¸p dông ph¸p luËt trong thùc hµnh
quyÒn c«ng tè ë giai ®o¹n ®iÒu tra c¸c vô ¸n h×nh sù
cña viÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tØnh Hµ Nam
hµ néi - 2009
Mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1: cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong thực
hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ
án hình sự của viện kiểm sát nhân dân
8
1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của áp dụng pháp luật trong thực
hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân 8
1.2. Quy trình áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai
đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 36
1.3. Các yếu tố bảo đảm việc áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát
nhân dân trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các
vụ án hình sự 43
Chơng 2: thực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án
hình sự của viện kiểm sát nhân dân tỉnh hà nam
53
2.1. Những kết quả đạt đợc về áp dụng pháp luật trong thực hành
quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam 2004 đến 2008 53
2.2. Những hạn chế về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công
tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Hà Nam từ năm 2004 đến năm 2008 và nguyên nhân của
những hạn chế đó 70
Chơng 3: yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lợng áp
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo qui định tại điều 137 Hiến pháp 1992 và điều 1 Luật Tổ chức VKSND
thì VKS có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp. Như vậy, VKS có hai chức năng, trong đó thực hành quyền công tố
trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là một nhiệm vụ hết sức quan trọng,
có thể nói là hoạt động trung tâm của ngành kiểm sát; hầu hết các vụ án bị
tuyên oan sai, bỏ lọt đều có nguyên do từ việc không làm tốt chức trách nhiệm
vụ hoặc nghiệp vụ non yếu của Kiểm sát viên, Điều tra viên ở giai đoạn điều
tra. Chính vì thế Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ đạo:
Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiếm
sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố phải
được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm
đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô
tội… Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm
tranh tụng với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác [2].
Ngày 24 tháng 5 năm 2005, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 48-NQ/TW về
chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2010, định hướng đến năm 2020 có ghi: “Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và
hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng đảm bảo thực hiện tốt chức năng
công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [3]. Ngay sau đó, ngày 2 tháng 6 năm
2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020 xác định: “Nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành Viện
công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra”. Mục tiêu
là “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ
công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa” [4].
Sự quan tâm chỉ đạo của Đảng đối với ngành kiểm sát tại các Nghị quyết nêu
trên cho thấy, VKS là một cơ quan có vị trí quan trọng trong hệ thống cơ quan
6
giải quyết; một số Kiểm sát viên không nắm vững những qui định của pháp
luật, còn lúng túng trong thao tác chuyên môn, không đưa ra được các yêu
cầu điều tra sát thực, không bám sát tiến độ điều tra, trình độ đánh giá
chứng cứ còn hạn chế và thiếu toàn diện, tỷ mỷ dẫn đến nhiều vụ án gặp
không ít khó khăn cho những người tiến hành tố tụng ở giai đoạn sau, làm
ảnh hưởng không nhỏ đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên
địa bàn.
Những yếu kém trên có nhiều nguyên nhân khác nhau, có cả nguyên nhân chủ
quan và khách quan. Trong đó chủ yếu là do ý thức pháp luật, bản lĩnh nghề
nghiệp và năng lực áp dụng pháp luật trong hoạt động điều tra, thực hành
quyền công tố của Điều tra viên, Kiểm sát viên còn nhiều bất cập, yếu kém.
Đặc biệt nhận thức về công tố, quyền công tố của không ít Kiểm sát viên còn
hời hợt, chưa sâu nên trong nhiều trường hợp không phát huy được chức
năng, nhiệm vụ của ngành.
