Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHAN QUỐC VIỆT

BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG
GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luât hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 6038.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Đỗ Ngọc Quang

Hà Nội – 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác
và trung thực. Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Phan Quốc Việt


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG

2010 đến năm 2014 ...................................................................................................... 59
2.1.2. Những tồn tại, vướng mắc trong hoạt động của CQĐT, VKS liên quan vấn đề
bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự .................... 62
2.1.3. Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng quyền con người chưa được bảo vệ tốt nhất
trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự .............................................................. 71
2.2. Những kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai
đoạn khởi tố, điều tra .................................................................................................... 89
2.2.1. Những yêu cầu của cải cách tư pháp về bảo vệ quyền con người trong TTHS
nói chung và trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự nói riêng ...................... 89
2.2.2. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật TTHS về khởi tố, điều
tra vụ án hình sự .......................................................................................................... 92
2.2.3. Đề xuất, kiến nghị về nâng cao trình độ, năng lực của ĐTV, KSV ...................... 103
2.2.4. Đề xuất, kiến nghị về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của
CQĐT, VKS, ĐTV, KSV trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự................ 106
2.2.5. Những đề xuất, kiến nghị khác......................................................................... 107
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 122


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CAND:

Công an nhân dân

CHXHCN:

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CQTHTT:


TA:

Tòa án

TAND:

Toà án nhân dân

TANDTC:

Toà án nhân dân tối cao

TT:

Thủ trưởng

TTHS:

Tố tụng hình sự

PTT:

Phó thủ trưởng

PVT:

Phó viện trưởng

VKS:


nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con
người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong
trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” [42. tr 8].
Quyền con người khi tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự
(TTHS) nói chung, trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự nói riêng
là biểu hiện (dạng) cụ thể của quyền con người trong quan hệ xã hội - pháp
lý TTHS, được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và đảm bảo thực hiện
trên thực tế.
Khởi tố, điều tra vụ án hình sự là một trong những giai đoạn cơ bản của
quá trình TTHS, luôn thể hiện đậm nét quyền lực, sức mạnh cưỡng chế nhà
nước, sự đối kháng mạnh mẽ về quyền, lợi ích giữa những người tham gia tố
tụng (NTGTT), giữa những NTGTT với Nhà nước mà đại diện là Cơ quan
điều tra (CQĐT), Viện Kiểm sát (VKS); đối kháng và thiếu quân bình về thế
và lực giữa cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) là CQĐT và VKS, người
tiến hành tố tụng (NTHTT) là Điều tra viên (ĐTV), Kiểm sát viên (KSV) với

1


người bị buộc tội, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, người bị tạm giam
trong quá trình tham gia quan hệ TTHS.
Hoạt động TTHS trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự với bản
chất là hoạt động thực thi pháp luật, đấu tranh chống tội phạm, trong nhiều
trường hợp được phép hoặc buộc phải áp dụng những biện pháp cưỡng chế
nhà nước nghiêm khắc nhất - cưỡng chế hình sự, hạn chế, làm tiền đề cho
việc hạn chế, tước đoạt những quyền cơ bản, quan trọng nhất của con người:
quyền sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân, quyền bảo
mật thông tin cá nhân, quyền sở hữu… Chính vì vậy, hoạt động TTHS trong
giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, ở bất kỳ thể chế chính trị nào, trong

