HOẠT ĐỘNG KIỂM sát điều TRA các vụ án HÌNH sự của VIỆN KIỂM sát NHÂN dân (trên cơ sở số liệu kiểm sát hoạt động điều tra các tội phạm ma túy tại thành phố hồ chí minh) - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-----˜™-----

HỒ THỊ THANH HƯƠNG

HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

(TRÊN CƠ SỞ CÁC SỐ LIỆU ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
Chuyên ngành:Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGUYỄN NGỌC CHÍ


HÀ NỘI - 2013

2


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để

CTTP
KSĐT
KSVTTPL
KTVA, KTBC
QĐKTBC
QĐKTVA
TPVMT
VKS
VKSND

Bộ luật hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự
Cơ quan điều tra
Cấu thành tội phạm
Kiểm sát điều tra
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
Khởi tố vụ án, khởi tố bị can
Quyết định khởi tố bị can
Quyết định khởi tố vụ án,
Tội phạm về ma túy
Viện kiểm sát
Viện Kiểm sát nhân dân

2


MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hoạt động Kiểm sát điều tra (KSĐT) các vụ án hình sự là một trong
những công tác thể hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân

Đảng. Đó là lý do cơ bản làm cơ sở cho tác giả chọn đề tài: “Hoạt động kiểm
sát điều tra các các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở các
số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)” làm luận văn tốt nghiệp.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Ở nước ta hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu ở bậc thạc sỹ về
các đề tài liên quan đến tổ chức, hoạt động của VKSND trong TTHS như:
Quyền công tố của VKSND; Địa vị pháp lý của VKSND trong TTHS;
Quan hệ giữa CQĐT và VKSND trong giai đoạn khởi tố, điều tra; chức năng
của VKSND trong giai đoạn xét xử của VKSND … và một số bài viết đăng
trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí kiểm sát; Tạp chí pháp luật; Tạp
chí Toà án của một số tác giả. Đối với hoạt động KSĐT án hình sự: có giáo
trình công tác KSĐT của trường Cao đẳng kiểm sát Hà nội và một số nghiên
cứu nhỏ được trình bày ở một số hội thảo khoa học về công tác kiểm sát,
nhưng đều dừng lại ở mức độ khái quát chung, thiếu sự đúc kết, đánh giá
bằng kinh nghiệm thực tiễn. Ở bậc thạc sỹ luận văn cao học: “Công tác kiểm
sát điều tra án trị an tại thành phố Hồ Chí Minh từ 1996 - 2000 - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn.” của thạc sĩ Đoàn Tạ Cửu Long. Luận văn cao học:
“Khởi tố bị can và hoạt động kiểm sát việc khởi tố bị can – Thực trạng và một
số kiến nghị” của Thạc sĩ Phạm Văn Đức. Đây là hai công trình nghiên cứu
chuyên sâu về hoạt động KSĐT án hình sự. Đối với hoạt động KSĐT các vụ
án hình sự, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt ở bậc
cao học. Đề tài: “Hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm
sát nhân dân cụ thể là các tội phạm về ma tuý tại thành phố Hồ Chí Minh.” là

2


một nghiên cứu chuyên sâu ở bậc cao học về một công tác kiểm sát cụ thể
trong bối cảnh kinh tế xã hội của TP. Hồ Chí Minh thời gian qua.
3. MỤC ĐÍCH

thống kê, phân tích, so sánh nhằm làm sáng tỏ các vấn đề về lý luận và
thực tiễn của đề tài.
6. CƠ CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và các tội phạm về ma tuý.
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm về ma
tuý tại thành phố Hồ Chí Minh những năm gần đây.
Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm
sát điều tra các vụ án hình sự (các tội phạm về ma túy).

4


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA

Hoạt động điều tra các vụ án hình sự là một trong những công tác thực
hiện chức năng của Viện kiểm sát, là giai đoạn mở đầu thực hành quyền công
tố nhà nước mà nội dung của nó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra, các Điều tra
viên, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và những
người có liên quan khác bảo đảm cho việc điều tra tiến hành khách quan, toàn
diện và đầy đủ.
Phạm vi hoạt động kiểm sát là tội phạm thực tế có xẩy ra không do con
người thực hiện được quy định trong Bộ luật hình sự. Thứ hai là dấu hiệu tội
phạm được đánh giá một cách khách quan, chính xác từ các nguồn thông tin
về tội phạm như đơn tố cáo, thông tin đại chúng, tin báo của các cơ quan nhà