Xuất phát từ thực tế nêu trên và từ nhận thức việc áp dụng pháp luật trong
hoạt động công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là một trong những
vấn đề quan trọng, cần có sự quan tâm hơn nữa về cả phương diện lý luận lẫn
thực tiễn để việc áp dụng pháp luật trong hoạt động thực hành quyền công tố
tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đạt kết quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu
cải cách tư pháp. Vì những lý do này, học viên chọn đề tài: “Áp dụng pháp
luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học
luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về áp dụng pháp luật
trong hoạt động thực hành quyền công tố được công bố trên các tạp chí chuyên
ngành, trong các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, sách tham khảo và trong các
đề tài nghiên cứu cấp bộ do Viểm sát nhân dân tối cao thực hiện. Đáng chú ý
một số công trình như:
8
Viện kiểm sát nhân dân sẽ được tổ chức và hoạt động như thế nào” của Thái Vĩnh
Thắng, đăng trên Tạp chí Luật học, số 2/2008; “Viện kiểm sát nhân dân trong
điều kiện của nhà nước pháp quyền” của Nguyễn Đăng Dung, đăng trên Tạp
chí Dân chủ và pháp luật, số 10/2008.
Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong
thực hành quyền công tố ở những giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu, khảo sát về áp dụng pháp luật
trong hoạt động thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam. Luận văn là công trình nghiên
cứu đầu tiên về vấn đề này ở cấp độ luận văn thạc sỹ. Các công trình nghiên
cứu đã được thực hiện là nguồn tư liệu phong phú cho học viên thực hiện luận
văn tốt nghiệp cao học của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp
luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn về áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra
các vụ án hình sự ở 2 cấp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam từ năm 2004
đến 2008.
4. Mục đích nhiệm vụ của luận văn
- Mục dích của luận văn
Nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn ADPL trong hoạt động công tố
ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự, nhằm đề xuất những phương hướng và
giải pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả ADPL trong hoạt động công tố ở giai đoạn
điều tra tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp, góp phần cùng với các cơ quan tư pháp trong tỉnh bảo vệ tốt hơn quyền,
lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tổ chức và công dân, tăng cường pháp chế
XHCN.
- Nhiệm vụ của luận văn: Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
Nam.
10
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật trong
THQCT ở gai đoạn điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm
và cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Kết quả
nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho Điều tra
viên, Kiểm sát viên trong Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, nhất là những
Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp
để nâng cao trình độ lý luận và thao tác chuyên môn. Đồng thời kết quả nghiên
cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu giảng
dạy, cho học viên, sinh viên các cơ sở đào tạo luật quan tâm đến lĩnh vực này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 7 tiết.
11
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH
QUYỀN CÔNG TỐ Ở GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ Ở GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1.1 Khái niệm áp dụng pháp luật và đặc điểm của áp dụng pháp luật
- Khái niệm áp dụng pháp luật:
Pháp luật XHCN Việt Nam là hệ thống các qui tắc xử sự thể hiện ý chí, lợi ích
của nhân dân lao động, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, có tính bắt buộc
chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện trên cơ sở kết hợp giáo dục, thuyết phục
và cưỡng chế; thu hút sự tham gia tích cực của toàn xã hội vào hoạt động xây
dựng và thực hiện pháp luật, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh [11, tr.337].
Thứ ba: Khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các
bên tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được. Đây
là trường hợp quan hệ phát luật đã phát sinh, nhưng quyền nghĩa vụ của các
bên không được thực hiện và có tranh chấp, ví dụ như: tranh chấp về hợp
đồng thương mại, lao động, thừa kế.v.v.
Thứ tư: Trong một số quan hệ pháp luật mà Nhà nước thấy cần thiết phải
tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia vào quan hệ
đó; hoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại của một số vụ việc, sự kiện thực tế.
Chẳng hạn như việc Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn, xác nhận di
chúc, chứng thực thế chấp cho công dân theo qui định.
Từ những vấn đề phân tích trên, chúng ta có thể nhận thấy: “Áp dụng PL là
một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan
có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể PL thực hiện những
qui định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các qui định của pháp luật ra
các quyết định áp dụng trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội” [11,
tr.500].
