HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN (TRÊN CƠ SỞ CÁC SỐ LIỆU ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH) - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
----------

HỒ THỊ THANH HƢƠNG

HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

(TRÊN CƠ SỞ CÁC SỐ LIỆU ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)
Chuyên ngành:Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS NGUYỄN NGỌC CHÍ

HÀ NỘI - 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƢỜI CAM ĐOAN

1.3.

NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG KSĐT TỘI PHẠM VỀ MA TUÝ .... 19

1.3.1. Kiểm sát việc tiếp nhận, đăng ký, giải quyết tố giác, tin báo tội
phạm về ma tuý ................................................................................... 19
1.3.2 Kiểm sát khởi tố vụ án ma tuý ............................................................ 20
1.3.3 Kiểm sát việc khởi tố bị can ................................................................ 21
1.3.4

Kiểm sát việc áp dụng, thay thế, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn .......... 30

1.3.5 Kiểm sát việc áp dụng một số hoạt động điều tra ............................... 37

Ket-noi.com forum công nghệ, giáo dục


Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TUÝ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY ................................................... 43
2.1

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VỀ MA TÚY TẠI THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH HIỆN NAY ...................................................................... 43

2.2

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC
TỘI PHẠM VỀ MA TUÝ ................................................................. 46



BLTTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự

CQĐT

Cơ quan điều tra

CTTP

Cấu thành tội phạm

KSĐT

Kiểm sát điều tra

KSVTTPL

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật

KTVA, KTBC

Khởi tố vụ án, khởi tố bị can

QĐKTBC

Quyết định khởi tố bị can

QĐKTVA

không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”.
Khẳng định tầm quan trọng của hoạt động KSĐT nói chung và các tội phạm
về ma túy (TPVMT) nói riêng, chỉ thị 53/CT ngày 21.3.2000 của Bộ chính trị
đã xác định rõ: “Để xảy ra sai sót ở địa phương nào trong việc bắt, tạm giữ,
tạm giam, điều tra, truy tố, xét xử thì trước hết VKSND ở nơi đó phải chịu
trách nhiệm”. Trong bối cảnh nền kinh tế, xã hội nƣớc ta hiện nay đang đổi
mới theo hƣớng mở cửa, hội nhập, trƣớc những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao
của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, hoạt động KSĐT các vụ án
hình sự, nhất là các TPVMT tại TP.Hồ Chí Minh chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu
đấu tranh phòng ngừa tội phạm, luôn rơi vào tình trạng quá tải, hiệu quả hoạt
động không cao, còn vấp nhiều sai sót dẫn đến việc truy tố, xét xử các
TPVMT gặp nhiều khó khăn, đôi khi còn dẫn đến sai lầm, làm oan ngƣời vô
tội, bỏ lọt tội phạm. Việc nghiên cứu tìm hiểu về hoạt động KSĐT các vụ án
hình sự hay các TPVMT cũng nhƣ các công tác kiểm sát khác để có thể xác

1


định rõ thực trạng yếu kém, tìm ra và thực hiện đƣợc những giải pháp nhằm
nâng cao chất lƣợng hiệu quả hoạt động KSĐT góp phần làm tốt chức năng
nhiệm vụ mà pháp luật đã trao cho VKSND, đƣợc xác định là yêu cầu mang
tính cấp bách của công cuộc cải cách tƣ pháp theo đƣờng lối đổi mới của
Đảng. Đó là lý do cơ bản làm cơ sở cho tác giả chọn đề tài: “Hoạt động kiểm
sát điều tra các các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở các
số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)” làm luận văn tốt nghiệp.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Ở nƣớc ta hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu ở bậc thạc sỹ về
các đề tài liên quan đến tổ chức, hoạt động của VKSND trong TTHS nhƣ:
Quyền công tố của VKSND; Địa vị pháp lý của VKSND trong TTHS;
Quan hệ giữa CQĐT và VKSND trong giai đoạn khởi tố, điều tra; chức năng

