Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang - Pdf 25

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đời sống kinh tế - xã hội của đất
nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Song những ảnh hưởng từ mặt trái
của kinh tế thị trường, tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm diễn biến phức tạp,
một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng về số vụ với tính chất và hậu quả
nghiêm trọng hơn. Kết quả hoạt động của các cơ quan tư pháp trong những năm
gần đây đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị trật tự an
toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
công dân, bảo vệ pháp chế, phục vụ công cuộc đổi mới của Đảng.
Tuy nhiên, hoạt động của các cơ quan tư pháp vẫn chưa đáp ứng được
tình hình mới. Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đẩy mạnh hơn
nữa cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp
trong công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm. Viện
kiểm sát nhân dân là cơ quan được pháp luật trao thực hiện chức năng công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đây là chức năng, nhiệm vụ quan trọng của
Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống các cơ quan tư pháp. Hoạt động áp dụng
pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm, đồng thời góp phần có hiệu quả vào việc giáo dục ý thức
pháp luật. Áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra đối với vụ án hình
sự trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi phải được chú trọng và nâng cao chất lượng
mới đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Công tác thực hành quyền công tố ở
giai đoạn điều tra thực hiện đúng theo quy định của pháp luật sẽ giúp cho cơ
quan điều tra, hoạt động đúng hướng, khởi tố vụ án, khởi tố bị can được đúng
người đúng tội; hoạt động điều tra được đầy đủ, chính xác và kịp thời. Kết quả
1
điều tra vụ án hình sự là điều kiện tiên quyết thiết thực, trực tiếp cho việc thực
hiện quyền công tố, công tác kiểm sát việc truy tố và công tác xét xử của tòa án
được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh làm oan người vô tội và tránh

diện lý luận lẫn thực tiễn để việc áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công
tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang đạt kết quả cao hơn, đáp ứng yêu
cầu cải cách tư pháp. Vì những lý do này, học viên chọn đề tài: "Áp dụng pháp
luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang" làm luận văn tốt nghiệp cao học luật
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu vấn đề liên quan đến áp dụng pháp luật trong hoạt động thực
hành quyền công tố đối với vụ án hình sự trong những năm qua đã được một số
nhà khoa học và cán bộ làm công tác thực tiễn tiến hành, công bố trong nhiều
công trình khoa học. Có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, một số giáo trình
giảng dạy, bài viết trên tạp chí và một số sách chuyên khảo đã nghiên cứu về vấn
đề này. Đáng chú ý là các công trình sau:
- Đề tài nghiên cứu cấp bộ:
+ Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở
Việt Nam từ 1945 đến nay, do Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện năm
1999; ''Nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền
công tố với vấn đề thông khâu và chuyên khâu trong công tác kiểm sát hình sự'',
đề tài nghiên cứu cấp bộ, do Ngô Văn Đọn làm chủ nhiệm đề tài, năm 2004;
+ Sổ tay kiểm sát viên hình sự, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tập I
năm 2006; Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tố tụng hình sự, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2006;
+ Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm của TS Dương Thanh Biểu, Nxb Tư
pháp, 2007;
3
+ Quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều
tra, của TS.Lê Hữu Thể chủ biên, Nxb Tư pháp, năm 2008;
- Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập đến ADPL trong thực
hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân:
+ Luận án tiến sĩ: Quyền công tố ở Việt Nam, của nghiên cứu sinh Lê

