Áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự thực tiễn tại viện KSND tỉnh nghệ an - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN VĂN LONG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT
TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
- QUA THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRẦN VĂN LONG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT
TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
- QUA THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60380101

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế

Hà Nội – 2017


tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân...........................................................50
1.2. Các yếu tố bảo đảm việc áp dụng pháp luật của viện kiểm sát nhân dân trong
kiểm sát ở giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ...........................................51
Kết luận chƣơng 1 ...................................................................................................61
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM
SÁT TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN...............................................62
2.1. Những kết quả đạt được về áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát trong giai
đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân tỉnh nghệ an từ năm
2013 đến năm 2016 ...................................................................................................62
2.2. Những hạn chế về áp dụng pháp luật về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn
khởi tố, điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát nhân dân tỉnh nghệ an từ năm 2012
đến năm 2016 và nguyên nhân của những hạn chế đó ..............................................72
2.2.1. Những hạn chế về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai
đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An ..........................................72


2.2.2. Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế về chất lượng áp dụng pháp luật về
hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Nghệ An ....................................................................................................................76
Kết luận chƣơng 2 ...................................................................................................83
Chƣơng 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN
KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN .....................................................................................................84
3.1. Quan điểm và yêu cầu khách quan nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật về
hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Nghệ An .............................................................................................84
3.1.1. Quan điểm cơ bản nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong giai đoạn
khởi tố, điều tra vụ án hình sự ...................................................................................84


PL

: Pháp luật

QCT

: Quyền công tố

THQCT

: Thực hành quyền công tố

KSHĐTP

: Kiểm sát hoạt động tư pháp

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

VKS

: Viện kiểm sát

XHCN

quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đẩy mạnh cải cách tư pháp”
của Hà Mạnh Trí, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1/2003; “Đặc trưng
của áp dụng pháp luật hình sự " của Chu Thị Trang Vân đăng trên Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 3/2006; “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư
pháp ở nước ta hiện nay” của Đỗ Văn Đương, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số
7/2006; Trần Công Phàn, "Một số vấn đề về chủ trương tăng cường trách nhiệm
công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải
cách tư pháp", tạp chí Kiểm sát 03/2012; Lê Thị Tuyết Hoa, "Một số nội dung trọng
tâm để thực hiện chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều
tra theo yêu cầu cải cách tư pháp", tạp chí Kiểm sát số 6 16/2012; Nguyễn Hòa
Bình, "Một số định hướng nghiên cứu sửa đổi, bổ sung BLTTHS đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp", tạp chí Kiểm sát 16/2012 và tạp chí Kiểm sát số 21/2012;
Nguyễn Thị Thủy, "Sửa đổi bổ sung Bô luật TTHS nhằm thực hiện chủ trương của
Đảng - Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế

3


gắn công tố với điều tra”, tạp chí Kiểm sát 21/2012; Đào Trí Úc, "Đề xuất đổi mới
VKS ở Việt nam từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới", tạp chí Kiểm sát số
12/2013; Lê Đức Xuân, Phạm Lan Phương, "Vai trò cơ quan công tố các nước trên
thế giới trong việc KSĐT các vụ án hình sự", tạp chí Kiểm sát số 13/2013; Lê Thị
Tuyết Hoa, "Thực trạng và một số kiến nghị nhằm tăng cường trách nhiệm công tố
trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra", tạp chí Kiểm sát số
08/2014;
Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong thực
hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp ở những giai đoạn khác nhau của tố
tụng hình sự. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu, khảo sát về áp dụng
pháp luật về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An. Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên

+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng
pháp luật về hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra của Viện kiểm sát,
đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân. Đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện
trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
2/6/2005 của Bộ Chính trị.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác - Lê nin theo
quan điểm phát triển toàn diện, lịch sử cụ thể. Đồng thời, kết hợp với các phương pháp
nghiên cứu khác như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh...
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và
có hệ thống về áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố,