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn nghiên cứu về hoạt động KSĐT các vụ án hình sự với giới
hạn: hoạt động kiểm sát của VKSND đối với hoạt động điều tra vụ án hình sự
ma tuý do Cơ quan cảnh sát điều tra thuộc lực lƣợng cảnh sát nhân dân thực
hiện. Luận văn lựa chọn địa bàn nghiên cứu là TP. Hồ Chí Minh - một trung
tâm kinh tế, văn hóa lớn của cả nƣớc, một điểm nóng của tội phạm, mang nhiều
sắc thái tiêu biểu, có thể xem là một trong những đại diện cho cả nƣớc. Việc
nghiên cứu về tội phạm, quá trình điều tra, truy tố các TPVMT tại TP. Hồ Chí
Minh có thể khái quát hóa ở mức độ nhất định đặc điểm chung của hoạt động
KSĐT trên phạm vi toàn quốc. Giới hạn về thời gian nghiên cứu của luận văn
là khoảng gần 5 năm. Đây là khoảng thời gian có ý nghĩa cho việc đánh giá
thực trạng, đúc kết kinh nghiệm về hoạt động KSĐT loại tội phạm này, đảm
bảo tính thời sự, giá trị thực tiễn cho kết quả nghiên cứu của luận văn.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở: Phƣơng pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin; Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; Các quan điểm, chính sách của
Đảng, pháp luật Hình sự, Tố tụng hình sự của Nhà nƣớc về nhiệm vụ đấu

3


tranh phòng, chống tội phạm ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời,
luận văn còn sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học nhƣ
thống kê, phân tích, so sánh nhằm làm sáng tỏ các vấn đề về lý luận và
thực tiễn của đề tài.
6. CƠ CẤU CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm có 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về hoạt động kiểm sát điều tra các vụ
án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân và các tội phạm về ma tuý.
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra các tội phạm về ma

nhiệm hình sự, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội để có biện pháp đấu
tranh phòng ngừa tội phạm.
Hoạt động kiểm sát điều tra là bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình
sự đối với bị can là có căn cứ hợp pháp, phải có căn cứ chứng minh bị can dã
thực hiện tội phạm và không có các tình tiết để loại trừ trách nhiệm hình sự
đối với bị can. [17]

5


1.1.1 Nhiệm vụ quyền hạn của viện kiểm sát nhân dân trong hoạt
động kiểm sát điều tra
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm
2001) và Luật tổ chức VKSND năm 2002, vai trò chủ đạo, quyết định của
VKS trong hoạt động thực hành quyền công tố và KSĐT nói chung và cụ thể
là kiểm sát việc KTBC đƣợc thể hiện cụ thể hơn và đầy đủ hơn, rõ nét hơn và
đầy đủ hơn ở các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm
của cơ quan này. Theo quy định của BLTTHS năm 2003 (Điều 112), khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra (Điều 126), VKS có quyền quyết
định việc KTVA, KTBC. Đồng thời khi tiến hành hoạt động kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra, theo quy định tại Điều 113
BLTTHS 2003, VKS có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát việc khởi tố.
Tại khoản 2, Điều 36 Điếu 37 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy
định nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân nhƣ sau:
Kiểm sát việc khởi tố vụ án của các cơ quan điều tra, Hải quan, Bộ Đội
Biên phòng, Kiểm lâm, Tòa án (tòa án điều tra trong trƣờng hợp khi xét xử
phát hiện ra tội phạm mới)
Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định của cơ quan điều tra
Quyết định áp dụng thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. yêu cầu
cơ quan điều tra truy nã bị can

mối quan hệ tác động qua lại và ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau. Các mối quan
hệ này đƣợc hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý thức con
ngƣời. Mối quan hệ giữa VKS với CQĐT trong giải quyết các vụ án hình sự
không nằm ngoài quy luật này.
Trong quá trình tiến hành tố tụng đã làm nảy sinh các quan hệ giữa các
cơ quan THTT, bao gồm: mối quan hệ trong nội bộ cơ quan THTT, mối quan
hệ giữa các cơ quan THTT với những ngƣời tham gia tố tụng và các cơ quan
tổ chức có nghĩa vụ tham gia vào việc giải quyết vụ án.
Quan hệ phối hợp giữa VKS với CQĐT có đặc điểm chung nhƣng