13
- Đặc điểm của áp dụng pháp luật
Thứ nhất: ADPL là hoạt động mang tính tổ chức thực hiện quyền lực
nhà nước. Hoạt động ADPL chỉ do những cơ quan nhà nước hay nhà chức
trách có thẩm quyền tiến hành. Pháp luật qui định mỗi cơ quan nhà nước hay
nhà chức trách khác nhau có thẩm quyền ADPL khác nhau, như Thẩm phán
có quyền xét xử ra bản án, Kiểm sát viên có quyền thực hành quyền công tố,
đề ra yêu cầu điều tra hoặc tự mình tiến hành một số hoạt động điều tra trực
tiếp…Trong trường hợp đặc biệt một số tổ chức xã hội được nhà nước uỷ
quyền cũng được ADPL. Như vậy pháp luật là cơ sở xuất phát điểm để các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ADPL thực hiện chức năng của mình. Việc
ADPL được xem là sự tiếp tục thực hiện ý chí của nhà nước được thể hiện
trong pháp luật.
Thứ hai: Hoạt động áp dụng pháp luật phải được tiến hành theo các thủ
nhiệm vụ của văn bản ADPL, có thể chia thành hai loại: Văn bản xác định
quyền, nghĩa vụ và văn bản bảo vệ PL chứa đựng những biện pháp trừng phạt,
cưỡng chế nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm PL.
Với tính cách là một mắt xích của cơ chế điều chỉnh PL, văn bản ADPL là văn bản
pháp lý cá biệt mang tính quyền lực do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà
chức trách hoặc các tổ chức XH được nhà nước trao quyền ban hành trên cơ sở
những qui phạm PL, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của cá
nhân, tổ chức hoặc xác định các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi
phạm PL [11, tr.505].
1.1.2. Áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều
tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và các đặc điểm của nó
1.1.2.1. Giai đoạn điều tra vụ án hình sự
- Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự:
“Tố tụng hình sự là trình tự tiến hành giải quyết vụ án theo qui định của
BLTTHS từ việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án hình sự. Quá
trình giải quyết vụ án hình sự phải trải qua những giai đoạn khác nhau, mỗi
giai đoạn thể hiện một hướng nhất định của hoạt động tố tụng” [39, tr.9-10].
15
Giai đoạn tố tụng hình sự là những bước trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ
riêng mang đặc thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng.
Có thể được hiểu: “Giai đoạn tố tụng là bước của quá trình tố tụng hình sự
tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng
loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ
thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc” [5].
Luật tố tụng hình sự Việt Nam chia quá trình tố tụng thành các giai đoạn bao
gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra vụ án hình sự và truy
tố; giai đoạn xét xử vụ án hình sự và giai đoạn thi hành bản án hình sự. Đối
với hoạt động xét xử phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm không phải là các
giai đoạn tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mà các hoạt
động đó là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại những vụ án hình sự đã xét xử,
biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để chứng minh tội phạm và người
phạm tội, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, xác định nguyên nhân và
điều kiện phạm tội qua đó kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp
phòng ngừa tội phạm.
Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là: Một giai đoạn của tố
tụng hình sự trong đó Cơ quan điều tra, bao gồm: Cơ quan điều tra trong Công
an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra của
VKSND Tối cao và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra, sử
dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ
chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ
án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. Đồng thời thông qua hoạt động điều tra
xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị
các biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan.
- Đặc điểm giai đoạn điều tra: Từ khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự
nêu trên, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của giai đoạn này như sau:
Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn bắt đầu từ khi Cơ quan
tiến hành tố tụng có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến
17
khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và kết luận điều tra sang VKS đề nghị
truy tố hoặc CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án.
Thứ hai, các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp
do Luật tố tụng hình sự quy định để chứng minh tội phạm và người phạm tội,
làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ án bao gồm cả tình tiết buộc tội và tình
tiết gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định
nguyên nhân và điều kiện phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành thực
hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm.