Biên phòng, Kiểm lâm, Tòa án (tòa án điều tra trong trường hợp khi xét xử
phát hiện ra tội phạm mới)
Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định của cơ quan điều tra
Quyết định áp dụng thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. yêu cầu
cơ quan điều tra truy nã bị can
Đề ra yêu cầu điều tra lại hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung, yêu
cầu cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về tội phạm và việc làm vi
phạm pháp luật của Điều tra viên.
Kiểm sát việc khởi tố bị can, hỏi cung bị can và các hoạt động điều
tra khác của cơ quan điều tra, trực tiếp khởi tố bị can, hỏi cung bị can khi
thấy cần thiết.
Quyết định truy tố, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, chuyển vụ án, hủy
bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra

6


Yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi điều tra viên đã vi phạm
pháp luật trong khi tiến hành điều tra
Theo điều luật thì ta thấy Hoạt đông kiểm sát điều tra các vụ án hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân có sáu nhiệm vụ rất quan trọng đòi hỏi các Kiểm
sát viên, chuyên viên phải có kỷ năng nghiên cứu các vụ án đảm bảo không
làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm. Đồng thời, để bảo đảm việc giải
quyết vụ án được khách quan, chính xác, bảo đảm sự vô tư của những người
tiến hành tố tụng trong giai đoạn KTVA, KTBC, khi phát hiện ĐTV được
phân công giải quyết vụ án hình sự thuộc trường hợp phải thay đổi (Điều 43
và 44 BLTTHS 2003) thì VKS kịp thời yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi
ĐTV. Trong trường hợp xét thấy hành vi của ĐTV có dấu hiệu tội phạm thì
yêu cầu CQĐT có thẩm quyền xem xét để khởi tố về hình sự.
1.1.2 Mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra

quan hệ giữa CQĐT với VKS. Mối quan hệ này được thể hiện trong Luật tổ
chức VKSND năm 1960, 1981 và 2002; Sắc luật số 02/SL-76 ngày 15/3/1976
của Hội đồng chính phủ quy định về việc bắt, giam, khám người, khám nhà
ở…và một số Thông tư liên ngành cũng quy định về mối quan hệ này. Văn
bản pháp luật đầu tiên quy định riêng về mối quan hệ phối hợp giữa VKS và
CQĐT trong các giai đoạn tố tụng để giải quyết vụ án hình sự là Thông tư
liên tịch số 472/TT-LB ngày 28/06/1963 của Bộ công an, VKSND Tối cao
quy định tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ giữa VKSND Tối cao và Bộ
công an trong công tác điều tra các vụ án hình sự. Ngoài ra còn có rất nhiều
văn bản quy định về mối quan hệ phối hợp giữa hai cơ quan này. Gần đây
nhất, để hoàn thiện mối quan hệ phối hợp trong giải quyết các vụ án hình sự,
ngày 7/9/2005 liên ngành VKSND Tối cao, Bộ công an, Bộ quốc phòng đã
ban hành thông tư liên tịch số 05/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP về quan hệ
phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số quy định của
BLTTHS năm 2003. Trong đó có những quy định về việc khởi tố và kiểm sát

8


khởi tố. Thông tư này có một số hướng dẫn mới có liên quan đến KTBC như:
Trường hợp ra Quyết định thay đổi QĐKTBC (về tội danh) thì phải thay đổi
QĐ KTVA; nếu trong quá trình điều tra vụ án mà xác định được bị can thực
hiện hành vi phạm tội này để thực hiện hành vi phạm tội khác thì ra quyết
định bổ sung QĐKTBC…[33,Tr. 23,24]
* Tính chất của mối quan hệ
VKS và CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra là các cơ quan thuộc hệ thống cơ quan nhà nước khác nhau,
độc lập với nhau. Mỗi cơ quan đều có chức năng, nhiệm vụ riêng của mình để
thực thi quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, trong lĩnh vực hình sự, các cơ quan
này đều có chung một nhiệm vụ và mục đích là đấu tranh phòng, chống tội