7


trong mỗi loại tội, mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm riêng. Vì vậy quan hệ
phối hợp giữa hai cơ quan trong việc giải quyết từng loại tội cụ thể, mỗi giai
đoạn tố tụng cũng có những nét khác nhau. Vấn đề tăng cƣờng mối quan hệ
phối hợp giữa VKSND và CQĐT trong quá trình giải quyết các vụ án, phải
đƣợc đặt trong từng vụ án cụ thể mới đem lại hiệu quả.
Từ nhận thức trên, khái niệm về mối quan hệ giữa VKS và CQĐT có
thể đƣợc hiểu là: Mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo luật định để hỗ trợ lẫn nhau, tạo
điều kiện cho nhau cùng giải quyết các vụ án hình sự nhằm đảm bảo đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
* Cơ sở pháp lý của mối quan hệ
Từ khi VKS đƣợc thành lập theo Hiến pháp năm 1959 đã xuất hiện mối
quan hệ giữa CQĐT với VKS. Mối quan hệ này đƣợc thể hiện trong Luật tổ
chức VKSND năm 1960, 1981 và 2002; Sắc luật số 02/SL-76 ngày 15/3/1976
của Hội đồng chính phủ quy định về việc bắt, giam, khám ngƣời, khám nhà
ở…và một số Thông tƣ liên ngành cũng quy định về mối quan hệ này. Văn
bản pháp luật đầu tiên quy định riêng về mối quan hệ phối hợp giữa VKS và

đƣợc tôn trọng.
Chính từ mục đích chung này đã gắn kết VKS và CQĐT trong quá
trình điều tra. Để giải quyết mối quan hệ trên trong tố tụng hình sự, pháp luật
đã quy định cụ thể, rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng
cơ quan trong từng giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố tội phạm và ngƣời phạm
tội. Mối quan hệ đó vừa mang tính quyết định - chấp hành vừa mang tính
phối hợp trong hoạt động tố tụng hình sự.
- Tính quyết định - chấp hành:
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nhƣ BLTTHS, Luật tổ
chức VKSND, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự… thì CQĐT có quyền và
trách nhiệm khởi tố điều tra tội phạm; VKS có quyền và trách nhiệm thực

9


hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động điều tra của CQĐT. Các quy định
của pháp luật là có căn cứ, là nguyên tắc để triển khai và thực hiện mối quan
hệ giữa VKS và CQĐT.
Nếu đem so sánh mối quan hệ do pháp luật TTHS quy định giữa VKS
và CQĐT với mối quan hệ giữa VKS và Tòa án thì rõ ràng khác nhau về bản
chất. Ở giai đoạn xét xử, tuy Tòa án (hoặc Hội đồng xét xử) là cơ quan có vai
trò chỉ đạo việc xét xử, là cơ quan quyết định quá trình xét xử, nhƣng VKS và
Toà án lại hoàn toàn độc lập với nhau. Mỗi cơ quan đều tự chịu trách nhiệm
về công việc của mình. Tòa án không làm thay hay can thiệp vào công việc
của VKS và ngƣợc lại, VKS cũng không can thiệp vào công việc xét xử của
Tòa án, mặc dù VKS có quyền và trách nhiệm kiểm sát hoạt động xét xử của
Tòa án. Khi Tòa án có vi phạm pháp luật, thì VKS chỉ có quyền kiến nghị,
kháng nghị, yêu cầu khắc phục sửa chữa vi phạm. Trong khi đó, mối quan hệ
giữa VKS và CQĐT thì khác hẳn về chất. Tuy CQĐT có quyền KTBC, độc
lập điều tra, hoạch định phƣơng hƣớng, đề ra các chiến thuật điều tra cụ thể,