Thứ ba, chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra là
CQĐT, Viện kiểm sát hoặc các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt
động điều tra. Các tài liệu do chính hoạt động của các chủ thể nói trên tiến
hành thu thập mới được coi là những chứng cứ làm cơ sở cho việc truy cứu
diện và giải thích chính thức trong văn bản qui phạm pháp luật của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, cho nên chưa có khái niệm chính thống về quyền
công tố. Mặc dù trên thực tế quyền năng công tố đã được thực hiện: Từ năm
1945 đến năm 1959, khi đó "quyền công tố" nằm trong hệ thống tòa án do các
Thẩm phán buộc tội đảm nhiện, từ năm 1960 đến nay "quyền công tố" do
VKSND đảm nhiệm. Từ đó có thể thấy rằng khái niệm "quyền công tố"
không phải là vấn đề mới, nhưng hiện nay có nhiều quan điểm nhận thức khác
nhau về vấn đề này:
"Công tố" là một từ ghép hán việt. Theo định nghĩa của từ điển tiếng việt thì
"tố" có nghĩa là "nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm
pháp của người khác", còn "công" có nghiã là "thuộc về nhà nước chung cho
mọi người, khác với tư"; công tố là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp
và phát biểu ý kiến trước tòa án" [42, tr.973, 200, 204]. Từ điển luật học ghi
công tố là "quyền của nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội", quyền công tố là "quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với
người phạm tội" [41, tr.188].
Có thể thấy: Công tố là một khái niện rộng, bao gồm các nội dung: Điều tra,
truy tố, buộc tội người phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án. Trong
19
công tố, bên thực hiện buộc tội là nhân danh nhà nước, đối tượng bị nhà nước
cáo buộc là các chủ thể có hành vi vi phạm PL. Công tố, vì thế được hiểu là
"Sự cáo buộc của nhà nước đối với người đã có hành vi vi phạm PL trước
Tòa án"[16, tr.14]. Đó là hình thức nhân danh lợi ích công để tố cáo những
hành vi vi phạm PL ra trước Tòa án để xét xử. Khác với khái niệm tư tố được
hiểu là tự mình nhân danh lợi ích cá nhân, riêng tư để tố cáo khởi kiện ra tòa
án, đề nghị tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình.
Thuật ngữ "quyền công tố" lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp 1980,
sau đó tại Hiến pháp 1992, Bộ luật tố tụng hình sự 1998, Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003, Luật tổ chức VKSND năm 1981, Luật tổ chức VKSND năm
1992, Luật tổ chức VKSND năm 2002.
này cho rằng quyền công tố xuất hiện từ khi có nhà nước và PL, được thể hiện
đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của
XH, của các ngành luật quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự,
kinh tế, lao động, hành chính. Sự tồn tại quyền công tố trong các hoạt động tố
tụng đó là do nhu cầu khách quan, vì nhà nước không thể không thể hiện
quyền lực của mình trong việc giải quyết các vi phạm PL và sự hiện diện
công tố như một điều kiện bảo dảm tính hiệu quả của việc giải quyết các vi
phạm PL của cơ quan tài phán. Chẳng hạn trước đây trong lĩnh vực dân sự,
hành chính, lao động của chúng ta thể hiện rất rõ: Như tại khoản 4 Điều 34
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 qui định:" Viện kiểm
sát có quyền khởi tố vụ án dân sự vì lợi ích chung", hoặc Điều 18 pháp lệnh
thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 qui định: "Viện kiểm sát có
quyền khởi tố vụ án hành chính nếu không ai khởi kiện đối với các quyết định
hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của
người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần". Từ
đó cho thấy, khái niệm quyền công tố được xác định trên cơ sở các khái niệm
công tố nhà nước, công tố XH và tư tố.
21
Cho thấy, quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của
quyền công tố, dẫn đến sự xóa nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa tố tụng hình
sự và các lĩnh vực tố tụng khác; đồng nhất quyền công tố với các quyền khác của
VKS trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế, lao động, dân sự.
- Quan điểm thứ tư cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao
cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và
áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội [47]. Nói cách khác quyền
công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố
điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự.