7/2006; "Tổ chức và hoạt động của viện công tố ở Việt Nam trong giai
đoạn cải cách tư pháp" của Nguyễn Đức Mai, đăng trên Tạp chí Nhà nước
và pháp luật, số 10/2007; "Viện công tố thay thế Viện kiểm sát nhân dân sẽ
được tổ chức và hoạt động như thế nào?" của PGS.TS Thái Vĩnh Thắng,
đăng trên Tạp chí Luật học, số 2/2008; "Bàn về nguyên tắc tranh tụng
trong tố tụng hình sự Việt Nam" của Nguyễn Văn Hiển, đăng trên Tạp chí
Nhà nước và pháp luật, số 7/2008; "Cải cách tư pháp trong điều kiện xây
dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa" của Vũ Trọng
Hách, đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước số 10/2008; "Viện kiểm sát
nhân dân trong điều kiện của nhà nước pháp quyền" của Nguyễn Đăng
Dung, đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 10/2008.
Các công trình nghiên cứu và bài viết trên đã nghiên cứu về mặt lý luận,
thực tiễn và đề xuất những giải pháp khoa học ở những cấp độ khác nhau, ở các
địa phương khác nhau nhằm bảo đảm việc áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự. Tuy nhiên, ở mỗi địa
phương có những đặc thù khác nhau nên áp dụng cho Hà Giang không tránh
khỏi những bất cập. Kế thừa các kết quả nghiên cứu nêu trên tác giả mạnh dạn
tiếp cận vấn đề áp dụng pháp luật dưới góc độ lý luận về nhà nước và pháp luật
để nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp luật trong thực
hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Hà Giang. Tác giả mong muốn tìm ra giải pháp bảo đảm áp dụng pháp
luật trong thực hành quyền công tố nói chung và ở giai đoạn điều tra vụ án hình
sự nói riêng.
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền
công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
+ Thực tiễn áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn
điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Phân tích cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật và áp dụng pháp luật
trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện
kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật. Trong đó tập trung làm rõ khái
niệm, đặc điểm, vai trò, quy trình và các yếu tố đảm bảo việc áp dụng pháp luật
trong công tác thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân;
+ Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố
ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang.
Phân tích làm rõ những ưu điểm cũng như những hạn chế yếu kém (có thể đưa ra
những ví dụ về vụ án cụ thể để minh họa) và nguyên nhân của những hạn chế,
yếu kém của hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai
đoạn điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang;
+ Phân tích phương hướng, giải pháp để nâng cao chất lượng áp dụng
pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng
cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư
pháp ở nước ta hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng Cộng
7
sản Việt Nam về tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân, phát huy dân chủ, công khai minh bạch đối với hoạt động của các cơ
quan công quyền trong đó có hoạt động của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là
quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết
số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của
Bộ Chính trị.

1.1.1. Quyền công tố, thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra
của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1.1. Quyền công tố
* Khái niệm quyền công tố
Quyền công tố cũng như các chế định pháp luật khác, là một phạm trù
lịch sử, là sản phẩm của xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định,
nó xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước. Ở trên thế giới, do có sự khác biệt
về mặt thể chế chính trị, điều kiện lịch sử, truyền thống văn hóa … nên chế định
công tố cũng có sự khác biệt trong cơ chế vận hành, nhưng quá trình diễn biến
của nó đều thể hiện rõ quy luật tất yếu chung của sự phát triển lịch sử. Đó là,
quyền công tố luôn gắn liền với bản chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu
thành và không tách rời khỏi công quyền.
“Công tố” theo Đại từ điển tiếng Việt, “công” có nghĩa là “thuộc về Nhà
nước, tập thể, trái với tư”, còn “tố” có nghĩa là “nói về những sai phạm, tội lỗi
của người khác một cách công khai trước người có thẩm quyền hoặc trước
nhiều người”, “công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và
phát biểu ý kiến trước Tòa án” [16 tr. 453, 459,1663].
Như vậy công tố có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp
luật hình sự. Bất kỳ nhà nước nào cũng hết sức quan tâm đến lĩnh vực hình sự,
bởi chính pháp luật hình sự là phương tiện cai trị hữu hiệu nhất. Khi một hành vi
9
bị coi là tội phạm được thực hiện sẽ làm phát sinh một quan hệ pháp luật giữa
một bên là nhà nước và bên kia là người phạm tội. Trong mối quan hệ này, nhà
nước là chủ thể quyền lực (quyền lực công), là người thực hiện sự buộc tội, đối
tượng bị nhà nước cáo buộc là người đã thực hiện hành vi tội phạm. Công tố, vì
thế được hiểu là sự buộc tội nhân danh công quyền (nhà nước) đối với người đã
thực hiện hành vi bị coi là tội phạm trước Tòa án.
Ở Việt Nam, quyền công tố và thực hành quyền công tố được nhắc đến
nhiều khi đề cập đến chức năng của Viện kiểm sát các cấp. Hiến pháp năm 1980
là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa ra thuật ngữ thực hành quyền

