Kháng nghị phúc thẩm các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦN THỊ MINH NGỌC
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN
HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH
HÀ TĨNH,
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. GVC Trịnh Quốc Toản
Hà Nội - 2011 MỤC LỤC
Trang
Mở đầu

Chương 1. Những vấn đề chung về kháng nghị phúc thẩm
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò kháng nghị phúc thẩm hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm kháng nghị phúc thẩm hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân

1.1.2. Vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát
nhân dân

1.2. Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về


Chương 3. Những giải pháp và kiến nghị nâng cao chất
lượng, hiệu quả kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm

sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
3.1. Sự cần thiết tiếp tục hoàn thiện các quy định về kháng
nghị phúc thẩm hình sự nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công
tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

3.2. Những giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự năm về kháng nghị phúc thẩm

3.2.1. Quy định cụ thể các căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình
sự trong Bộ luật tố tụng hình sự

3.2.2. Quy định cụ thể việc gửi bản sao bản án sơ thẩm của
Toà án cấp sơ thẩm cho Viện kiểm sát cấp trên trong Bộ luật tố
tụng hình sự

3.2.3. Quy định cụ thể việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị
trong Bộ luật tố tụng hình sự

3.3. Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả kháng
nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong
thời gian tới

3.3.1. Tăng cường công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng
pháp luật

3.3.2. Tăng cường và đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều

không làm oan người vô tội là vấn đề hết sức quan trọng trong xã hội, đồng
thời cũng là mục đích của tố tụng hình sự.
Viện kiểm sát được Đảng và Nhà nước giao giữ một vị trí quan trọng
trong hoạt động tư pháp. Từ khi được thành lập cho đến nay, ngành Kiểm sát
nhân dân ngày càng lớn mạnh và có những tiến bộ rõ rệt trong hoạt động thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm mọi
hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời; việc truy tố,
xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội
phạm và làm oan người vô tội. Thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình, Viện kiểm sát bảo đảm cho pháp luật nói chung và pháp luật hình
sự nói riêng được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất.
Trong rất nhiều hoạt động của ngành kiểm sát, kháng nghị là một hoạt
động quan trọng nhằm thực hiện chức năng của ngành. Điều 19 Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: “Khi thực hành quyền công tố và
kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ
tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án
nhân dân theo quy định của pháp luật ” [23, 18].
Đặc biệt, kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng riêng biệt
của Viện kiểm sát. Điều 232 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003
quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có
quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân
dân”. Đây là một quyền năng pháp lý quan trọng nhằm đảm bảo cho bản án,
quyết định của Toà án có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

2
Kháng nghị phúc thẩm hình sự chính là một biện pháp để kiểm tra lại
tính hợp pháp của bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án. Thông qua
việc xét xử phúc thẩm, Toà án cấp trên sửa chữa những sai lầm trong việc áp
dụng pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm; hướng dẫn Toà án cấp sơ thẩm khắc
phục những thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật.

và thực tiễn” làm luận văn thạc sĩ luật học. Thông qua việc nghiên cứu cơ sở
lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự và thực tiễn của công tác kháng nghị
phúc thẩm hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hà Tĩnh trong
những năm gần đây, tìm ra nguyên nhân của hạn chế và tồn tại, đưa ra một số
giải pháp và kiến nghị để nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự
theo tinh thần Chỉ thị 03 ngày 19-6-2008 về “Tăng cường công tác kháng
nghị phúc thẩm hình sự” của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao
(VKSNDTC), qua đó thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và
kiểm sát xét xử của ngành Kiểm sát, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư
pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02-01-2002 và Nghị quyết số 49
ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về về Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020.
2. Tình hình nghiên cứu đến đề tài
Kháng nghị phúc thẩm là một quyền năng pháp lý quan trọng của Viện
kiểm sát trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp. Thông qua kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát đảm bảo cho
mọi hoạt động tư pháp được tiến hành đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
khắc phục được tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan
người vô tội. Yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra với công tác đổi mới tổ chức bộ
máy của Viện kiểm sát theo quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp trên tinh
thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị thì việc nâng cao chất lượng

4
kháng nghị phúc thẩm hình sự là một vấn đề cần thiết. Vì vậy, công tác kháng
nghị phúc thẩm hình sự nói riêng, việc thực hiện chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát xét xử đã được chú trọng hơn trong những năm gần đây
thông qua việc tổ chức hội thảo, hội nghị, tổng kết rút kinh nghiệm, v.v
Chính vì vậy, chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự đã được một số tác giả,
công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau:
- Bình luận khoa học BLTTHS, tác giả PGS.TS. Võ Khánh Vinh (chủ