5


điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, nên có một số
đóng góp mới sau đây:
- Đánh giá khách quan về thực trạng, làm rõ nguyên, những hạn chế của hoạt
động kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra của VKSND tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong
THQCT, KSHĐTP ở giai đoạn khởi tố, điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng
chống tội phạm và cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho Điều tra

thẩm quyền thực hiện.
Tính chất tổ chức thực hiện quyền lực của Nhà nước của áp dụng pháp luật
thể hiện ở chỗ hoạt động này chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhân viên
nhà nước có thẩm quyền tiến hành, không theo ý chí của các chủ thể mà là theo quy
định của pháp luật. Quyết định áp dụng quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý thi
hành và được Nhà nước bảo đảm thi hành. Chính vì vậy, áp dụng pháp luật còn là một
hình thức thực hiện quyền lực nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
* Áp dụng pháp luật được thực hiện trong các trường hợp sau:
Thứ nhất: Trong trường hợp cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế nhà
nước, hoặc áp dụng chế tài xử lý đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật.

7


Đây là trường hợp áp dụng pháp luật được áp dụng phổ biến đôí với các tội
phạm hình sự, các vi phạm hành chính.
Thứ hai: Khi quan hệ pháp luật với những quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp
lý cụ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước. Chẳng
hạn, Hiến pháp và Bộ luật lao động có ghi: "lao động là quyền và nghĩa vụ của
công dân", nhưng nếu không có sự hoạt động ra quyết định tuyển dụng lao động của
các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động thì quan hệ lao động cũng không mặc nhiên
phát sinh.
Thứ ba: Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các
bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được. Đây là
trường hợp quan hệ phát luật đã phát sinh, nhưng quyền nghĩa vụ của các bên không
được thực hiện và có tranh chấp, ví dụ như: tranh chấp về hợp đồng thương mại, lao
động, thừa kế.v.v.
Thứ tư: Trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết phải
tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ đó; hoặc
Nhà nước xác nhận sự tồn tại của một số vụ việc, sự kiện thực tế. Chẳng hạn như

Thứ ba: Áp dụng PL là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với những
quan hệ XH nhất định. Đối tượng của hoạt động ADPL là những quan hệ XH cần
đến sự điều chỉnh cá biệt trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong qui phạm PL.
Bằng hoạt động ADPL những qui phạm PL nhất định được cá biệt hóa vào trong
những trường hợp cụ thể của đời sống.
Thứ tư: Áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính sáng tạo. Bởi lẽ những
tình huống dự liệu qui định trong các qui phạm pháp luật chỉ là những dấu hiệu
chung nhất, có tính khái quát cao, trong khi đó những tình huống, sự kiện pháp lý
diễn ra trong thực tế lại hết sức phong phú, đa dạng nên hoạt động ADPL có tính
thực tiễn cao và đòi hỏi tính sáng tạo. Các trường hợp pháp luật chưa qui định hoặc
qui định chưa rõ thì có thể vận dụng sáng tạo bằng cách ADPL tương tự để giải
quyết, việc vận dụng phải phù hợp với qui định chung của pháp luật. Để làm được
điều đó người ADPL không thể máy móc, rập khuôn mà đòi hỏi phải có ý thức pháp
luật cao, có kiến thức tổng hợp, có kinh nghiệm cuộc sống phong phú. Như vậy:
“ADPL là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực nhà nước, được thực
hiện thông qua những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các
tổ chức XH khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa những qui phạm PL
vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể” [11, tr.503].

9


* Hình thức thể hiện của ADPL: Hình thức thể hiện chính thức và chủ yếu
của hoạt động ADPL là văn bản ADPL. Văn bản ADPL được thể hiện trong những
hình thức xác định như: Bản án, quyết định, lệnh. Căn cứ vào nội dung nhiệm vụ
của văn bản ADPL, có thể chia thành hai loại: Văn bản xác định quyền, nghĩa vụ và
văn bản bảo vệ PL chứa đựng những biện pháp trừng phạt, cưỡng chế nhà nước đối
với cá nhân, tổ chức vi phạm PL.
Với tính cách là một mắt xích của cơ chế điều chỉnh PL, văn bản ADPL là văn bản
pháp lý cá biệt mang tính quyền lực do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách

chuyển cho CQĐT để tiến hành điều tra". Cho nên, về lý thuyết hoạt động của VKS
trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin về tội phạm bao gồm những nội dung:
Thứ nhất, kiểm sát việc tiếp nhận (thụ lý) thông tin về tội phạm ở CQĐT và
các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Theo
quy định của BLTTHS năm 1988 và Thông tư liên ngành số 06-TT/LN, VKSND có
nhiệm vụ kiểm sát việc CQĐT đã phát hiện và thụ lý đầy đủ các vi phạm và tội
phạm xảy ra trên địa bàn mình quản lý hay chưa, có trường hợp nào CQĐT không
thụ lý hay không? Lý do không thụ lý. Trong trường hợp VKS nhận được tố giác và
tin báo về tội phạm nhưng CQĐT chưa nhận được thì VKS chuyển đến cho CQĐT
để tiến hành xác minh.
Đối với hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận (thụ lý) các tố giác, tin báo về tội
phạm của VKS thì đây là một công việc có tính chất phức tạp, bởi quy định về thụ
lý các thông tin về tội phạm của CQĐT cũng như các cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra hiện nay thường do ngành dọc quy định, nên đòi
hỏi người cán bộ kiểm sát bên cạnh việc nắm rõ quy định chung của BLTTHS, còn
phải nắm được quy định của CQĐT về việc thụ lý, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội
phạm. Mặt khác còn phải nắm được phương pháp nghiệp vụ về điều tra án hình sự
thì mới có thể phát hiện được các vi phạm của CQĐT. Ví dụ, trong thực tế hiện nay
có nhiều thông tin về tội phạm xảy ra nhưng CQĐT thấy khó phá án hoặc do một
nguyên nhân nào đó hay nhận thức thông thường là không quan trọng nên đã bỏ
ngoài sổ sách thụ lý những đơn thư tố giác của công dân, từ đó mà VKS không thể
kiểm sát đầy đủ số thụ lý các tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT. Trong trường
hợp đó các kiểm sát viên có thể thông qua việc yêu cầu xem các báo cáo của Công
an khu vực, Công an các phường, xã về việc phản ánh các sự kiện có dấu hiệu tội
phạm trong khu vực, sau đó đối chiếu với sổ thụ lý cùng thời điểm sẽ phát hiện ra
CQĐT có vào sổ thụ lý hay không.
Vấn đề kiểm sát việc thụ lý các tố giác và tin báo về tội phạm của các cơ
quan có thẩm quyền điều tra hiện đang gặp nhiều khó khăn do nhận thức và phương
pháp phối hợp giữa hai ngành Công an và VKS chưa có sự thống nhất. Để giải
quyết bất cập trên, trong BLTTHS năm 2003 nhà làm luật đã bỏ quy định về kiểm

phạm không phức tạp là hai mươi ngày, nếu thông tin về tội phạm có nhiều tình tiết
phức tạp phải kiểm tra, xác minh ở nhiều địa bàn khác nhau thì thời hạn giải quyết
có thể kéo dài nhưng không quá hai tháng. Để kiểm sát được chặt chẽ thời hạn giải