tụng hình sự. Nếu hiểu quyền công tố như vậy thì đã quá thu hẹp khái niệm, nội
dung, phạm vi quyền công tố và không phản ánh được đầy đủ bản chất của
quyền này. Trên thực tế, hoạt động truy tố và buộc tội của Viện kiểm sát tại
phiên tòa chỉ là một số nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố. Nói
cách khác, truy tố và bảo vệ buộc tội tại phiên tòa chỉ là một số trong các quyền
hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố.
Quan điểm thứ ba cho rằng “quyền công tố là quyền đại diện cho nhà
nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích
nhà nước, xã hội, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật” [31, tr.84]. Đây là quan
điểm phổ biến của ngành kiểm sát trước đây và được đưa vào chương trình
giảng dạy chính thức ở trường Cao đẳng kiểm sát. Theo quan điểm này, quyền
công tố xuất hiện từ khi có nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong
lĩnh vực tố tụng hình sự, cùng với sự phát của xã hội, của các ngành luật nên
quyền công tố được mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng khác như tố tụng dân sự,
tố tụng khác. Theo quan điểm này, trong khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa, khái
niệm quyền công tố được xác định trên cơ sở các khái niệm công tố nhà nước,
công tố xã hội và tư tố. Quyền công tố là quyền của nhà nước giao cho Viện
kiểm sát thực hiện theo luật định. Nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện
11
pháp pháp lý đặc trưng theo luật định được tiến hành với sự liên kết chặt chẽ với
nhau mà Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư
pháp. Quyền công tố là một quyền năng nhằm thực hiện chức năng kiểm sát việc
tuân theo pháp luật, xét về nội dung thực hành quyền công tố là kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hình sự và dân sự và các lĩnh vực tố tụng khác
nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát
hiện, điều tra xử lý theo pháp luật, tăng cường pháp chế thống nhất. Như vậy,
quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công
tố, dẫn đến xóa nhòa ranh giới và tính đặc thù của tố tụng hình sự và các lĩnh
vực tố tụng khác. Quan điểm nêu trên đã thể hiện sự đồng nhất giữa khái niệm
quyền công tố nhà nước với khái niệm thẩm quyền của Viện kiểm sát trong quá

án… Quyền công tố trong các giai đoạn tố tụng khác nhau thi không giống nhau
về nội dung cũng như hình thức thực hiện. Trong tố tụng hình sự, thực hiện
quyền công tố có nghĩa là nhà nước thực hiện sự buộc tội đối với người phạm tội
cụ thể, còn trong các hình thức tố tụng khác, thực hành quyền công tố được hiểu
là việc nhà nước trực tiếp hay gián tiếp (bằng văn bản)quy lỗi cho một người hay
một pháp nhân nào đó trong việc thực hiện một hay nhiều hành vi vi phạm pháp
luật tương ứng. Như vậy, sự buộc tội chỉ là một trong những nội dung của công
tố, bởi công tố ngoài buộc tội (quy lỗi hình sự) còn là việc quy lỗi cho người
khác. Hiểu khái niệm quyền công tố như quan điểm trên là chưa hoàn toàn chính
xác, bởi hoạt động của Viện kiểm sát và tòa án không phải lúc nào cũng nhằm
truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một người nào đó. Trên thực tế, có không ít
trường hợp hoạt động của hai cơ quan này chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Chẳng hạn, Viện kiểm sát có quyền
khởi tố vụ án dân sự vì lợi ích chung hoặc liên quan đến quyền và lợi ích
hợp pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc
tâm thần.
13
Quan điểm thứ sáu cho rằng “quyền công tố là quyền của nhà nước,
được nhà nước giao cho một cơ quan (ở Việt nam là cơ quan Viện kiểm sát) thực
hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Để làm được
điều này, cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu,
chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội. Trên cơ sở đó truy tố bị can
ra trước tòa án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa.” [71, tr40]. Theo quan
điểm này, quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người
phạm tội. Quyền công tố chỉ được xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp
luật đã gắn liền không thể tách với việc nhân danh nhà nước chống lại hình thức
vi phạm pháp luật nghiêm trọng (tội phạm), đó là lĩnh vực tố tụng hình sự. Do
vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà không có trong các
lĩnh vực khác.
Như vậy có thể thấy, về khái niệm quyền công tố có nhiều quan điểm

- Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa VII
khẳng định: “Tập trung làm tốt chức năng công tố, bảo đảm mọi hành vi phạm
tội đều bị phát hiện , xử lý nghiêm minh, kịp thời, đặc biệt là tội xâm phạm an
ninh quốc gia và tội tham nhũng. Đối với việc bắt giữ, xét xử oan, sai cần truy
cứu trách nhiệm của người ra lệnh và người thừa hành đồng thời minh oan công
khai, thỏa đáng đối với người bị bắt giữ, xét xử oan sai, bảo đảm quyền công dân
đúng pháp luật”.[4. tr.38]
- Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ:
“Viện kiểm sát tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp”[8, tr.49]
- Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban Chấp
hành trung ương Đảng nêu rõ: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp”
- Theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp 1992 đã được sửa đổi, bổ sung
năm 2001 và Điều 1, Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy
định Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng cơ bản là thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
15
- Trong báo cáo thẩm tra của ủy ban pháp luật của quốc hội số 729 ngày
14/3/2002 về dự án Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã xác định: “Hoạt
động công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ việc phát hiện, khởi tố vụ
án đến truy tố bị can và tranh tụng tại phiên tòa”.
Từ những ý kiến phân tích như trên tác giả đi đến kết luận: Quyền công
tố ở Việt nam là quyền của nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện các
quyền năng theo quy định của pháp luật để phát hiện tội phạm và truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội trước phiên tòa.
* Đối tượng, nội dung và phạm vi của quyền công tố
- Đối tượng của quyền công tố: là cái mà quyền công tố tác động vào
nhằm đạt được mục tiêu cụ thể nào đó như lợi ích chung của xã hội, bảo đảm trật
tự xã hội và pháp luật, trừng trị người phạm tội… Hiện nay có nhiều quan điểm

tán đồng với quan điểm thứ sáu về khái niệm quyền công tố như đã nêu ở trên
thì đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội.
- Nội dung của quyền công tố: Còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về
nội dung của quyền công tố, nhưng xuất phát từ quan điểm về bản chất của
quyền công tố là sự buộc tội nhân danh nhà nước, đối tượng của quyền công tố
là tội phạm và người phạm tội, tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng: “nội
dung của quyền công tố chính là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi
tội phạm” [71, tr40]. Còn việc tiến hành những biện pháp gì và cơ quan nhà
nước nào được giao thực hiện các biện pháp ấy để truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội lại là thực hành quyền công tố.
- Phạm vi quyền công tố: Giống như khái niệm, đối tượng, nội dung của
quyền công tố, hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau về phạm vi của quyền công
tố cả về không gian lẫn thời gian:
Về phạm vi không gian: Có nhiều quan điểm cho rằng quyền công tố chỉ
có trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Tuy nhiên bên cạnh đó còn không ít những
17
quan điểm cho rằng quyền công tố không những có trong lĩnh vực tố tung hình
sự mà còn trong các lĩnh vực khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố
tụng kinh tế, tố tụng lao động. Xuất phát từ quan điểm coi quyền công tố là
quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội, tác
giả đồng tình với quan điểm cho rằng, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố
tụng hình sự.
Về phạm vi thời gian (tức thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công
tố): Hiện nay còn nhiều quan điểm:
Quan điểm thứ nhất cho rằng “phạm vi quyền công tố được giới hạn từ
khi kết thúc việc điều tra tội phạm, vụ án hình sự được chuyển sang Viện kiểm
sát để truy tố người phạm tội ra tòa và chấm dứt sau khi tòa án xét xử xong và
tuyên một bản án có hiệu lực pháp luật.” [62, tr.117] . Như vậy, phạm vi quyền
công tố chỉ tồn tại ở giai đoạn xét xử sơ thẩm. Loại quan điểm này đã thu hẹp
không chỉ về nội dung mà cả về phạm vi quyền công tố. Mặt khác, nếu quan

trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong mối quan hệ với các cơ
quan tư pháp nói riêng cũng như chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, đặc
biệt là trong tố tụng hình sự.
* Khái niệm thực hành quyền công tố
Ở nước ta từ trước tới nay, trong các tài liệu pháp lý chủ yếu đề cập đến
vấn đề quyền công tố, trong khi đó việc nghiên cứu để làm rõ khái niệm, nội
dung, phạm vi thực hành quyền công tố, mối quan hệ giữa thực hành quyền công
tố với việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động tư pháp còn ít được đề cập tới. Trong nhận thức của không ít người làm
công tác nghiên cứu và thực tiễn trong cũng như ngoài ngành kiểm sát đã nhầm
lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố trên các phương diện như:
đối tượng, nội dung, phạm vi. Họ luôn gắn quyền công tố chỉ với viện kiểm sát,
coi đó là quyền của viện kiểm sát. Do đó không lý giải được nhiều vấn đề như
19
việc cơ quan điều tra, tòa án … sử dụng các quyền năng pháp luật quy định để
khởi tố vụ án, bị can, ra quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp
ngăn chặn… thì có phải các cơ quan này cũng thực hành quyền công tố hay
không? Hay hành vi nào là thực hành quyền công tố, hành vi nào là thực hiện
chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Chúng ta biết rằng, quyền công tố là
quyền nhân danh công quyền buộc tội người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó
trước phiên tòa. Phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện
và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị. Để đảm bảo
việc thực hiện quyền đó, nhà nước quy định các quyền năng pháp lý mà cơ quan
có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội, cơ quan được giao thẩm quyền đưa vụ án ra tòa để xét xử và bảo vệ
việc buộc tội đó gọi là cơ quan thực hành quyền công tố. Việc quy định cơ quan
thực hành quyền công tố ở mỗi nước khác nhau, tùy thuộc vào mỗi nước. Ở
nước ta, nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng này, cho nên chỉ
có Viện kiểm sát mới có chức năng thực hành quyền công tố mà không có cơ
quan nào có được.