Tĩnh, lý giải các yếu tố ảnh hưởng, đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm khắc
phục và nâng cao hơn nữa chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự ở Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm của Viện kiểm sát;
- Phân tích, đánh giá toàn diện về thực tiễn pháp luật và thực tiễn thực
hiện công tác kháng nghị của VKSND tỉnh Hà Tĩnh từ khi có BLTTHS năm
2003, rút ra những hạn chế, tồn tại và những nguyên nhân của nó;
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng của
công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của ngành Kiểm sát nói chung và
Viện kiểm sát tỉnh Hà Tĩnh nói riêng trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
vụ sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận của kháng nghị phúc thẩm hình sự: khái
niệm, đặc điểm, vai trò, trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự.

6
Hai là, phân tích sâu sắc các quy định của BLTTHS năm 2003 về
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát.
Ba là, đánh giá toàn diện thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm
hình sự ở Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian từ năm 2003 đến
2010, từ đó rút ra những mặt tích cực và hạn chế về công tác kháng nghị phúc
thẩm hình sự cũng như việc áp dụng quy định này trên thực tế xét xử ở Hà
Tĩnh hiện nay.
Bốn là, đề xuất các giải pháp, kiến nghị khả thi nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKSND trong
thời gian tới.

Chương 1: Những vấn đề chung về kháng nghị phúc thẩm hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Những giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Hà Tĩnh.

8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm kháng nghị phúc thẩm hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân
Tố tụng hình sự là một trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo
quy định của pháp luật. Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
cũng như các cơ quan, tổ chức khác góp phần vào việc giải quyết vụ án theo
quy định của pháp luật.
Để đảm bảo cho việc phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tội
được chính xác, xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
nhà nước, tổ chức, đòi hỏi quá trình giải quyết một vụ án hình sự phải diễn ra
qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi
hành án. Mỗi một giai đoạn tố tụng hình sự gắn liền với chức năng, nhiệm vụ
của một cơ quan tiến hành tố tụng, tuy độc lập nhưng lại có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau.

chia ra làm hai chức vị: Thẩm phán xử án và Thẩm phán buộc tội
(Công tố Viện). Ở Toà thượng thẩm có Công tố viện do ông
Chưởng lý đứng đầu, gồm các công chức làm công tác công tố
chuyên trách Công tố viện hoạt động dưới sự quản lý, chỉ đạo,
điều hành của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Nhưng Bộ trưởng Bộ Tư

10
pháp không có quyền trực tiếp làm nhiệm vụ công tố. Các công
tố viện có thẩm quyền tư pháp cảnh sát (điều tra hình sự), thực
hành quyền công tố, điều khiển công việc và giám sát công tác
điều tra của tư pháp cảnh sát [14, 15].
Về sau, trên cơ sở Nghị quyết ngày 29-4-1958 của Quốc hội
khoá I (kỳ họp thứ 8) và các Nghị định số 256/TTg ngày 01-7-
1959, Nghị định số 321/TTg ngày 02-7-1959 của Chính phủ,
Viện Công tố với tư cách là một hệ thống cơ quan nhà nước độc
lập được thành lập tách khỏi Toà án [14, 16].
Đến năm 1960, trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, và Luật Tổ chức
VKSND năm 1960, hệ thống VKSND được thành lập, đặt dưới
sự giám sát trực tiếp của cơ quan quyền lực cao nhất của nhà
nước là Quốc hội, VKSND ngoài chức năng công tố còn thực
hiện chức năng thứ hai là kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Kể
từ khi Viện công tố được thành lập tách khỏi Chính phủ và sau
này VKSND được thành lập cho đến nay, trên thực tế hệ thống
cơ quan VKSND luôn luôn tồn tại như một bộ phận hợp thành
của nhánh quyền lực tư pháp [14, 16].
Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 tuy có sửa đổi một số quy
định về tổ chức và hoạt động của VKSND nhưng chức năng công tố tiếp tục
giao cho VKSND đảm nhiệm. Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa
đổi năm 2001) và Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì VKSND có hai chức
năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Nghị

án phúc thẩm. Viện kiểm sát tỉnh có chức năng thực hành quyền công tố,
kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc giải quyết các vụ án hình sự, vụ án