khởi tố, điều tra các vụ án hình sự còn diễn ra những hoạt động, hành vi tố
tụng của CQTHTT, NTHTT xâm phạm quyền con người, tạo tiền đề cho việc
xâm phạm quyền tự do, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công
dân trong giai đoạn tố tụng sau này (truy tố, xét xử, thi hành án) như vụ án
ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang bị kết án oan, phải chịu 10 năm tù về
tội phạm Giết người, Cướp tài sản, ông Huỳnh Văn Nén bị kết án oan, phải
chịu 17 năm tù trong “Kỳ án vườn điều” về tội phạm Giết người, Cướp tài
sản... Đây là những bài học đắt giá trong lịch sử tư pháp của nước ta.
Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng quyền con người chưa
được bảo vệ tốt nhất trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự gồm: công
tác xây dựng, ban hành, nhận thức, thực thi, áp dụng quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự (Bộ luật TTHS) về bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi
tố, điều tra vẫn còn những tồn tại, hạn chế, bất cập, sai phạm chậm được phát
hiện, đánh giá, phân tích, điều chỉnh, khắc phục một cách triệt để. Các quy
định về chế độ trách nhiệm của Nhà nước, CQTHTT, NTHTT đối với hậu quả
pháp lý - xã hội do hành vi, hoạt động TTHS xâm phạm quyền con người
chưa đầy đủ, đồng bộ, hiệu lực thực tế thấp, trình tự, thủ tục tiếp nhận, xử lý,
giải quyết, khắc phục hậu quả còn rườm rà, mang tính hình thức... Nhận thức,

3


thái độ của một bộ phận không nhỏ NTHTT về vấn đề bảo vệ quyền con
người, tính chất, ý nghĩa, hậu quả của hành vi xâm phạm quyền con người,
việc thực hiện trách nhiệm bồi thường, khắc phục hậu quả của cơ quan, cá
nhân có hành vi xâm hại quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra
chưa đúng đắn, đầy đủ, nghiêm túc, thiếu tích cực.
Bảo vệ quyền con người là mục tiêu tối thượng của mọi hoạt động xây
dựng, áp dụng, thực thi pháp luật. Việc thực thi, áp dụng các quy định pháp
luật TTHS về khởi tố, điều tra để bảo vệ quyền con người là yêu cầu bắt buộc

Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2000; “Nhà nước và pháp luật triều Hậu Lê
với việc bảo vệ quyền con người” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn và Mai Văn
Thắng, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; “Bình luận và khuyến
nghị chung của các ủy ban công ước thuộc Liên hợp quốc về quyền con
người”, Viện nghiên cứu quyền con người (2008), Nhà xuất bản Công an
nhân dân, Hà Nội.
Công trình nghiên cứu là đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án.
Tiêu biểu: "Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật
tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam"
của GS.TSKH Lê Cảm, TS Nguyễn Ngọc Chí, GS.TS Trịnh Quốc Toản (đồng
chủ trì), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia, Hà Nội, năm
2005; Báo cáo tổng thuật Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.07-16 nghiên
cứu về “Các điều kiện đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong sự
nghiệp đổi mới đất nước” do GS.TS Hoàng Văn Hảo chủ nhiệm; “Quyền con
người trong lĩnh vực tư pháp hình sự: Lý luận, thực trạng và hướng hoàn thiện
pháp luật” do GS.TSKH. Lê Văn Cảm (chủ trì), Hà Nội, 2013; Luận án tiến sĩ
luật học “Đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện
nay” của tác giả Nguyễn Huy Hoàn, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, năm 2004; “Bảo vệ quyền con người trong TTHS Việt Nam” của tác

5


giả Nguyễn Quang Hiền, Luận án tiến sỹ luật học Viện nhà nước và pháp luật,
Hà Nội, năm 2008.
Công trình nghiên cứu là bài viết đăng trên tạp chí: “Bảo vệ quyền con
người bằng pháp luật tố tụng hình sự” của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Chí, Tạp
chí Khoa học, chuyên san Luật học, số 23(2)/2009; "Bảo vệ quyền con người
bằng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn điều tra thông
qua thẩm quyền điều tra" của ThS. Trần Thu Hạnh, Đại học Quốc gia Hà Nội,

con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự.
- Phân tích các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 liên quan đến
bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự;
tìm ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập trong
thực tiễn thi hành.
- Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS và những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi
tố, điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận quyền con người và việc bảo vệ
quyền con người của người bị tình nghi phạm tội – người bị buộc tội (người
bị bắt, người bị tạm giữ, bị can) và người bị hại, người làm chứng, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án… trong
giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam. Phân tích, đánh giá
các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS để
đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con
người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn: trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài,
Luận văn này chỉ đề cập đến bảo vệ quyền con người trong giai đoạn khởi tố,
điều tra vụ án hình sự từ 2010 đến 2014.

