................................................... 45
2.2. Những hạn chế, bất cập .......................................................................................... 48
2.3. Nguyên nhân .......................................................................................................... 50
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VÀ PHÁT HUY VAI TRÒ BẢO VỆ
QUYỀN CON NGƯỜI CỦA LUẬT SƯ TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ
ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI................................... 61

năm 2013, QCN, quyền công dân được Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo
đảm.Cụ thể hóa Hiến pháp, các QCN, quyền công dân được ghi nhận, bảo vệ, bảo đảm
trong các văn bản pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự và tố tụng hình sự. Tuy
nhiên, trong thực tiễn tố tụng hình sự thì quyền con người vẫn chưa được bảo vệ một
cách có hiệu quả.
Trong lĩnh vực tố tụng đặc biệt là tố tụng hình sự, vai trò của luật sư trong việc
bảo vệ quyền con người càng được thể hiện rõ nét hơn. Sự tham gia của luật sư trong
tố tụng không chỉ giúp bị can, bị cáo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà
còn góp phần trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp việc điều tra, truy

1


tố và xét xử được nhanh chóng, chính xác, tránh làm oan người vô tội, để lọt tội phạm.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều luật sư không cập nhật được kiến thức pháp luật, kỹ
năng hành nghề. Trong khi đó xã hội luôn vận động phát triển, nhiều quan hệ mới xuất
hiện và pháp luật cũng luôn thay đổi để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Hà Nội là Thủ đô của nước ta, với địa bàn rộng và số lượng VAHS được đưa ra
xét xử sơ thẩm lớn, phúc thẩm cũng nhiều, vai trò của luật sư trên địa bàn thành phố Hà
Nội đã đạt được nhiều thành tích nổi bật. Tuy nhiên, luật sư vẫn còn gặp một số khó
khăn trong việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự và chưa phát huy được
một cách tốt nhất vai trò của mình ở giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự.
Xuất phát từ nguyên lý: “Ở đâu có buộc tội thì ở đó có gỡ tội”, nhằm góp phần
bảo vệ QCN, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm các nguyên tắc cơ bản
của BLTTHS, theo đó, Nhà nước đã giao phó sứ mệnh bảo vệ QCN, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân trong tố tụng hình sự cho Luật sư, người được ví như là các “
Hiệp sỹ” khi đứng ra bênh vực cho những kẻ yếu thế, bị ức hiếp.
Từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Vai trò của luật sư trong bảo
vệ quyền con người ở giai đoạn khởi tố điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố
Hà Nội” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp cao học.

số 3, Hà Nội. Theo tác giả, bảo vệ quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam trong tố
tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện đường lối, chính sách của đảng
và pháp luật của nhà nước và đặc biệt là trong bối cảnh cải cách tư pháp và trong xu thế
hội nhập quốc tế hiện nay, vì quyền con người luôn gắn liền với quyền chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội. Bài viết đã phân tích thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị
bắt, người bị tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự và đưa ra một số kiến nghị hoàn
thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo vệ quyền của người bị bắt để tạm
giam và người bị tạm giam [38].
Ngoài ra còn có một số công trình khác có liên quan đến đề tài nghiên cứu
như: Phạm Thị Hồng Vân (2014) Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền con
người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ; Nguyễn Quang Hiền
(2011), Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam,
Luận án tiến sĩ luật học; Giáo trình giảng dạy sau đại học “Quyền con người”, nhà xuất
bản khoa học xã hội năm 2011, của Học viện Khoa học xã hội do GS.TS. Võ Khánh
Vinh (Chủ biên); Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản (đồng chủ nhiệm),
bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong

3


giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
trường, Đại học quốc gia Hà Nội, 2005...
Các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến QCN, quyền công dân, bảo vệ
QCN trong tố tụng hình sự, vai trò của luật sư trong hoạt động tranh tụng, trong bảo vệ
QCN. Tuy nhiên, mỗi công trình có góc độ trọng tâm nghiên cứu riêng và ở những
thời điểm khác nhau nên về mặt nhận thức cả về phương diện lý luận và thực tiễn so
với bây giờ là có sự khác nhau. Kết quả nghiên cứu của các công trình trên là nguồn tài
liệu tham khảo giá trị mà luận văn của tác giả có thể kế thừa và tiếp tục nghiên cứu
trong quá trình hoàn thiện đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

người của người bị buộc tội và quyền con người của Người bị hại, Nguyên đơn dân sự,
Bị đơn dân sự, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự (gọi tắt là
đương sự) , trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của luật sư trong bảo vệ QCN ở giai đoạn
khởi tố, điều tra vụ án hình sự của người bị bắt, Người bị tạm giữ, bị can vì, đây là
những đối tượng mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ dễ bị xâm hại nhất. Luận văn
không nghiên cứu vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền con người của những người
tiến hành cũng như người tham gia tố tụng khác như bị cáo, người làm chứng v.v.
Luận văn nghiên cứu vai trò của luật sư trong bảo vệ QCN ở giai đoạn khởi tố,
điều tra vụ án hình sự tại thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2012 đến năm
2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ quyền
con người, quyền công dân
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng đó là: Phương pháp phân
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, lịch sử và khảo sát thực tiễn...để giải quyết những
vấn đề đặt ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần bổ sung lý luận về vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền con
người ở giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự;

5


Kết quả nghiên cứu khoa học của luận văn góp phần bổ sung vào nguồn tài liệu
phục vụ công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, công tác giảng dạy tại các trường Đại
học, Học viện và các cơ sở đào tạo khác về luật học, về nghiệp vụ nghề luật sư.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu khoa học của luận văn góp phần làm thay đổi, nâng
cao ý thức pháp luật của chủ thể áp dụng pháp luật hình sự về vai trò của luật sư trong
bảo vệ QCN ở các giai đoạn của tố tụng hình sự nói chung và đặc biệt là ở giai đoạn

của Luật sư trong mối quan hệ với các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng và người tham gia tố tụng
Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự
do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức,
phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh [30].
Theo quy định của pháp luật thì luật sư tham gia tố tụng với tư cách là người
bào chữa cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ
quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự (gọi tắt là đương sự trong vụ án).
Ở Việt Nam, Luật sư phải là Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc,
tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có Bằng cử nhân luật, đã
được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe
bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư [30, Đ.10]. Một trong những
nguyên tắc hành nghề luật sư đó là sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt

7


nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng được quy định tại Điều 5 của Luật luật
sư hiện hành.
Như vậy, bằng kiến thức pháp luật được đào tạo, bằng kỹ năng và kinh
nghiệm nghề nghiệp, Luật sư được pháp luật trao cho các quyền năng để thực
hiện vai trò của mình nhằm góp phần bảo vệ QCN, bảo vệ những chủ thể đã và
đang ở vào vị trí thế yếu, bị tình nghi, bị khởi tố, điều tra về một loại tội phạm
nào đó, phải đối diện với những biện pháp ngăn chặn như Tạm giữ, tạm giam,
cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự mà họ khó có
điều kiện và đầy đủ về hiểu biết, kỹ năng để tự bảo vệ mình.
Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự
do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức,

quy định và lý do tước đoạt là hành vi vi phạm pháp luật của người bị tước đoạt.
Quyền con người là một phạm trù đa diện, song QCN có mối liên hệ gần gũi hơn
cả với pháp luật; QCN gắn liền với các quan hệ pháp luật và là một phạm trù
pháp lý, việc thực hiện các QCN vẫn cần phải có pháp luật, tức là nó trở thành
quy tắc xử sự chung, có tính bắt buộc, mang tính quyền lực Nhà nước bảo đảm
cho nó được thực thi trên thực tế và áp dụng thống nhất cho tất cả mọi chủ thể
trong xã hội.Pháp luật là phương tiện chính thức hóa, pháp lý hóa giá trị xã hội
của các quyền tự nhiên, là phương tiện bảo đảm giá trị thực tế của các quyền con
người hay nói cách khác, pháp luật đóng vai trò là công cụ giúp Nhà nước bảo
đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền con người của các chủ thể khác nhau trong xã
hội, là công cụ của các cá nhân trong việc bảo vệ các quyền con người của chính
họ thông qua việc vận dụng các quy phạm và cơ chế pháp lý.
Việc bảo vệ và thúc đẩy QCN trước hết là trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà
nước, song cũng là quyền và trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân.Việc xác định
các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân có liên quan là rất
quan trọng để bảo đảm hiện thực hóa các quyền con người trên thực tế.Để đạt
được hiệu quả cao trong việc bảo vệ và thúc đẩy các QCN phải thiết lập được các
cơ chế cho việc thực thi các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau
về quyền con người như:
- Quyền con người là một phạm trù lịch sử cụ thể, là giá trị cao quý nhất
được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại, là đặc trưng vốn có cần được

