LUẬN VĂN:
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai
đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự
của Viện kiểm sát
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong
đó có Viện kiểm sát (VKS) là một đòi hỏi có tính cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong
giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: "Viện kiểm
sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp", yêu cầu
trên đã được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức VKS năm
2002.
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự thể
hiện chức năng của VKS, bảo đảm hoạt động khởi tố - điều tra đúng người, đúng tội,
với những người bị bắt, khởi tố - điều tra oan, sai hơn nữa còn làm ảnh hưởng không nhỏ
đến uy tín của ngành kiểm sát nói riêng và các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung trước
quần chúng nhân dân và dư luận xã hội.
Thời gian qua Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn bản pháp luật
như: Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức VKS năm 2002 và BLTTHS năm 2003
nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và VKS nói
riêng. Các văn bản pháp luật trên có nhiều quy định mới liên quan đến chức năng kiểm
sát hoạt động tư pháp của VKS. Vì vậy, cần nghiên cứu làm rõ nội dung các quy định của
luật góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát của VKS.
Từ các yêu cầu đặt ra nói trên, thì việc nghiên cứu chức năng "Kiểm sát hoạt
động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát" là hết
sức cần thiết cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Nên tôi đã chọn đề tài này làm đề tài
cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình
sự là một đề tài rộng. Đề tài này đã được một số tác giả nghiên cứu và các công trình
khoa học đó đã công bố, như: Tác giả Nguyễn Thành Trì, Luận văn cao học luật, năm
1996 "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố điều tra án hình sự"; tác
giả Vũ Thị Xuân Nhuệ, Luận văn cao học luật, năm 1998, "Một số hoạt động kiểm sát
điều tra án kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh". Các công trình khoa học nói trên mặc dù
có đề cập đến chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS, nhưng lại
nghiên cứu đối với vụ án kinh tế hay mới dừng lại ở hoạt động nghiệp vụ kiểm sát khởi tố
- điều tra, mà chưa đi sâu làm rõ về mặt lý luận chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp
trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là một trong hai chức năng chính của VKS. Hơn
nữa, các công trình khoa học đó nghiên cứu trên cơ sở các quy định của các văn bản pháp
luật quy định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự
trước đây, hiện nay các văn bản pháp luật đó đã được sửa đổi, bổ sung với nhiều quy định
điều tra vụ án hình sự. Qua đó thấy được vai trò to lớn của VKS trong công tác đấu tranh
phòng ngừa tội phạm. Luận văn có nêu ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho công
tác Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS.
Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu tác giả có sự so sánh giữa các quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự (BLTTHS) 1988 với các quy định của BLTTHS 2003 để thấy được
những điểm mới liên quan đến hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Hơn
nữa, các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ
nghiên cứu, học tập cũng như làm tài liệu cho các cán bộ kiểm sát trong hoạt động nghiệp
vụ của mình.
5. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
với phương pháp luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đồng thời để phục
vụ các nhiệm vụ khoa đặt ra từ đề tài luận văn, luận văn có sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, so sánh và khảo sát thực tế.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giai đoạn khởi tố - điều tra và hoạt động
kiểm sát khởi tố - điều tra trong tố tụng hình sự.
Chương 2: Pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều
tra vụ án hình sự.
Chương 3: Thực trạng, giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt
động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự.
phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm không phải là các giai đoạn tố tụng hình sự trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự mà các hoạt động đó là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét
lại những vụ án hình sự đã xét xử có kháng cáo và kháng nghị.