7


5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lênin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh
và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về bảo vệ quyền con người. Việc nghiên
cứu được thực hiện từ góc độ lý luận về quyền con người nói chung và từ góc



Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Những khái niệm có liên quan đến quyền con người và bảo vệ quyền
con người trong TTHS
1.1.1. Khái niệm quyền con người
Con người là sản phẩm của quá trình chọn lọc, phát triển tự nhiên, xã
hội. Con người và các quyền con người về tự nhiên, xã hội luôn được mỗi cá
nhân, quốc gia, cộng đồng quốc tế quan tâm nghiên cứu, thừa nhận, tôn trọng,
bảo vệ và bảo đảm thực hiện.
Những ý niệm về quyền con người xuất hiện từ thời tiền sử, được phát
triển lên thành tư tưởng về quyền con người trong nền văn minh Lưỡng Hà
rực rỡ ở Trung Đông (khoảng năm 3.000 - 1.500 trước Công nguyên - TCN)
với Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1780 TCN) mà tinh thần chủ đạo là:
“… ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức kẻ yếu…”, làm cho người cô quả có
nơi nương tựa, đem lại hạnh phúc chân chính và đặt “nền thống trị nhân từ”
cho mọi thần dân trên vương quốc Babylon. Nhiều văn bản pháp luật cổ khác,
tiêu biểu như Bộ luật của vua Cyrus Đại đế ban hành vào khoảng các năm 576
- 529 TCN; Bộ luật do nhà vua Ashoka (Ashoka’s Edicts) ban hành vào
khoảng các năm 272 - 231; Hiến pháp Medina (The Constitution of Medina)
do nhà tiên tri Muhammad sáng lập vào năm 622; Đại Hiến chương Magna
Carta (1215) và Bộ luật về quyền (1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về các
quyền của con người và của công dân (1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn độc
lập (1776) và Bộ luật về các quyền (1789) của nước Mỹ, Bộ luật Hồng Đức
(Quốc triều Hình luật (1470 - 1497) thời Hậu Lê của Việt Nam… chứa đựng
những quy định có tính nhân văn sâu sắc về quyền con người. Trong đó bao
gồm cả các quy định cụ thể về quyền của phụ nữ, trẻ em, v.v.. Cùng với sự



11


công trong xã hội. Cơ sở của quyền con người ở đây chính là trình độ phát
triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội
quyết định.
Quan niệm thứ ba: quan niệm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề
quyền con người. Xuất phát từ quan niệm coi con người vừa là sản phẩm tự
nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội, Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng quyền
con người: "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [28, tr.12].
Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con người là "động vật xã hội" [16,
tr.155], có khả năng "tái sinh ra con người", con người là động vật cao cấp
nhất trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt này, quyền con người trước hết là
một thuộc tính tự nhiên. Quyền con người không phải là một "tặng vật", do
giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà nước mà quyền con người trong
hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản chất tự nhiên, được thể hiện ở
quyền được sống, quyền tự do, quyền được sáng tạo, phát triển, quyền được
đối xử như con người, xứng đáng với con người. Xét về mặt xã hội, con
người mặc dù là động vật cao cấp nhất của tự nhiên, nhưng ngay khi tiến hóa
trở thành động vật cao cấp, con người đã sống thành bầy đàn và trở thành sản
phẩm của lịch sử xã hội. Trong Luận cương thứ VI về Phoi-ơ-bắc, C.Mác cho
rằng: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những
quan hệ xã hội" [28, tr.21]. Do đó xét về khía cạnh xã hội, thì "quyền con
người, ngay từ khi có xã hội loài người, bên cạnh bản tính tự nhiên còn in
đậm bản tính xã hội" [24, tr.13]. Theo C.Mác: "Quyền con người là những
đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách là con người, là thành viên
xã hội loài người" [24, tr.14].
Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà nước đã tạo ra những
chuyển biến có tính "bước ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tương quan

Quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là những giá
trị sản sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể.