9


tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kì cá nhân con người nào sinh ra trên
trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia thành viên
liên hợp quốc, cũng như bởi cộng đồng quốc tế [6, tr.11].
- Quyền con người gắn chặt với hoạt động xã hội, các mối quan hệ xã hội

Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và quyền tự do cá
nhân khác. Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự
phải trên cơ sở luật định; Quyền được suy đoán vô tội; Quyền được bào chữa và
biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ; Người chưa thành niên phải
được áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt; Quyền kháng cáo bản án để xét xử
phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan, quyền không bị kết tội hai lần về
cùng một hành vi…; Các quyền con người trong thi hành án hình sự và sau xét
xử…[61]. Những quyền trên là những quyền của người bị buộc tội – đối tượng quan
trọng nhất cần bảo vệ trong trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, tham gia vào quá trình
tố tụng hình sự không chỉ có những người bị buộc tội mà còn có nhiều người khác
mà lâu nay khi nghiên cứu về quyền con người trong tố tụng hình sự, chúng ta hay
ít chú ý đó là quyền của nạn nhân của tội phạm (người bị hại), quyền của người làm
chứng và những người liên quan khác, quyền con người của những người tiến hành
tố tụng như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Những người này họ cũng có
quyền con người của họ như quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân
phẩm, quyền được bảo vệ các quyền chính trị, dân sự, kinh tế của mình bằng con
đường tố tụng hình sự.
Việt Nam chúng ta đã tham gia phần lớn và cam kết thực hiện ở cả hai phương diện
lập pháp và cam kết thực hiện thực tiễn các văn kiện về quyền con người, điều đó
được thể hiện trong Luật Tố tụng hình sự của nước ta ở mức độ khác nhau. Bộ luật
tố tụng hình sự hiện hành có các nguyên tắc như: Thừa nhận Tòa án là cơ quan duy
nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự; Nguyên tắc bảo vệ quyền cơ bản của công
dân; Bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,
suy đoán vô tội, quyền bào chữa, quyền kháng cáo, quyền minh oan…[61].
Quyền con người trong tố tụng hình sự là những quyền chỉ dànhcho con người khi
họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà nhà nước có nghĩa vụ phải ghi
nhận và bảo đảm thực hiện trên thực tế.
Bảo vệ là chống lại sự xâm phạm để giữ cho được nguyên vẹn.“Bảo vệ quyền
con người” khác với “Bảo đảm quyền con người”. Bảo đảm quyền con người là


tiến hành điều tra ngay thì sẽ dẫn đến việc xâm phạm đến QCN, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân.

12


Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong đó Cơ quan
điều tra áp dụng các biện pháp điều tra và các biện pháp ngăn chặn cần thiết để
phát hiện, thu thập, củng cố chứng cứ chứng minh tội phạm và người thực hiện
hành vi phạm tội một cách khách quan, toàn diện và chính xác, đảm bảo cho việc
xử lý vụ án được đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Khi xác định có tội phạm xảy ra, cơ quan điều tra phải làm rõ ai là người
thực hiện hành vi phạm tội; xác định lỗi, động cơ, mục đích phạm tội; điều tra thu
thập các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết gỡ tội của bị can; trong vụ án có đồng phạm
thì điều tra xác định ai là người tổ chức, chủ mưu, ai là người thực hành, ai là
người giúp sức, tức là xác định vai trò, vị trí, tính chất, mức độ của từng bị can
trong vụ án đó.
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố
vụ án hình sự và kết thúc khi CQĐT ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc
ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.
Trong giai đoạn khởi tố và điều tra, người bị buộc tội bao gồm người bị
bắt, người bị tạm giữ và bị can. Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa vụ
án ra xét xử. Với tư cách này, bị cáo chỉ tham gia trong giai đoạn xét xử vụ án
hình sự.
Từ sự phân tích trên, trong phạm vi của luận văn này, có thể đưa ra khái
niệm vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền con người ở giai đoạn khởi tố, điều tra
vụ án hình sự như sau:
Vai trò của luật sư trong bảo vệ quyền con người ở giai đoạn khởi tố điều tra vụ
án hình sự làảnh hưởng, tác động của luật sư với tư cách là người bào chữa hoặc
người bảo vệ quyền lợi của đương sự để giữ cho các quyền con người của người