13


quyết thông tin về tội phạm của CQĐT thì VKS phải nắm được cụ thể nội dung của
thông tin đó nhằm phân loại và xử lý, nếu thông tin về tội phạm có nội dung rõ
ràng, xác thực và xét thấy hành vi mà đơn thư tố giác hay tin báo phản ánh có đủ
các yếu tố cấu thành tội phạm thì không cần thiết phải chờ hết hai mươi ngày mới ra
quyết định xử lý. Trong trường hợp nói trên mà CQĐT vẫn để kéo dài thời hạn cho
hết hai mươi ngày mới ra quyết định xử lý thì VKS có biện pháp yêu cầu CQĐT
quyết định khởi tố vụ án hình sự để tiến hành hoạt động điều tra.
Tuy nhiên trong thực tiễn hiện nay ở nhiều địa phương do sự phối hợp giữa
hai ngành Công an và VKS trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
chưa được tốt, do nhận thức chưa thống nhất quy định tại Điều 86 BLTTHS. CQĐT
cho rằng, pháp luật cho phép thời hạn 20 ngày kiểm tra, xác minh thì đến ngày thứ 20
ra quyết định giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là không vi phạm pháp luật. Nhận
thức đó làm hạn chế tính kịp thời trong phát hiện cũng như trong việc xử lý tội phạm,
dẫn đến những hậu quả bất lợi cho các cơ quan bảo vệ pháp luật như để thời gian kéo
dài đối tượng phạm tội có thể xóa dấu vết phạm tội hay bỏ trốn gây trở ngại cho công
tác điều tra, truy tố và xét xử. Do đó, VKS phải kiểm sát chặt chẽ thời hạn giải quyết
các tố giác, tin báo về tội phạm để từ đó đề ra yêu cầu, biện pháp cho CQĐT tiến
hành xử lý, giải quyết nhanh chóng, tránh gây ra những hậu quả như đã nêu trên.
Cùng với hoạt động kiểm sát về thời hạn kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo
tội phạm, VKS còn phải tiến hành kiểm sát tính hợp pháp của những biện pháp mà
CQĐT áp dụng trong quá trình kiểm tra, xác minh. Hoạt động kiểm tra, xác minh các
tố giác, tin báo về tội phạm của CQĐT nhằm để xác định có dấu hiệu của tội phạm đã
xảy ra hay không và trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh quyết định khởi tố hoặc

quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền phải có căn cứ
và hợp pháp, kịp thời ngăn chặn ngay từ ban đầu các vi phạm pháp luật của CQĐT.
Ví dụ, như việc ban hành quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ dẫn đến
áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự sai hoặc việc ban hành quyết định không
khởi tố vụ án hình sự trái pháp luật thì sẽ dẫn đến bỏ lọt tội phạm.
Về nguyên tắc, sau khi tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tố giác, tin báo
về tội phạm, nếu phát hiện có dấu hiệu của tội phạm hình sự thì CQĐT phải ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự, ngược lại nếu xác định không có dấu hiệu của tội
phạm hình sự hay có dấu hiệu của tội phạm hình sự nhưng có cắn cứ không khởi tố

15


vụ án thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Tất cả các quyết định này của
CQĐT phải được gửi cho VKS để tiến hành kiểm sát việc khởi tố. Bản chất của
hoạt động kiểm sát việc khởi tố bao gồm hai nội dung là kiểm tra tính có căn cứ và
tính hợp pháp của quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ án hình sự của
cơ quan có thẩm quyền.
Tính có căn cứ là một nội dung cơ bản mà hoạt động kiểm sát khởi tố hướng
vào. Điều 83 BLTTHS quy định: "Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có
dấu hiệu tội phạm", Theo quy định trên thì căn cứ duy nhất để khởi tố vụ án hình sự đó
là khi có đủ cơ sở xác định một cách chính xác có dấu hiệu tội phạm đã xảy ra. Còn
dấu hiệu tội phạm được xác định trên cơ sở nào thì BLTTHS đã liệt kê ra 5 cơ sở tại
Điều 83. Vì vậy, sau khi tiến hành kiểm tra, xác minh các thông tin về tội phạm, CQĐT
xác định chính xác có dấu hiệu tội phạm thì khi đó mới được ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự để mở cuộc điều tra. Ngược lại khi xác định không có dấu hiệu tội phạm thì
CQĐT ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, trong trường hợp mặc dù
xác định có dấu hiệu của tội phạm nhưng có căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự
quy định tại Điều 89 BLTTHS thì CQĐT cũng ra quyết định không khởi tố vụ án hình
sự. Thông qua hoạt động kiểm sát việc khởi tố xét thấy quyết định khởi tố hoặc quyết