13


Thông qua việc quy định quyền con người, pháp luật ghi nhận, phản ánh các
nhu cầu về quyền con người và khả năng khách quan về nhận thức, bảo vệ,
bảo đảm thực hiện quyền con người phù hợp với chế độ chính trị, kinh tế, lịch
sử, dân trí cụ thể… Chỉ có thông qua pháp luật thì các giá trị của con người
với tư cách là giá trị của chủ thể tự nhiên và xã hội mới trở thành quyền được
xác định, được hiện thực hoá.
Ở Việt Nam, đã có nhiều học giả nghiên cứu về quyền con người và
vấn đề bảo vệ quyền con người, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều
định nghĩa khác nhau về quyền con người và bảo vệ quyền con người. Học
giả Nguyễn Quang Hiền cho rằng: "Quyền con người là các khả năng của con
người được đảm bảo bằng pháp luật về sử dụng và chi phối các phúc lợi xã
hội, các giá trị vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã
hội trong phạm vi luật định và quyền quyết định các hoạt động của mình và
của người khác trên cơ sở pháp luật" [37, tr.34]. Có một định nghĩa đang
được sử dụng phổ biến trong giảng dạy, nghiên cứu về nhân quyền ở nước ta
hiện nay: "Nhân quyền (hay quyền con người) là những năng lực và nhu cầu
vốn có và chỉ có ở con người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại,
được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế"
[37, tr.10].
Có thể thấy, mặc dù cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều cách nhìn nhận
khác nhau về quyền con người, nhưng rõ ràng quyền con người là những giá
trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và mọi giai đoạn lịch
sử. Trong thời đại ngày nay, quyền con người không thể tách khỏi hòa bình,
dân chủ và phát triển.

NTHTT và các chủ thể tham gia tố tụng khác.
Pháp luật quốc tế về quyền con người có những chuẩn mực tối thiểu
đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong TTHS, được áp
dụng trong phạm vi toàn cầu, không phân biệt hệ thống chính trị, trình độ phát

15


triển kinh tế, xã hội. Hệ thống các chuẩn mực tối thiểu về quyền con người
trong TTHS được quy định trong nhiều văn kiện quốc tế, đáng chú ý nhất là
Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền
dân sự, chính trị năm 1966; Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù
nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm
1985 và một loạt các chuẩn mực tối thiểu khác về vai trò của luật sư, các quan
chức thực thi pháp luật, cơ quan công tố; về tính độc lập của cơ quan tư
pháp.vv.. Các quy định trong các văn kiện này tạo thành hệ thống các chuẩn
mực tối thiểu về quy tắc ứng xử của CQTHTT và NTHTT trong hoạt động
thực thi pháp luật cũng như đảm bảo cho các chủ thể tham gia tố tụng có các
quyền pháp lý nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giảm thiểu
nguy cơ xâm hại từ CQTHTT, NTHTT cũng như các chủ thể tham gia tố tụng
khác. Các chuẩn mực pháp lý tối thiểu đảm bảo quyền con người trong hoạt
động tố tụng được quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế đều dựa trên
các nguyên tắc có tính chất nền tảng, xuyên suốt quá trình tố tụng như:
nguyên tắc suy đoán vô tội; nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc
bình đẳng; không bị tra tấn, nhục hình; nguyên tắc đối xử nhân đạo và tôn
trọng nhân phẩm con người...
Trong đó, các quyền con người của bị can, bị cáo, do đang ở vào tình
thế bất lợi vì có hành vi vi phạm pháp luật hình sự hoặc đang bị buộc tội là
đối tượng được pháp luật hình sự đặc biệt quan tâm, bảo vệ. Do tính chất hoạt
động của CQTHTT, NTHTT trong TTHS nói chung, trong giai đoạn khởi tố,

hiện trong các nguyên tắc sau đây:
Chuẩn mực quốc tế bảo đảm quyền con người tại giai đoạn chưa xét xử
- Những tù nhân bị bắt giữ hay đang chờ xét xử phải được giam giữ
riêng (không giữ, giam cùng tù nhân đã tuyên án).