Luận văn này không có điều kiện xem xét tất cả các giai đoạn của Tố tụng hình
sự, mà chỉ tập trung vào nghiên cứu chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai
đoạn khởi tố - điều tra. Vì vậy, sau đây chúng tôi sẽ trình bày khái niệm, đặc điểm của
giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự và hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra trong tố
tụng hình sự.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
a) Khái niệm
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng. Trong giai đoạn
này cơ quan có thẩm quyền bào gồm CQĐT, VKS, Tòa án và các cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như cơ quan Kiểm lâm, Hải quan, được
áp dụng một số biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để kiểm tra, xác minh làm rõ
tính xác thực của các tin báo, tố giác về tội phạm đã tiếp nhận. Việc kiểm tra, xác minh
các tin báo, tố giác về tội phạm có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau
tùy thuộc vào tính chất của sự việc, các biện pháp đó có thể là: Yêu cầu cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết và thông tin liên quan đến
tin báo, tố giác về tội phạm; yêu cầu cung cấp các kết luận thanh tra, kiểm tra liên quan
đến thông tin về tội phạm để làm rõ sự việc; khám nghiệm hiện trường thu thập dấu vết
phạm tội; áp dụng biện pháp tạm giữ; lấy lời khai của người bị tạm giữ; lấy lời khai của
người tố giác tội phạm v.v
Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự nên cũng có thời điểm bắt
đầu và thời điểm kết thúc. Thời điểm bắt đầu của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được
xác định từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện hoặc tiếp nhận các thông tin tố
giác, tin báo về tội phạm và thời điểm kết thúc khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết
định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Khoảng thời
gian của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự tùy thuộc vào tính phức tạp hay không phức tạp
quan, Những cơ quan này trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm sẽ
ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
Thứ tư, các biện pháp mà các cơ quan có thẩm quyền được sử dụng trong giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Biện pháp yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội
hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết liên quan đến thông tin về tội phạm; khám
nghiệm hiện trường thu thập dấu vết phạm tội; áp dụng biện pháp tạm giữ; lấy lời khai
của người bị tạm giữ; lấy lời khai của người tố giác tội phạm v.v
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm giai đoạn điều tra vụ án hình sự
a) Khái niệm: Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá
trình tố tụng hình sự được BLTTHS quy định trong 6 chương, từ chương VIII đến
chương XIII. Giai đoạn điều tra được xác định bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ
án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu và kết luận điều tra sang
VKS đề nghị truy tố. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi có đủ các căn cứ do pháp
luật quy định thì vụ án bị đình chỉ điều tra và tất nhiên các hoạt động tố tụng trong giai
đoạn điều tra đối với vụ án đó sẽ chấm dứt, nên trong trường hợp vụ án bị đình chỉ điều
tra thì cũng được coi là thời điểm chấm dứt giai đoạn điều tra vụ án.
Khoảng thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra được Luật
tố tụng hình sự quy định khá cụ thể, theo đó thời hạn điều tra (kể cả các lần gia hạn điều
tra) đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 4 tháng, đối với tội nghiêm trọng không
quá 8 tháng, đối với tội rất nghiêm trọng không quá 12 tháng, đối với tội đặc biệt nghiêm
trọng không quá 20 tháng kể từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự. Riêng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia ngoài các thời hạn điều tra nêu
trên thì Viện trưởng VKSNDTC có quyền gia hạn thêm khi thấy cần thiết, thời hạn gia
hạn thêm không quy định cụ thể mà tùy vào tính chất phức tạp của vụ án mà Viện trưởng
VKSNDTC ấn định thời gian gia hạn.
Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự, bởi kết quả của hoạt động điều tra là để phục vụ cho việc xét xử của Tòa án, mọi
và tình tiết gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định
nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện
pháp phòng ngừa tội phạm.
Thứ ba, chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều chỉ là
CQĐT hoặc các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Các tài liệu
do chính hoạt động của các chủ thể nói trên tiến hành thu thập mới được coi là những
chứng cứ làm cơ sở cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn các tài liệu có liên quan
đến vụ án do các hoạt động khác cung cấp như hoạt động trinh sát thì phải được CQĐT
kiểm tra và thẩm định lại thì mới được coi là chứng cứ để chứng minh tội phạm.
Thứ tư, biện pháp mà các chủ thể áp dụng trong giai đoạn điều tra là mọi biện
pháp do Luật tố tụng hình sự quy định, việc áp dụng các biện pháp đó tùy thuộc vào tính
chất, mức độ của từng vụ án. Cụ thể các biện pháp đó là: Hỏi cung bị can; lấy lời khai
người làm chứng; lấy lời khai người bị hại; tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú; khám xét
khẩn cấp; bắt tạm giam v.v Các biện pháp được áp dụng phải theo đúng quy định của
Luật tố tụng hình sự.
1.2. Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự
1.2.1. Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đập tan bộ máy chính quyền
thực dân phong kiến tồn tại trên đất nước ta gần 100 năm. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh vĩ đại thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam đọc bản tuyên ngôn độc
lập đánh dấu sự ra đời của Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam.
Từ khi ra đời, Nhà nước ta đứng trước những yêu cầu của quá trình xây dựng và
củng cố đất nước, trong đó việc tuân thủ pháp luật của của các cơ quan nhà nước và mọi
công dân là một trong những yêu cầu cấp bách cần thực hiện. Muốn đáp ứng được yêu
cầu đó cần tổ chức thành lập một cơ quan nhà nước có chức năng kiểm tra và giám sát
các hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và mọi công dân nhằm bảo
đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Nên, với mục đích đi sâu nghiên cứu làm rõ chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
trong tố tụng hình sự để giúp chúng ta nhận thức và phân biệt hình thức hoạt động của
VKS với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác. Đồng thời đưa đến sự nhận thức
chung, thống nhất của toàn thể cán bộ ngành kiểm sát nhằm thực hiện tốt và có hiệu quả
các quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 trong thực tiễn, góp phần bảo vệ pháp
chế xã hội chủ nghĩa.