12
hành chính, các vụ việc dân sự và các việc khác theo quy định của pháp luật
do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Tòa án phúc thẩm thụ lý, giải quyết.
VKSND cấp cao (số lượng và địa hạt tư pháp tương ứng với số lượng
và địa hạt tư pháp của Toà án nhân dân cấp cao), được tổ chức theo khu vực
tương đương với các Tòa thượng thẩm. Viện kiểm sát cấp cao chỉ có chức
năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm.
VKSNDTC được tổ chức tương đương với Toà án nhân dân tối cao
(TANDTC). Về cơ bản, VKSNDTC có chức năng, nhiệm vụ như hiện nay,
trừ thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm.
Các Nghị quyết của Đảng nhấn mạnh phải tăng cường trách nhiệm
công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động
điều tra. Như vậy, hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát không chỉ phải phù hợp
với hệ thống tổ chức 4 cấp của Tòa án mà còn phải phù hợp với hệ thống tổ
chức của Cơ quan điều tra. Số lượng Viện kiểm sát khu vực không những
phải tương đương với số lượng Tòa án sơ thẩm khu vực trên địa hạt tư pháp
mà còn phải cân nhắc cho phù hợp với hệ thống tổ chức của Cơ quan điều tra,
bảo đảm khả năng tăng cường công tố trong hoạt động điều tra, gắn kết chặt
chẽ, liên tục hoạt động công tố với hoạt động điều tra.
Như vậy, chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát chính
là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy
tố, xét xử. Phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi có quyết định khởi
tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kiểm sát các
hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của Viện kiểm sát, thực hiện nhiệm
vụ giám sát mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao
nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố,


14
phát hiện và giải quyết tại cấp xét xử thứ hai, đồng thời đây là một trong
những cơ sở đảm bảo đúng nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” theo
quy định tại Điều 20 BLTTHS.
Hiện nay, BLTTHS hiện hành cũng như các văn bản pháp lý chưa có
một khái niệm thống nhất về kháng nghị phúc thẩm hình sự.
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì "Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
hình sự là một văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Toà án cấp phúc
thẩm xét xử lại vụ án mà Toà án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực
tiếp đã xét xử, nhưng xét thấy không đúng pháp luật" [16, 235]. Nếu hiểu
kháng nghị phúc thẩm hình sự như trên thì chưa phản ánh đúng bản chất của
kháng nghị phúc thẩm là một quyền năng pháp lý riêng biệt mà Nhà nước chỉ
giao cho ngành Kiểm sát, thứ hai việc cho rằng Viện kiểm sát ban hành văn
bản kháng nghị phúc thẩm yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án Toà
án cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng xét thấy không đúng pháp luật là một quan
niệm rất chung chung, ở đây phải đánh giá là để khắc phục các vi phạm
nghiêm trọng đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Tú thì "Kháng nghị phúc thẩm hình sự
là một quyền năng pháp lý đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân, do người có
thẩm quyền thực hiện thông qua một văn bản pháp lý nêu rõ lý do của việc
kháng nghị và yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án; hoặc xét lại
bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án sơ thẩm,
nhưng xét thấy không đúng pháp luật nhằm khắc phục các vi phạm hoặc sai
lầm trong bản án và quyết định đó". [12, 13]. Quan điểm trên khá rõ, tuy
nhiên tác giả cho rằng Viện kiểm sát yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại
vụ án; hoặc xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu hiệu lực pháp luật
khì khá rườm rà, vì thực chất đây là việc xét xử lại vụ án ở cấp xét xử thứ hai,
ngoài ra việc dùng từ xét lại bản án, quyết định gây hiểu nhầm như việc xét
lại bản án ở thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

16
của Bộ Tư pháp quy định “Ông Công tố ủy viên, dưới sự lãnh đạo của Bộ tư
pháp có nhiệm vụ kháng nghị đối với bản án hoặc nghị quyết của Tòa án xét
không đúng pháp luật” [6].
Kháng nghị phúc thẩm hình sự được ghi nhận một cách chính thức tại
Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 1960 “VKSND tối cao và các VKSND địa
phương có quyền: kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của
TAND cùng cấp và dưới một cấp”. Điều 13 luật Tổ chức VKSND năm 1981
quy định: “Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các VKSND có
quyền:…Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân (TAND) cùng cấp và
dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật” [22].
Qua từng giai đoạn lịch sử, các quy định về kháng nghị phúc thẩm hình
sự được thay đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn trong
hoạt động thực hiện chức năng của ngành Kiểm sát. Chế định kháng nghị
phúc thẩm hình sự được sửa đổi, bổ sung nhiều lần cho phù hợp với tình hình
thực tế của mỗi thời kỳ cách mạng Việt Nam. Khi chưa có BLTTHS năm
1988, chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự được thực hiện theo “Bản
hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm về hình sự kèm theo Thông tư số
19/TATC ngày 2- 10-1974 của TANDTC”. Tiếp đến, chế định kháng nghị
phúc thẩm hình sự được quy định tại Phần thứ tư, chương XXII, tại các Điều
206, 207, 208, 210, 211, 212, 213 của BLTTHS năm 1988. Đến khi có
BLTTHS năm 2003, chế định này được quy định tại Phần thứ tư, chương
XXIII ở các Điều 230, 232, 233, 234, 236, 237 238, 239.
Có thể khẳng định, kể từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa cho đến nay, pháp luật tố tụng hình sự quy định chỉ có Viện kiểm
sát mới có quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự. Đây là quyền năng pháp lý
mà Nhà nước chỉ trao cho Viện kiểm sát và chỉ có Viện kiểm sát mới có
quyền này.