17


- Những tù nhân trẻ tuổi chưa xét xử phải được giam giữ riêng (không
chung với những người lớn tuổi) và về nguyên tắc phải được giam giữ trong
những nhà tù riêng (nhà tù giam giữ người chưa thành niên).
- Những tù nhân chưa xét xử phải được ngủ một mình trong những
buồng riêng, có chú ý đến phong tục địa phương, phong tục, tập quán của họ.
- Và trong chừng mực có thể, nếu muốn, người bị giữ, giam được mua
thức ăn từ bên ngoài bằng tiền của họ, hoặc nhờ ban quản lý nhà tù hoặc qua
gia đình hay bạn bè của họ. Nếu không thì ban quản lý nhà tù phải cung cấp
thức ăn cho họ.
- Tù nhân chưa xét xử phải được phép mặc quần áo của mình nếu nó
sạch và phù hợp; nếu tù nhân đó mặc quần áo tù, thì nó phải khác với quần áo
cấp cho những tù nhân đã tuyên án.
- Tù nhân chưa xét xử phải luôn được tạo cơ hội việc làm, nhưng không
bị yêu cầu làm việc. Nếu tù nhân đó lựa chọn làm việc thì người đó phải được
trả công.
- Tù nhân chưa xét xử được phép tìm kiếm, mua những thứ như sách
báo, tài liệu viết và những phương tiện nghề nghiệp khác phù hợp với lợi ích
của việc quản lý tư pháp và an ninh, với trật tự của nhà tù, bằng tiền của tù
nhân đó hay của một bên thứ ba.
- Tù nhân chưa xét xử được phép cho bác sĩ hay nha sĩ riêng của tù
nhân đó khám và điều trị nếu đề nghị của người đó là chính đáng và nếu
người đó có khả năng chi trả những khoản chi phí phát sinh.

- Quyền được có mặt khi xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ sự giúp
đỡ về pháp lý do mình lựa chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ về mặt pháp lý thì
phải được thông báo về quyền này; trong trường hợp do lợi ích của công lý
đòi hỏi, phải bố trí người đó một sự giúp đỡ về mặt pháp lý mà không phải trả
tiền nếu người đó không có đủ điều kiện trả.

19


- Được thẩm vấn hoặc nhờ người thẩm vấn những nhân chứng buộc tội
mình và được mời người làm chứng, người đại diện cho mình tới phiên toà và
thẩm vấn tại toà với những điều kiện giống như đối với những người làm
chứng buộc tội mình.
- Được giúp đỡ về phiên dịch không phải trả tiền nếu người đó không
hiểu hoặc không nói được ngôn ngữ sử dụng trong phiên toà.
- Không bị ép buộc phải chứng minh chống lại chính mình hoặc buộc
tự thú là mình có tội.
- Xét xử người chưa thành niên phải theo thủ tục đặc biệt có tính tới độ
tuổi của các em.
- Khi bị kết án là phạm tội, có quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn xem
xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo pháp luật.
- Được bồi thường thiệt hại nếu có sự nhầm lẫn tư pháp, trừ trường hợp
được chứng minh rằng việc không kịp thời làm sáng tỏ sự thật một phần hoặc
toàn bộ vụ án do chính bản thân người bị kết án gây ra.
- Không bị đưa ra xét xử hoặc bị trừng phạt lần thứ hai về cùng một
hành vi phạm tội mà một bản án đã tuyên, đã có hiệu lực pháp luật, hoặc về
một tội phạm mà người đó được tuyên trắng án phù hợp với pháp luật tố tụng
của mỗi nước.
Chuẩn mực quốc tế bảo đảm quyền con người sau khi xét xử
Sau khi xét xử, bản án có hiệu lực pháp luật, người phạm tội phải chấp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status