Từ sự phân tích trên, có thể khẳng định rằng, ở giai đoạn điều tra, mối
quan hệ giữa VKS và CQĐT là mối quan hệ tố tụng hình sự mang tính quyết
định - chấp hành. Trong đó VKS giữ vai trò rất quan trọng, vai trò chính, có
tính quyết định toàn bộ quá trình điều tra và CQĐT có trách nhiệm chấp hành
các quyết định, yêu cầu về điều tra của VKS.
- Tính phối hợp của mối quan hệ giữa VKS với CQĐT:
Về mặt pháp luật, tuy mối quan hệ giữa VKS và CQĐT trong việc
KTBC đã đƣợc pháp luật TTHS quy định nhƣ đã nêu ở trên, nhƣng vì VKS và
CQĐT thuộc hệ thống cơ quan nhà nƣớc khác nhau, độc lập với nhau, không
có sự ràng buộc trong quan hệ hành chính. Pháp luật TTHS cũng không có
những quy định và chế tài về chế độ trách nhiệm của từng cơ quan, của ngƣời
tiến hành tố tụng, của KSV, của ĐTV một cách cụ thể, rõ ràng để đảm bảo
thực hiện mối quan hệ này. Do đó, trong quá trình điều tra, thực hành quyền

11


công tố và kiểm sát việc KTBC của CQĐT, thì khía cạnh phối hợp giữa hai
cơ quan là không thể thiếu.
Thực tế đã chứng minh, đã biến các quy định của pháp luật về mối
quan hệ tố tụng giữa VKS và CQĐT trong hoạt động thực tiễn là hoàn toàn
không đơn giản. Vùng khuôn khổ pháp luật nhƣ vậy, nhƣng có nơi thực hiện
tốt, có nơi thực hiện chƣa tốt, thậm chí còn tạo nên sự trì trệ cho hoạt động tố
tụng của hai cơ quan. Mối quan hệ giữa hai cơ quan có phát triển tốt hay
không phụ thuộc rất nhiều vào quá trình tƣơng tác giữa hai bên. Trong đó mỗi
bên đều phải tác động vào đối tác của mình theo hƣớng tích cực để nhận đƣợc
sự đáp ứng tích cực trở lại, tránh tình trạng “quyền anh, quyền tôi” mà bỏ mặc
đối tác hoặc thỏa hiệp vô nguyên tắc. Mỗi bên phải tạo điều kiện cho nhau để
hoàn thành tốt nhiệm vụ, trách nhiệm đƣợc giao. Do đó, chất lƣợng và hiệu
quả của mối quan hệ tố tụng này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ nhận thức,

- Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. (điều 197);
- Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 198);
- Tội cƣỡng bức, lôi kéo ngƣời khác sử dụng trái phép chất ma túy.
(điều 200);
- Tội vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc
các chất ma túy khác (điều 201).
Các tội phạm về ma túy có các yếu tố cấu thành tội pha ̣m đó là khách
thể, khách quan, chủ quan, chủ thể;
1.2.1.1 Khách thể của tội phạm
Khách thể chung của các tội phạm về ma túy là chế độ quản lý các chất
ma túy của Nhà nƣớc ở tất cả các khâu của quá trình quản lý. Các tội phạm
này có đối tƣợng là các chất ma túy và các vật dụng phục vụ sản xuất và sử
dụng chất ma túy.
* Các chất ma túy là đối tƣợng của các tội phạm về ma túy bao gồm các
chất ma túy theo nghĩa hẹp; các chất hƣớng thần; các tiền chất ma túy và