Chức năng theo định nghĩa chung nhất được hiểu là những phương diện, hướng
hoạt động của tổ chức, cá nhân thể hiện bản chất của hoạt động đó. Với quy định tại Điều
137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Điều 1 Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì chức
năng kiểm sát các hoạt động tư pháp được coi là vấn đề căn bản xuyên suốt toàn bộ hoạt
động của hệ thống cơ quan VKS, đồng thời thể hiện bản chất trong hoạt động của VKS
nước ta.
Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các văn kiện
của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày 02 /1/2002 của
Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và
Luật tổ chức VKSND năm 2002. Tuy nhiên nhà lập pháp nước ta chưa đưa ra một định
nghĩa pháp lý chung nhất của khái niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" nên dẫn đến
nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về khái niệm này. Một thực tế chúng ta phải thừa
nhận rằng:
Trong suốt một thời gian dài chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến
lĩnh vực tư pháp thể hiện ở việc trước khi có Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX thuật ngữ quyền tư pháp ít được sử dụng trong ngôn ngữ
chính trị, pháp luật và khoa học. Điều đó đã không tạo ra được tiền đề cho
việc nghiên cứu các vấn đề về tư pháp [41].
Trong đó có vấn đề "kiểm sát các hoạt động tư pháp". Cho nên hiện nay xung
quanh khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp đang còn có nhiều quan điểm khác nhau,
tựu chung lại có ba nhóm quan điểm sau:
các cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật
được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án và bản
chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là kiểm
tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát. Từ đó, theo
chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa về khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố
tụng hình sự như sau:
Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là chức năng hiến định của
VKS, có nội dung là giám sát trực tiếp các hoạt động của các cơ quan tư pháp trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực
hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất.
Như vậy, khi đã hiểu được như thế nào là kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố
tụng hình sự, thì vấn đề đặt ra cho chúng ta cần tiếp tục làm rõ đó là: Kiểm sát hoạt động
tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là gì? Đặc điểm của chúng?
Chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS thực chất là kiểm
sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp của CQĐT và các cơ quan khác được
giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Hoạt
động kiểm sát khởi tố - điều tra với tính chất là một chức năng của VKS thì hoạt động đó
có bản chất pháp lý là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng
hình sự được thực hiện bởi CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt
động điều tra trong giai đoạn khởi tố và điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc
khởi tố - điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm đồng thời
cũng không làm oan người vô tội.
Từ bản chất pháp lý đó chúng ta cũng cần xem xét đối tượng của hoạt động kiểm
sát khởi tố - điều tra các vụ án hình sự là gì? và phạm vi của nó?. Theo chúng tôi, đối
tượng của kiểm sát khởi tố - điều tra các vụ án hình sự chính là các hành vi xử sự của các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá
trình khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa
của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố - điều tra
vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách
nghiêm chỉnh, thống nhất.
Xuất phát từ khái niệm đã nêu ở trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của
pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ
án hình sự, cho phép rút ra một số đặc điểm chung của nó như sau:
Thứ nhất, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là
chức năng hiến định của VKS, có phạm vi xác định thời điểm bắt đầu từ khi có dấu hiệu của
tội phạm xảy ra và thời điểm kết thúc khi cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc điều tra vụ án,
chuyển hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra cho VKS đề nghị truy tố hoặc vụ án được đình
chỉ điều tra.
Thứ hai, nội dung của chức năng này chính là việc giám sát trực tiếp mọi hoạt
động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi
tố - điều tra các vụ án hình sự.
Thứ ba, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là
nhằm mục đích bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm
chỉnh và thống nhất.
1.2.2. Mối quan hệ giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp với thực hành quyền
công tố trong tố tụng hình sự
Để quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng đã được nêu rõ trong Nghị quyết
đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết 08 ngày 02/1/2002 của Bộ chính trị về "một số
nhiệm vụ trọng tâm của ngành tư pháp trong thời gian tới" và đặc biệt trên cơ sở nội
dung Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và nội dung của Luật tổ chức VKSND năm
2002, thì vấn đề phân biệt giữa hoạt động thực hành quyền công tố với kiểm sát các hoạt
động tư pháp trong tố tụng hình sự cũng như mối quan hệ giữa chúng với nhau cần phải
được làm rõ nhằm tạo cơ sở cho việc áp dụng vào hoạt động thực tiễn các quy định của
BLTTHS và Luật tổ chức VKSND năm 2002.
pháp luật của Tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án trong công tác thi hành án hình sự
(Điều 23 Luật tổ chức VKSND năm 2002). Do đó giai đoạn thi hành án không có hoạt
động thực hành quyền công tố. Như vậy, trong tố tụng hình sự, phạm vi quyền công tố
được xác định từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi vụ án được xét xử và bản án đã có
hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị.