phản biện. Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư, thông thường thể hiện ở
lĩnh vực tố tụng, đặc biệt là trong TTHS. Điều 58Bộ luật TTHS hiện hành quy định:
“Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm
sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
Nghị quyết số 49 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020 định hướng đến năm 2020 khẳng định: Luật
sư có trách nhiệm trong việc góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong khi
triển khai hoạt động nghề nghiệp của họ. Với chức năng của mình, Luật sư đã tạo thế

14


ổn định, công bằng xã hội. Khi tham gia hoạt động trong TTHS với vai trò của mình,
Luật sư đã góp phần tích cực để Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, một vấn đề
quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền.
So với sự giám sát xã hội đối với hoạt động tư pháp thì vai trò giám sát của
Luật sư có ý nghĩa hơn. Bởi vì Luật sư là người tiến hành hoạt động nghề nghiệp một
cách độc lập, chỉ ràng buộc trách nhiệm với thân chủ. Trong quá trình THTT, các
hình thức theo dõi, kiểm tra, đánh giá các tình tiết vụ án, cách thức THTT của các cơ
quan tố tụng, Luật sư phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm
nghiêm trọng trình tự, thủ tục tố tụng, hạn chế sự vi phạm QCN từ phía các cơ quan
tố tụng.
Luật sư thực hiện vai trò bảo vệ quyền con người của người bị bắt, người bị tạm giữ
và bị can trên cơ sở các quy định của BLTTHS về nguyên tắc cơ bản của TTHS;
quyền và nghĩa vụ của người bào chữa;
Luật sư thực hiện vai trò bảo vệ quyền con người của người bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trên cơ
sở các quy định của BLTTHS về nguyên tắc cơ bản của TTHS; quyền và nghĩa vụ

là quyền tự thân, vốn có của họ. Đây là quy định thể hiện QCN ở góc độ tự nhiên,
không một chủ thể nào, kể cả Nhà nước có thể ban phát hay tước bỏ quyền tự bào
chữa của họ và được thể chế hóa bằng pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện.
Người bị tạm giữ, Bị can có quyền:Nhờ người khác bào chữa xuất phát từ
nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Theo
tác giả thì do quyền tự bào chữa vốn có của họ không phải ai cũng có đủ trình độ,
điều kiện để thực hiện tốt việc tự bào chữa của mình, nhất là trong bối cảnh bị Cơ
quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn
như bắt, tạm giữ, tạm giam. Mặt khác, quy định cho họ có quyền: “ Nhờ người
khác bào chữa” là nhằm tuân thủ quy định của Hiến pháp, tuân thủ nguyên tắc cơ
bản về bảo đảm quyền bào chữa của Người bị tạm giữ, Bị can, tôn trọng và bảo
vệ quyền bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của Người bị tạm giữ, bị can,
bảo đảm sự vô tư, khách quan trong hoạt động bào chữa. Như vậy, người khác
bào chữa cho Người bị tạm giữ, bị can trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình
sự là quyền phái sinh từ quyền của Người bị tạm giữ, Bị can. Nếu Người bị tạm
giữ, bị can không “ Nhờ” thì người khác không phát sinh quyền bào chữa cho họ.