Hiểu khái niệm quyền công tố theo quan điểm này đã dẫn đến sự nhầm lẫn
giữa các hoạt động buộc tội, xét xử và bào chữa trong tố tụng hình sự, hơn
nữa không chỉ VKS là cơ quan duy nhất thực hành quyền công tố mà cả Cơ
hình thức thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo PL trong tố tụng hình sự, xem
nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt động độc lập của VKS nhân
danh quyền lực công; hoặc quá thu hẹp phạm vi quyền công tố.
Theo Học viên để làm rõ khái niệm quyền công tố cần phải dựa trên những cơ
sở, lập luận sau đây:
Một: Quyền công tố là quyền của nhà nước, thuộc phạm trù lịch sử, nó xuất
hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và thay đổi theo bản chất nhà nước.
Có thể hiểu: Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước thực hiện việc truy
cứu TNHS đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về nhà nước, được nhà
nước giao cho một cơ quan thực hiện, ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát,
nhằm phát hiện tội phạm và truy cứu TNHS đối với người phạm tội. Để làm
được điều này, cơ quan công tố (Viện kiểm sát) phải có trách nhiệm bảo đảm
việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm
tội. Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc
tội đó trước phiên tòa [35, tr.40].
Hai: Quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự, mà không có
trong lĩnh vực tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. "Hoạt động công
tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự, bắt đầu từ khi phát hiện, khởi tố vụ án đến
truy tố bị can và tranh tụng tại phiên tòa"[43]. Trong tố tụng hình sự luôn tồn
23
tại ba chức năng cơ bản là buộc tội, bào chữa (gỡ tội) và xét xử. Nội dung
quyền công tố là buộc tội, truy cứu TNHS đối với người phạm tội và luôn gắn
với quyền tài phán của Tòa án. Tuy nhiên trong một số trường hợp nếu vụ án
bị đình chỉ theo điều 105, 107 BLTTHS; điều 19, 25 và điều 69 BLHS thì
quyền công tố cũng bị triệt tiêu và thực hành quyền công tố cũng chấm dứt.
Ba: Như trên đã phân tích, tố tụng hình sự có ba chức năng, trong đó buộc tội
và gỡ tội đối trọng nhau, còn cơ quan tài phán không thể "vừa đá bóng vừa
thổi còi", tức là không thể vừa thực hành quyền công tố vừa xét xử, cho nên
quyền công tố phải do một cơ quan độc lập đảm nhận thực hiện, ở nước ta
hiện nay là VKS. Mặt khác theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, và các qui định
QCT. Chẳng hạn:
Quan điểm đồng nhất quyền công tố với hoạt động kiểm sát tuân theo PL thì
đối tượng của quyền công tố là sự tuân thủ PL của tất cả các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Trong khi đó
bản chất của hoạt động kiểm sát tuân theo PL và của QCT là hoàn toàn khác
nhau, vì kiểm sát tuân theo PL là việc kiểm tra giám sát tính có căn cứ và hợp
pháp của quyết định hoặc hành vi tố tụng, còn QCT là việc trừng trị những
hành vi phạm tội.
Quan điểm coi quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước để đưa các vụ
việc vi phạm trật tự PL ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích nhà nước, bảo vệ
trật tự PL và quan điểm coi quyền công tố là quyền của nhà nước cáo buộc
đối với cá nhân, tổ chức XH đã vi phạm PL cho rằng: Đối tượng của quyền
công tố là các hành vi vi phạm PL.
Quan điểm coi quyền công tố là quyền của nhà nước nhân danh xã hội truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành
vi vi phạm PL liên quan đến lợi ích chung quan niệm: Đối tượng của quyền
công tố là tội phạm và những vụ việc xâm phạm lợi ích chung trong lĩnh vực
dân sự, lao động, kinh tế, hành chính.
Từ nhận thức về quyền công tố như đã nêu ở phần trên học viên cho rằng:
Quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước - nhân danh công quyền để truy
25