hợp các quyền năng tố tụng độc lập để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
và được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Theo đó, nội dung thực hành quyền công tố bao gồm:
- Khởi tố vụ án, khởi tố bị can là những biện pháp phát động quyền công
tố, mở đầu quá trình điều tra xử lý trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và
người thực hiện hành vi phạm tội. Hay nói cách khác là việc nhà nước chính
thức công khai trước toàn xã hội có tội phạm xảy ra và bắt đầu triển khai các
hoạt động thực hành quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực
hiện tội phạm đó. Theo quy định tại Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003,
các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm
21
sát, Tòa án và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lương cảnh sát biển…
Thực tế, việc khởi tố vụ án, bị can chủ yếu do cơ quan điều tra các cấp tiến hành,
số vụ án Viện kiểm sát trực tiếp khởi tố không đáng kể. Tuy vậy, Viện kiểm sát
vẫn là cơ quan duy nhất được quyền khởi tố vụ án hình sự một cách độc lập,
không chịu sự ràng buộc về mặt cơ chế tố tụng của bất kỳ cơ quan nhà nước nào.
Điều đó có nghĩa là, xét đến cùng, việc khởi tố hay không khởi tố vụ án là do cơ
quan thực hành quyền công tố quyết định. Nếu các quyết định khởi tố vụ án
không có căn cứ, không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự thì Viện kiểm
sát với tư cách là cơ quan thực hành quyền công tố, có quyền và có trách nhiệm
phải hủy bỏ. Trong trường hợp phát hiện tội phạm mà các cơ quan được giao
quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án thì Viện kiểm sát có
quyền và có trách nhiệm hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án đó và ra quyết
định khởi tố vụ án. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Viện
kiểm sát cũng có quyền yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết
định vụ án, bị can để xử lý trước pháp luật, có quyền hủy bỏ quyết định khởi tố
hoặc quyết định không khởi tố vụ án của cơ quan điều tra và các cơ quan khác
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Đồng thời, Viện kiểm

tòa phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và với những người tham gia tố
tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; phát biểu quan điểm của Viện kiểm
sát tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm là thực hành quyền công tố của Viện
kiểm sát trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.
Như vậy, có thể thấy những hoạt động trên đây của Viện kiểm sát là
hoàn toàn mang tính độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nào. Ở đây,
Viện kiểm sát thực hiện việc buộc tội đối với bị can, bị cáo và bảo vệ quan điểm
truy tố của mình, không hề có hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Hiện
nay trong lý luận cũng như thực tiễn vẫn còn nhầm lẫn giữa chức năng thực hành
quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát.
23
Những quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát tự quyết định có liên quan đến việc
cáo buộc bị can, bị cáo thì đó là những quyền năng thuộc nội dung thực hành
quyền công tố. Những quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát sử dụng để phát
hiện và yêu cầu xử lý những vi phạm pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố
tụng là những quyền thuộc chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Tuy nhiên
giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt tư pháp luôn đan xen lẫn
nhau, quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, có tác dụng hỗ trợ cho nhau trong
suốt quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Mối quan hệ này song
song tồn tại trong phạm vi bắt đầu từ khi tội phạm được phát hiện khởi tố, điều
tra cho đến khi cơ quan điều tra ra kết luận về quá trình điều tra. Trong mối quan
hệ này đều nhằm đến mục đích chung là bảo đảm việc giải quyết chính xác,
đúng đắn vụ án hình sự. Bởi vì, mục đích của hoạt động thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra là nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội cũng
như các hành vi tội phạm của họ. Hoạt động này phải hết sức đầy đủ, chính xác,
khách quan theo đúng các trình tự, thủ tục, nội dung do pháp luật quy định. Còn
kiểm sát các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra có mục đích bảo đảm các
hoạt động điều tra được đúng đắn, đầy đủ, khách quan, tức là được tiến hành
theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung do pháp luật quy định. Như vậy, cả hoạt
động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn

khoa học pháp lý phân chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức là tuân thủ
pháp luật; chấp hành pháp luật; sử dụng pháp luật; áp dụng pháp luật.
Khác với tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật-
những hình thức thực hiện pháp luật mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện,
áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật luôn có sự tham gia của Nhà
nước. Đây là hình thức thực hiện pháp luật đặc biệt và hết sức phức tạp bởi để
thực hiện được một quy định pháp luật, nhiều khi đòi hỏi sự tham gia của rất
nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau, thông qua nhiều công đoạn, thủ tục khác
25

Trích đoạn Các giai đoạn của qui trình áp dụng pháp luật Bảo đảm pháp lý Bảo đảm về tổ chức Các giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự tại Viện kiểm sát Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng lực lượng cán bộ, kiểm sát viên trẻ,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status