Tòa án, mặc dù VKS có quyền và trách nhiệm kiểm sát hoạt động xét xử của
Tòa án. Khi Tòa án có vi phạm pháp luật, thì VKS chỉ có quyền kiến nghị,
kháng nghị, yêu cầu khắc phục sửa chữa vi phạm. Trong khi đó, mối quan hệ
giữa VKS và CQĐT thì khác hẳn về chất. Tuy CQĐT có quyền KTBC, độc
lập điều tra, hoạch định phương hướng, đề ra các chiến thuật điều tra cụ thể,
CQĐT có quyền ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra…, nhưng
VKS có quyền can thiệp trực tiếp vào hoạt động điều tra của CQĐT. Trong
trường hợp cần thiết, VKS ra các quyết định tố tụng và yêu cầu CQĐT phải
thực hiện. Nhưng ngược lại, CQĐT không có quyền can thiệp vào hoạt động
thực hành quyền công tố và KSĐT của VKS. Các kiến nghị của CQĐT đối
với hoạt động của VKS cũng do VKS cấp trên giải quyết, quyết định. Và
trong khi chờ quyết định của VKS cấp trên, thì CQĐT vẫn phải chấp hành
quyết định, yêu cầu bị kiến nghị đó. CQĐT không thể lấy lý do chờ quyết
định của VKS cấp trên mà trì hoãn việc chấp hành các quyết định, yêu cầu
của VKS (Điều 114 BLTTHS).
Trong quá trình điều tra, CQĐT có quyền ban hành Quyết định Khởi tố
vụ án hình sự, QĐKTBC. Nhưng các quyết định của CQĐT đều nằm dưới sự

10


kiểm sát chặt chẽ của VKS. Với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm
sát hoạt động tư pháp, VKS có quyền và trách nhiệm hủy bỏ QĐKTBC của
CQĐT nếu không có căn cứ và trái pháp luật.Thay vào đó, VKS có quyền ra
QĐKTBC và giao cho CQĐT thực hiện. CQĐT có trách nhiệm thực hiện,
chấp hành nghiêm chỉnh yêu cầu về điều tra của VKS. Đồng thời trong một số
trường hợp nhất định, những lệnh, quyết định của CQĐT liên quan đến hạn
chế các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp
luật, thì phải có sự phê chuẩn của VKS. Nếu những lệnh, quyết định đó mà
không được VKS phê chuẩn thì không có giá trị thi hành.

bên đều phải tác động vào đối tác của mình theo hướng tích cực để nhận được
sự đáp ứng tích cực trở lại, tránh tình trạng “quyền anh, quyền tôi” mà bỏ mặc
đối tác hoặc thỏa hiệp vô nguyên tắc. Mỗi bên phải tạo điều kiện cho nhau để
hoàn thành tốt nhiệm vụ, trách nhiệm được giao. Do đó, chất lượng và hiệu
quả của mối quan hệ tố tụng này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ nhận thức,
phương pháp công tác, uy tín của tập thể và cá nhân tham gia mối quan hệ đó,
thông qua hoạt động cụ thể của thủ trưởng mỗi cơ quan, của KSV, Điều tra
viên và của những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng.
Qua phân tích trên có thể khẳng định rằng, mối quan hệ giữa VKS và
CQĐT là mối quan hệ vừa mang tính quyết định - chấp hành vừa mang tính
phối hợp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Nhưng trong đó, tính quyết
định chấp hành là chủ yếu, cốt lõi.[ 36, tr.46]
1.2. ĐẶC ĐIỂM CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY VÀ ĐIỀU TRA CÁC
TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
1.2.1. Đặc điểm pháp lý các tội phạm về ma túy
Tội phạm về ma túy là hành vi cố ý xâm phạm chế độ quản lý các chất
ma túy của Nhà nước. Cơ sở pháp lý các tội phạm về ma túy được quy định
trong Bộ luật hình sự năm 1999 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2000), các tội phạm
về ma túy được qui định tại Chương XVII. Ban đầu có 10 điều luật (từ điều

12


192 đến điều 200) qui định về 10 tội danh khác nhau. Sau khi được sửa đổi,
bổ sung (6/2009) còn 9 điều luật qui định về 9 tội danh (Điều 199 về “Tội sử
dụng trái phép chất ma túy” đã được bãi bỏ). Cụ thể là các tội danh sau:
- Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy.
(Điều 192);
- Tội sản xuất trái phép chất ma túy (điều 193);
- Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma

Chất ma túy (theo nghĩa hẹp) và các chất hướng thần là các chất gây
nghiện ở dạng tự nhiên hay tổng hợp.
Đặc tính nguy hiểm của chất ma túy về chất hướng thần thể hiện ở khả
năng gây nghiện cho người sử dụng chất này. Con người chỉ cần vài lần sử
dụng chất ma túy hoặc chất hướng thần sẽ có nhu cầu cung cấp thường xuyên
và với liều lượng ngày càng cao hơn. Khi không đáp ứng được nhu cầu, họ sẽ
lên cơn vật vã, đâu đớn về thể xác… và có thể làm tất cả những gì, kể cả tội
ác mà họ cho là cần thiết nhằm giải tỏa cơn nghiện. Sự lệ thuộc ngày cảng lớn
vào chất ma túy hoặc sử dụng chất hướng thần chính là tác hại gây nghiện của
chất ma túy hoặc chất hướng thần đối với con người dùng chất đó.
- Các chất ma túy và hướng thần thường gặp và là đối tượng phổ biến
của các tội phạm về ma túy bao gồm:
+ Thuốc phiện (nhựa thuốc phiện, còn gọi là nhựa đặc của cây anh túc);
+ Cần sa (phần ngọn mang hoa và quả của cây cần sa mà nhựa chưa
được chiết ra);
+ Nhựa cần sa (nhựa đã được tách ra ở dạng thô hoặc đã được tinh chế
từ cây cần sa)
+ Lá coca (lá của cây coca – lá chưa dùng để chiết xuất);
+ Moocphin (chất chiết từ cây thuốc phiện)
+ Côcain;
+ Hêroin;

14


+ Các chất hướng thần như amphetamin…
- Các tiền chất ma túy và hướng thần là các chất dùng để tổng hợp ra
các chất ma túy và các chất hướng thần.
- Cây trồng có chứa chất ma túy là cây thuốc phiện hoặc các cây khác
như cây coca và cây cần sa.

người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng, riêng tội quy định tại Điều 201 đòi hỏi chủ thể đặc biệt đó là
người trong cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ quản lý các chất gây
nghiện - người có chức vụ. [18]
1.2.2. Đặc điểm về điều tra tội phạm về ma túy
* Tính cấp bách: Tính cấp bách của hoạt động điều tra, KSĐT các
TPVMT xuất phát từ chính tính chất khép kín, có tổ chức cao của loại tội
phạm này. Bản thân thông tin về loại tội phạm này rất ít ỏi và rất dễ bị tiêu
hủy, che giấu, kẻ phạm tội luôn ý thức trước về tính nghiêm khắc của hình
phạt nên thường tìm mọi cách để lẩn tránh trách nhiệm hình sự. Do vậy khi có
những thông tin ban đầu về TPVMT các CQĐT phải tiến hành ngay các hoạt
động điều tra ban đầu. Đây là đòi hỏi khách quan, bất kỳ sự chậm trễ nào để
có thể dẫn đến hậu quả khó khăn trong việc điều tra, đôi khi việc điều tra lâm
vào tình trạng bế tắc. Việc xử lý thông tin ban đầu, thu thập chứng cứ về
TPVMT phải được tiến hành nhanh chóng kịp thời thì các thông tin về tội
phạm không bị các tác động khách quan, chủ quan làm biến mất, biến dạng,
mai một đi. Thí dụ như sự chậm trễ trong việc xác định nhân chứng, lấy lời
khai của nhân chứng có thể dẫn đến hậu quả là nhân chứng từ chối hợp tác
với cơ quan tiến hành tố tụng, thay đổi lời khai do bị tổ chức TPVMT đe dọa,
mua chuộc. Đồng bọn chưa bị bắt có điều kiện nhanh chóng tẩu thoát, tiêu
hủy dấu vết tội phạm. Công tác thu nhận thông tin ban đầu về các loại tội

16


phạm an ninh, kinh tế tuy cũng mang tính cấp bách nhưng không cao bằng
TPVMT. Nếu tính cấp bách trong điều tra của nhóm tội phạm an ninh, kinh tế
là do tính “không bền vững” của dấu vết tội phạm thì tính cấp bách trong điều