13


hƣớng thần (gọi tắt là các tiền chất ma túy); các cây trồng hoặc nguyên liệu
thực vật có chứa chất ma túy.
Ờ nƣớc ta, việc xác định các chất ma túy , các chất hƣớng thần và các
tiền chất ma túy và hƣớng thần đƣợc dựa trên cơ sở tham khảo các bảng quy
định về các chất ma túy và các chấ t hƣớng thần của 3 công ƣớc Liên hợp quốc
về kiểm soát ma túy.
Chất ma túy (theo nghĩa hẹp) và các chất hƣớng thần là các chất gây
nghiện ở dạng tự nhiên hay tổng hợp.
Đặc tính nguy hiểm của chất ma túy về chất hƣớng thần thể hiện ở khả
năng gây nghiện cho ngƣời sử dụng chất này. Con ngƣời chỉ cần vài lần sử
dụng chất ma túy hoặc chất hƣớng thần sẽ có nhu cầu cung cấp thƣờng xuyên

Hành vi khách quan của các tội phạm về ma túy tuy khác nhau về hình
thức thể hiện cụ thể, về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội nhƣng
giống nhau ở chỗ đều là hành vi vi phạm các qui định của Nhà nƣớc về chế
độ quản lí các chất ma túy. Đó có thể là những hành vi thực hiện những điều
mà Nhà nƣớc cấm các cá nhân làm (nhƣ hành vi khách quan của các tội quy
định từ điều 192 đền điều 200 BLHS) hoặc có thể là những hành vi của
những ngƣời có trách nhiệm đƣợc Nhà nƣớc giao đã không thực hiện, thực
hiện không đầy đủ hoặc làm những việc ngoài phạm vi những quy định về
quản lý, sử dụng chất ma túy (nhƣ hành vi khách quan của tội đƣợc quy định
tạo Điều 201 BLHS).
* Hầu hết các tội phạm về ma túy đều đƣợc quy định là những tội có
cầu thành hình thức. Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành
tội phạm (CTTP) của những tội phạm này. Tội phạm đƣợc coi là hoàn thành
từ thời điểm ngƣời phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan.
1.2.2.3. Mặt chủ quan của tội phạm
Đối với đa số các tội phạm về ma túy, lỗi của ngƣời thực hiện là lỗi cố
ý trực tiếp (các tội phạm quy định ở các điều từ Điều 192 đến Điều 197 và

15


Điều 200 BLHS). Lỗi của ngƣời phạm các tội quy định tại Điều 198 và Điều
201 có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.
1.2.1.4. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của hầu hết các tội phạm về ma túy là chủ thể thƣờng đó là
ngƣời từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Ngƣời từ đủ 14 tuổi trở lên, nhƣng chƣa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng, riêng tội quy định tại Điều 201 đòi hỏi chủ thể đặc biệt đó là
ngƣời trong cơ quan nhà nƣớc đƣợc giao nhiệm vụ quản lý các chất gây

do các cơ quan nhà nƣớc khác nhau tiến hành. Sự phối hợp hoạt động giữa hai
cơ quan này trong quá trình phát hiện tội phạm và điều tra truy tố vụ án hình
sự là cần thiết và bình thƣờng; Đối với một số loại tội phạm nhƣ các tội xâm
phạm an ninh quốc gia, TPVMT… do tính nguy hiểm và tính có tổ chức cao,
tính quốc tế…thì vị trí của hoạt động trinh sát đóng vai trò quyết định trong
việc phát hiện tội phạm. Thông tin trinh sát nguồn sản xuất, trồng cây có chất
ma tuý, công tác sƣu tra; thông tin về ngƣời sử dụng ma tuý, các ổ nghiện hút,
tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý… là căn cứ để khởi tố vụ án (KTVA)
lần ngƣợc tìm ra đầu mối buôn bán ma tuý. Thực tiễn điều tra các TPVMT
nói chung, tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý nói
riêng, cho thấy bắt quả tang chiếm tỷ lệ cao. Điều này nói lên vai trò của hoạt
động trinh sát trong phát hiện tội phạm. Việc bắt đối tƣợng có thể bằng hai
hình thức: theo dõi bắt quả tang hoặc tạo cớ kiểm tra hành chính để phát hiện
ma tuý bắt giữ ngƣời phạm tội. Hoạt động này là sự kết hợp nhuần nhuyễn
nghiệp vụ trinh sát với hoạt động điều tra để không chỉ bắt đƣợc kẻ phạm tội,
thu giữ đƣợc chất ma tuý mà còn không để lộ các nghiệp vụ trinh sát.
* Tính phổ biến của hoạt động điều tra hỏi cung, đối chất trong quá
trình điều tra các TPVMT: Các đối tƣợng trong loại tội phạm này thƣờng có
mối quan hệ gia đình họ hàng, dòng tộc, có những luật chơi hà khắc nên khi