là sự nhân danh cá nhân, tổ chức, cơ quan (tổ chức, cơ quan với tư cách là
nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự) để bảo vệ quyền và lợi ích của mình.
Do vậy, khác với kháng nghị, những người có quyền kháng cáo có thể thực
hiện quyền này khi không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, còn đối
với kháng nghị thì chỉ có thể thực hiện khi bản án, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, về nội dung và về áp dụng pháp
luật thì VKSND mới được thực hiện quyền kháng nghị. Viện kiểm sát thực
hiện quyền kháng nghị phúc thẩm nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp của Nhà
nước, xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bị hại cũng như quyền
lợi của các đương sự trong vụ án hình sự. Viện kiểm sát thực hiện kháng nghị
phúc thẩm bằng một văn bản pháp lý trong đó nêu rõ lý do của việc kháng
nghị (khoản 2 Điều 233 BLTTHS năm 2003), đồng thời yêu cầu Toà án cấp
phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại các quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật, nhằm sửa chữa khắc phục các sai lầm của Toà án cấp sơ thẩm
khi ra các bản án hoặc quyết định đó. Khi thực hiện quyền kháng nghị phúc
thẩm, Viện kiểm sát phải tuân theo những quy định của pháp luật về chế định
này, không được kháng nghị tùy tiện, tràn lan theo ý chí của Kiểm sát viên.
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức VKSND năm
2002 thì VKSND có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt
động tư pháp. VKSND là cơ quan duy nhất có quyền truy tố người phạm tội
ra trước Tòa án để xét xử. Đồng thời VKSND cũng thực hiện chức năng kiểm
sát các hoạt động điều tra, xét xử nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét
xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khi phát hiện bản án, quyết định sơ
thẩm có vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp có quyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại
vụ án. Viện kiểm sát vừa bảo vệ quan điểm truy tố của mình vừa bảo đảm cho
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của cấp sơ thẩm đúng người, đúng tội, đúng

19
pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô

có thẩm quyền, đó chính là Viện kiểm sát. Khi kiểm sát xét xử mà phát hiện
bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị
phúc thẩm hình sự để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án.
VKSND là cơ qụan duy nhất có quyền truy tố người phạm tội ra trước
Tòa án để xét xử. Đồng thời Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát điều
tra, kiểm sát xét xử nhằm đảm bảo cho việc truy tố, điều tra, xét xử đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, khi phát hiện bản án, quyết định sơ
thẩm có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, về nội dung, về áp dụng pháp luật
thì Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự để yêu cầu
Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên đây có thể rút ra một số đặc điểm của kháng
nghị phúc thẩm hình sự của VKSND, đó là:
* Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý đặc biệt mà
Nhà nước chỉ giao cho ngành kiểm sát.
Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: đó là Viện kiểm sát
cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Tòa án đã tuyên bản án,
quyết định sơ thẩm. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án
hình sự, VKSND có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án
và quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân chưa có hiệu lực pháp luật.
Kháng nghị phúc thẩm là một hoạt động quan trọng của VKSND và chỉ
Viện kiểm sát mới có quyền kháng nghị phúc thẩm, trong tất cả các văn bản
pháp lý sơ khai nhất cho đến BLTTHS đều quy định: Quyền kháng nghị phúc
thẩm hình sự là quyền năng pháp lý đặc biệt duy nhất chỉ có ở Viện kiểm sát.
Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp, thực hiện chức năng kiểm sát đối với việc áp dụng pháp luật của tất

21
cả các chủ thể trong hoạt động tư pháp, trong đó có TAND. TAND là cơ quan
xét xử có tính độc lập, nhưng hoạt động xét xử của Tòa án chỉ có thể đạt hiệu
quả cao và không có những vi phạm nghiêm trọng khi đặt dưới sự giám sát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status