Từ nội dung trên có thể hiểu quyền công tố là: Một loại quyền lực của Nhà nước,
được Nhà nước giao cho VKS thực hiện để truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội
người đã có hành vi bị coi là tội phạm, được thực hiện trong suốt quá trình khởi tố - điều
tra, truy tố và xét xử tội phạm.
Thực hành quyền công tố: Thuật ngữ thực hành quyền công tố đã được nhà làm
luật nước ta ghi nhận và đề cập trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời
hoạt động thực hành quyền công tố cũng đã gắn liền với hoạt động của VKS hơn 40 năm
qua (từ năm 1960). Thế nhưng trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ
trước đến nay (BLTTHS 1988, cũng như BLTTHS năm 2003 vừa được Quốc hội thông
qua) nhà làm luật chưa ghi nhận một định nghĩa pháp lý về khái niệm "thực hành quyền
công tố".
Khi đã làm rõ được thế nào là quyền công tố, thì một vấn đề cần có sự nhận thức
thống nhất đó là quyền công tố và thực hành quyền công tố là hai khái niệm, hai phạm trù
khoa học pháp lý khác nhau, không thể đồng nhất hai khái niệm này với nhau. Để bảo đảm
thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm thì Nhà nước phải ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội
dung quyền công tố. Các quyền năng pháp lý đó Nhà nước giao cho cơ quan nhà nước nào
thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì
cơ quan ấy được gọi là cơ quan có trách nhiệm thực hành quyền công tố.
ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến pháp năm 1959 cho đến Hiến
pháp 1992 (sửa đổi) thì chức năng thực hành quyền công tố được giao cho cơ quan VKS.
Để thực hiện có hiệu quả chức năng đó VKS được áp dụng "các biện pháp do Bộ luật tố
hoạt động tư pháp. Đây là hai chức năng độc lập, nhưng có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Trong thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của ngành kiểm sát trong lĩnh vực
tư pháp hình sự, VKS các cấp luôn luôn quán triệt đường lối công tác kiểm sát là đấu
tranh chống tội phạm gắn liền với đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong hoạt động tố
tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải
được phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật; không để lọt tội phạm
đồng thời cũng không được làm oan người vô tội. Nên việc thực hiện đồng thời hai hoạt
động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quá trình giải
quyết các vụ án hình sự là mang tính khách quan, do vậy giữa hai hoạt động này luôn có
mối quan hệ với nhau. Mối quan hệ đó được thể hiện ở các phương diện sau:
Khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm, vụ án được khởi tố, tức là quyền công tố
được phát động đã làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố
vụ án hình sự, hoạt động này được VKS thực hiện để bảo đảm việc khởi tố đúng với các
quy định pháp luật, thông qua hoạt động kiểm sát khởi tố xét thấy quyết định khởi tố của
CQĐT không có căn cứ và hợp pháp, tức là quyết định đó trái pháp luật thì VKS yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền chấm dứt ngay hoạt động điều tra, đồng thời ra quyết định hủy bỏ
quyết định khởi tố trái pháp luật, như thế quyền công tố có thể bị triệt tiêu và việc ra quyết
định hủy bỏ tức là VKS đã thực hành quyền công tố. Do vậy, làm tốt chức năng kiểm sát
khởi tố vụ án hình sự sẽ là cơ sở cho việc ra quyết định của VKS được chính xác và đúng
pháp luật nhằm bảo đảm về mặt pháp lý và hạn chế được các vi phạm trong việc thực hành
quyền công tố của VKS. Ngược lại nếu thực hiện kiểm sát khởi tố không tốt sẽ mất đi tính
hiệu quả trong việc thực hành quyền công tố, thậm chí quyết định pháp lý của VKS là vi
phạm pháp luật. Ví dụ, trong trường hợp CQĐT khởi tố vụ án trái pháp luật, nếu kiểm sát
khởi tố không kiểm sát chặt chẽ thì sẽ không phát hiện được vi phạm trong việc ra quyết
định khởi tố của CQĐT thì VKS sẽ không đưa ra được các yêu cầu và biện pháp khắc phục
ngay từ đầu, chính điều đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ án phải đình
chỉ điều tra.
hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính xác, nếu có sai sót, vi
phạm trong việc thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra sẽ kéo
theo sự vi phạm pháp luật của hoạt động thực hành quyền công tố. Tuy nhiên, trong giai
đoạn điều tra khi chức năng thực hành quyền công tố của VKS được thực hiện cũng sẽ
làm tiền đề phát sinh hoạt động kiểm sát. Ví dụ khi VKS phê chuẩn lệnh bắt khấn cấp của
CQĐT thì làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ người
bị bắt của CQĐT nhằm bảo đảm việc tạm giữ người phải có lệnh hoặc có quyết định phê
chuẩn của VKS, đồng thời bảo đảm thời hạn tạm giữ đúng theo quy định của pháp luật.
Khi truy tố bị can ra Tòa án để xét xử, tức là VKS thực hành quyền công tố, hoạt
động đó thể hiện qua việc ban hành quyết định truy tố. Nhưng quyết định truy tố của
VKS cũng phải bảo đảm tính có căn cứ và tính hợp pháp và điều đó có nghĩa là bản thân
VKS trong giai đoạn truy tố cũng phải đặt trong sự tuân thủ pháp luật. Muốn bảo đảm
quyết định truy tố có căn cứ thì phải dựa trên cơ sở của kết quả hoạt động kiểm sát điều
tra vụ án của VKS, nếu thực hiện tốt hoạt động kiểm sát điều tra thì VKS sẽ nắm được
nội dung của vụ án, những tình tiết buộc tội, tình tiết gỡ tội của bị can và các tình tiết liên
quan khác của vụ án và đó chính là căn cứ vững chắc cho việc truy tố đúng người, đúng
tội và đúng pháp luật, ngược lại nếu VKS thực hiện không tốt hoạt động kiểm sát điều tra
thì có thể dẫn đến việc truy tố oan, sai. Cho nên, hoạt động kiểm sát điều tra là cơ sở rất
vững chắc cho hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố và xét xử. Bên
cạnh đó, hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố lại là tiền đề làm phát
sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS tại phiên tòa xét xử.
Như vậy, giữa kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố trong
lĩnh vực tư pháp hình sự luôn có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó hữu cơ và biện chứng với
nhau, nhiệm vụ của hoạt động này làm tiền đề cho nhiệm vụ của hoạt động kia và ngược
lại; kết quả của hoạt động này là cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động kia và ngược lại.
Mối quan hệ biện chứng giữa hai hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp chỉ song song tồn tại trong phạm vi bắt đầu từ khi tội phạm được phát hiện,
khởi tố điều tra cho đến khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị.
đó đã quy định tổ chức cơ quan VKSND thành một hệ thống độc lập với Chính phủ và chỉ
chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành
Luật tổ chức VKSND năm 1960 để cụ thể hóa chức năng của VKS trong đó có chức năng
kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự. Với việc ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960
đã đánh dấu sự hình thành hệ thống cơ quan VKS từ trung ương đến địa phương, đồng thời
khẳng định chức năng hiến định là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Cũng trong thời gian này VKSNDTC và
Bộ công an đã ban hành nhiều thông tư liên bộ quy định trách nhiệm của hai ngành
trong công tác phối hợp phòng chống và đấu tranh tội phạm, cụ thể là thông tư số 427-
TTLB ngày 28/6/1963 đã quy định trách nhiệm của từng ngành đối với việc điều tra xử
lý tội phạm, thông tư quy định: Cơ quan Công an điều tra đảm nhiệm việc điều tra tất cả
các vụ án phản cách mạng và những tội phạm phức tạp. Còn VKS chủ yếu là làm nhiệm
vụ kiểm sát điều tra, đồng thời trong phạm vi điều kiện và khả năng của mình sẽ trực
tiếp và điều tra một số loại phạm pháp kinh tế và hành vi phạm pháp đã tương đối rõ.
Đến giai đoạn những năm 80, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1980
trong đó quy định chức năng của VKS như sau: "Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ
quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã
hội và các đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành
quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất,
Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự kiểm sát việc
tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình" (Điều
138). Trên cơ sở đó Luật tổ chức VKSND năm 1981 đã quy định cụ thể chức năng kiểm sát
khởi tố - điều tra tại chương II. Tuy nhiên trong giai đoạn này chưa có một văn bản quy
phạm pháp luật nào quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về trình tự thủ tục hoạt động điều
tra, cũng như hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự, từ đó dẫn đến việc gặp
nhiều khó khăn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.