động tố tụng, nghiệp vụ đơn thuần mà là một nghệ thuật, phải có phương
pháp và chiến thuật phù hợp với từng đối tượng, đồng thời phải có sự hỗ trợ
của những biện pháp trinh sát.
Hoạt động hỏi cung đối chất ở các TPVMT thường áp dụng đối với các
đối tượng bị bắt dạng truy xét, vì dạng này bị bắt qua lời khai của đồng bọn
không có vật chứng.
* Tính phổ biến áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trong hoạt
động điều tra các TPVMT: Xuất phát từ đặc điểm tội phạm học của nhóm
TPVMT là tính khép kín, có tổ chức cao nên việc áp dụng biện pháp ngăn
chặn với hình thức tạm giam trong quá trình điều tra nhóm tội này là phổ biến
thường được áp dụng trên thực tế với tỉ lệ gần như 100%. Trong số các biện
pháp ngăn chặn thì tạm giam là biện pháp nghiêm khắc nhất nhưng đồng thời
cũng là biện pháp hiện tỏ ra hữu hiệu nhất để ngăn chặn không cho kẻ phạm
tội tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho quá trình tiến hành tố tụng. Đây
là điểm giống nhau giữa nhóm TPVMT và nhóm tội phạm an ninh. Chủ thể
nhóm tội phạm kinh tế chức vụ thường có những đặc điểm về thân nhân đặc
biệt như: có trình độ học vấn, có nghề nghiệp, tài sản… vì vậy họ thường có
nhiều mối quan hệ xã hội có tính ràng buộc khiến họ ít khi bỏ trốn sau khi
phạm tội, trừ trường hợp đặc biệt. Do vậy đối với nhóm tội này áp dụng biện
pháp ngăn chặn tạm giam không có tính phổ biến bằng.
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật các TPVMT khi KTBC hầu như bị
áp dụng biện pháp ngăn chặn là tạm giam. Trừ một số trường hợp các
TPVMT nằm ở khoản 1 và khoản 2 của một số tội thì được tại ngoại phục vụ
điều tra, đối tượng thường là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
Điều này nói lên tính nhân đạo của nhà nước ta đối với các loại tội phạm nói
chung và TPVMT nói riêng.

18




+ Về nghĩa vụ của CQĐT kiểm tra xác minh nguồn tin để QĐKT hay
không KTVA. Luật không cho phép CQĐT tiến hành bất kỳ hoạt động điều
tra nào ở thời điểm này trừ hoạt động khám nghiện hiện trường(Điều 150
BLTTHS 2003).
+ Về thời hạn kiểm tra xác minh nguồn tin về tội phạm. Luật quy định
là 20 ngày, trường hợp phức tạp là 2 tháng. Hết thời hạn này CQĐT phải ra
một trong hai quyết định: quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không
khởi tố vụ án.
1.3.2 Kiểm sát khởi tố vụ án ma tuý
Xét ở góc độ giai đoạn thì KTVA ma tuý là giai đoạn đầu tiên của quá
trình tố tụng. Theo quan điểm phổ biến giai đoạn này bắt đầu từ khi cơ quan
có thẩm quyền tiếp nhận những thông tin đầu tiên về tội phạm và kết thúc
bằng việc ban hành quyết định khởi tố (QĐKT) hoặc không KTVA dựa trên
những căn cứ luật định. Xét ở hành vi tố tụng thì KTVA là hệ quả logic của
việc xác minh giải quyết tin báo về tội phạm. Quyết định KTVA là sự kiện
pháp lý kết thức giai đoạn này đồng thời mở đầu cho giai đoạn tiếp theo là
giai đoạn điều tra vụ án. Khởi tố đúng đắn kịp thời là một trong những bảo
đảm quan trọng để phát hiện, ngăn chặn nhanh chóng, kịp thời đối với hành vi
phạm tội đã xảy ra. Ngược lại, có thể dẫn đến kết quả để lọt tội phạm hoặc tội
phạm không bị phát hiện kịp thời tiếp tục gây tác hại, thực hiện tội phạm
mới… Căn cứ khởi tố là khi thông tin về dấu hiệu tội phạm từ những nguồn
do luật định đã được xác minh là phù hợp với thực tế.
Kiểm sát KTVA nhằm bảo đảm mọi TPVMT bị phát hiện đều bị khởi
tố, việc KTVA có căn cứ và hợp pháp. Căn cứ duy nhất để quyết định khởi tố
vụ án (QĐKTVA) hình sự là khi đã xác định sự kiện có dấu hiệu tội phạm,
dựa trên năm cơ sở quy định tại điều 100 BLTTHS 2003. Bản chất của QĐKT
hay không KTVA hình sự chỉ là sự ghi nhận có hay không có sự kiện phạm

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status