16


Pháp luật TTHS quy định cho họ phương thức lựa chọn và thay đổi người
bào chữa. Theo quy định tại Điều 57 của BLTTHS năm 2003 về Lựa chọn và
thay đổi người bào chữa như sau: “ 1. Người bào chữa do người bị tạm giữ, bị
can,… hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn”.
Vậy, nếu Người bị tạm giữ, Bị can trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án
hình sự mà họ không thực hiện quyền: “ Nhờ người khác bào chữa” cho họ thì
sao? Liệu rằng quyền và lợi ích hợp pháp của họ có được đảm bảo trong mọi
trường hợp theo đúng tinh thần của Hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản của
BLTTHS năm 2003.
Do việc áp dụng pháp luật hình sự có nguy cơ vi phạm quyền con người

giải quyết vụ án hình sự. Trong trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề
bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến
việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng
dân sự”.
Ngườibị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án có các quyền quy định tại các Khoản 2, 3, Điều
51;Khoản 2- Điều 52, Khoản 2 - Điều 53, Khoản 1- Điều 54 nhưng quy định chưa
đầy đủ, trong đó không quy định cho những người tham gia tố tụng này quyền: “
Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình”.
Theo quy định tại Điều 59 BLTTHS năm 2003: Người bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự
có quyền nhờ luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được cơ quan
điều tra,…,… chấp nhận bảo vệ quyền lợi cho mình.
1.3.2. Quy định về quyền và nghĩa vụ của luật sư
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ đề cập đến luật sư với
tư cách là ngườibào chữa, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị tạm giữ, bị
can, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án hình sự.
Vậy, pháp luật quy định như thế nào về Vai trò của luật sư trong bảo vệ QCN
ở giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, cơ chế nào để bảo đảm cho luật sư thực
hiện tốt các quyền luật định? Những vấn đề này sẽ được tác giả nghiên cứu, bàn
luận sâu trên cơ sở pháp luật quy định nhằm làm rõ, nêu bật tác dụng, chức năng của
luật sư trong bảo vệ QCN, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của Người bị

18


tạm giữ, bị can, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự,
cụ thể như sau:


trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết
định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị
khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa
điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không
quá hai tháng.”
Trong giai đoạn khởi tố, Cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền
theo quy định của BLTTHS năm 2003 ban hành các loại quyết định sau: 1) Quyết
định khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm (Điều 104); 2)
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ quy định
tại Điều 107 của BLTTHS năm 2003 ( Điều 108); 3) Quyết định thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố
không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác( Điều 106);
4) Quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố nếu đã khởi tố mà có một trong những
căn cứ quy định tại Điều 107 của BLTTHS năm 2003( Điều 108).
Ngoài ra, tại chương 8 quy định về Khởi tố vụ án hình sự còn có một số
quy định về trình tự tố giác và tin báo về tội phạm, về khởi tố vụ án hình sự theo
yêu cầu của người bị hại, về quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong
việc khởi tố vụ án hình sự.
Như vậy, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được coi là giai đoạn tố tụng độc
lập và có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự, bởi lẽ: Khởi tố
vụ án bảo đảm cho việc phát hiện nhanh chóng mọi hành vi phạm tội, thông qua
việc Cơ quan điều tra kiểm tra, xác minh kịp thời các nguồn tin về tội phạm, mới
có điều kiện để làm rõ sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không, việc
giải quyết, xác minh tội phạm không được giải quyết kịp thời, nhanh chóng, đầy
đủ sẽ có thể không phát hiện ra dấu hiệu tội phạm, dẫn đến việc ra quyết định
không khởi tố vụ án, dẫn đến bỏ lọt tội phạm; khởi tố vụ án tạo điều kiện thuận
lợi cho các hoạt động tố tụng tiếp theo, sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án,
hoạt động điều tra được tiến hành và tập trung vào điều tra làm rõ các hành vi

tố vụ án hình sự thì Người bảo vệ quyền lợi của đương sự với tư cách là luật sư
chưa được tham gia tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự.
Do vậy, ở giai đoạn khởi tố vụ án hình sự vai trò của luật sư trong bảo vệ
QCN chỉ trong phạm vi tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người
bị tạm giữ trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81( Bắt người trong

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status