17


bị bắt, bọn chúng không chịu khai ra đồng bọn. Do vậy, hỏi cung bị can, đối
chất giữa các bị can với nhau, giữa bị can với nhân chứng không chỉ là hoạt
động tố tụng, nghiệp vụ đơn thuần mà là một nghệ thuật, phải có phƣơng
pháp và chiến thuật phù hợp với từng đối tƣợng, đồng thời phải có sự hỗ trợ
của những biện pháp trinh sát.
Hoạt động hỏi cung đối chất ở các TPVMT thƣờng áp dụng đối với các
đối tƣợng bị bắt dạng truy xét, vì dạng này bị bắt qua lời khai của đồng bọn

gây nghiện và chất hƣớng thần nào cũng đều là ma túy do vậy phải có giám
định để xác định chất gây nghiện, hƣớng thần đó có nằm trong danh mục về
chất ma túy theo quy định của Chính phủ hay không. Thứ hai là trong nhiều
cấu thành TPVMT thì số lƣợng và chủng loại ma túy là yếu tố định khung tăng
nặng. Thí dụ cùng ở khoản 2 Điều 193 (sản xuất trái phép chất ma túy) thì đối
với nhựa thuốc phiện là từ 500 gam đến dƣới một kílogam, cịn đối với heroin
là từ 5gam đến dƣới 30gam. Vì vậy, công tác giám định về ma tuý có tính phổ
biến, có ý nghĩa to lớn và không thể thiếu đƣợc trong quá trình điều tra các vụ
án ma túy. Không trƣng cầu giám định chất ma túy trong các vụ án này sẽ là vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và sẽ đƣợc coi là một trong những căn cứ để
trả hồ sơ điều tra bổ sung, để hủy bản án.
1.3. NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG KSĐT TỘI PHẠM VỀ MA TUÝ
1.3.1. Kiểm sát việc tiếp nhận, đăng ký, giải quyết tố giác, tin báo
tội phạm về ma tuý
Bộ luật TTHS năm 2003 quy định VKS có trách nhiệm tiếp nhận tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nhƣng không quy định VKS
phải xác minh, xử lý tin báo, tố giác về tội phạm mà nhiệm vụ này thuộc trách
nhiệm của CQĐT. Ở TP.Hồ Chí Minh cơ quan cảnh sát điều tra về TPVMT là
nơi tiếp nhận, đăng ký giải quyết tin báo tố giác TPVMT. Trong hoạt động
này VKS kiểm tra ba nội dung chủ yếu sau đây:
+ Về nghĩa vụ của CQĐT tiếp nhận và đăng ký tin báo về tội phạm và
bảo vệ ngƣời tố giác tội phạm.

19


+ Về nghĩa vụ của CQĐT kiểm tra xác minh nguồn tin để QĐKT hay
không KTVA. Luật không cho phép CQĐT tiến hành bất kỳ hoạt động điều
tra nào ở thời điểm này trừ hoạt động khám nghiện hiện trƣờng(Điều 150
BLTTHS 2003).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status