động điều tra thì có bổ sung một cơ quan nữa đó là lực lượng cảnh sát biển có thẩm
quyền khởi tố vụ án hình sự khi xác định có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực quản lý
của mình. Ngoài ra, Bộ luật còn quy định khá rõ thẩm quyền chức danh tố tụng ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự, cụ thể đối với CQĐT theo quy định tại Điều 94
Bộ luật thì Thủ trưởng CQĐT là người ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, tuy
nhiên trong thực tế Phó thủ trưởng CQĐT trên cơ sở được ủy quyền cũng được ký
các quyết định này.
Như vậy, khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định
không khởi tố vụ án hình sự, VKS căn cứ vào các quy định của BLTTHS để tiến
hành kiểm sát tính có căn cứ và hợp pháp của các quyết định đó một cách chặt chẽ.
Để thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc khởi tố, VKS phải cùng CQĐT phân loại
và xử lý các tố giác, tin báo về tội phạm và giám sát chặt chẽ việc xác minh của
CQĐT. Đồng thời phải nắm chắc các cấu thành tội phạm của những hành vi bị coi
là tội phạm được quy định trong BLHS, đặc biệt là những vụ án khởi tố theo yêu
cầu của người bị hại thì bảo đảm phải có căn cứ theo quy định của Điều 88
BLTTHS. Còn đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự mà CQĐT và các cơ

17


quan khác có thẩm quyền điều tra gửi đến, VKS cũng phải xem xét chặt chẽ căn cứ
từ chối không khởi tố, bởi vì quyết định không khởi tố vụ án luôn tiềm ẩn khả năng
che giấu tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Điều 89
BLTTHS đã quy định liệt kê ra 7 căn cứ để không được khởi tố vụ án hình sự, do
đó nếu quyết định không khởi tố vụ án hình sự không có một trong các căn cứ quy
định tại Điều 89 thì quyết định đó là vi phạm pháp luật và VKS phải ra quyết định
hủy bỏ ngay quyết định trái pháp luật đó của CQĐT và ra quyết định khởi tố vụ án
hình sự yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra vụ án.
Đối với quyết định khởi tố vụ án hình sự của Tòa án khi được chuyển đến
VKS để yêu cầu điều tra. Nếu qua kiểm tra, xem xét thấy không có căn cứ thì VKS

các quyền công dân.
Để thực hiện chức năng kiểm sát quyết định khởi tố và quyết định không khởi
tố vụ án hình sự, VKS có thể tiến hành thông qua hai phương pháp sau:
+ Trực tiếp tham gia cùng CQĐT phân loại các tố giác, tin báo về tội phạm
ngay từ đầu để xem xét việc quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự
ngay, còn nếu thông tin tội phạm nào phải tiến hành kiểm tra xác minh mới xác định
có hay không dấu hiệu tội phạm thì yêu cầu CQĐT tiến hành kiểm tra xác minh
thông tin đó.
+ Gián tiếp thông qua nghiên cứu các tài liệu liên quan kèm theo quyết định
khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự mà CQĐT gửi đến. Trên cơ sở nghiên cứu
các tài liệu đó VKS có thể xem xét việc khởi tố của CQĐT có đúng hay không.
Tóm lại, thực hiện tốt chức năng kiểm sát việc khởi tố có ý nghĩa vô cùng
quan trọng, thông qua đó VKS sẽ loại trừ ngay từ đầu các vi phạm pháp luật của
CQĐT và yêu cầu CQĐT sớm có biện pháp khắc phục kịp thời để hạn chế việc khởi
tố tràn lan không có căn cứ rồi sau đó phải đình chỉ điều tra hoặc không khởi tố vụ
án không có căn cứ dẫn đến bỏ lọt tội phạm.
1.1.2.2. Giai đoạn điều tra vụ án hình sự
- Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự:
“Tố tụng hình sự là trình tự tiến hành giải quyết vụ án theo qui định của BLTTHS từ
việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự. Quá trình giải quyết
vụ án hình sự phải trải qua những giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn thể hiện một
hướng nhất định của hoạt động tố tụng” [39, tr.9-10].
Giai đoạn tố tụng hình sự là những bước trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng
mang đặc thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng. Có thể được

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status