MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, tội phạm về ma tuý đang ngày càng gia tăng và tính chất vµ hu
qu¶ ngày một phức tạp nghiªm trng, mang tính toàn cầu và trở thành thảm hoạ
chung của nhân loại. Trong những năm gần đây, ở nước ta đã xuất hiện nhiều
dạng ma tuý tổng hợp mà chủ yếu có nguồn gốc từ nước ngoài, được đưa vào Việt
Nam bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua
bán chất ma tuý trái phép do các đối tượng là người nước ngoài, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài thực hiện chủ yếu tập chung ở một số thành phố lớn của
nước ta.
Từ sau đại hội Đảng lần thứ IV, với chính sách đối ngoại rộng mở trên phạm
vi cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (TP. HCM) nói
riêng, hoạt động hợp tác làm ăn, giao lưu văn hoá, thăm quan du lịch của người
nước ngoài diễn ra ngày càng nhiều. Đại bộ phận người nước ngoài và người Việt
Nam định cư ở nước ngoài đến Việt nam với thiện chí tốt đẹp cùng người Việt
Nam và vì Việt Nam phát triển. Tuy nhiên, vẫn còn có một bộ phận người nước
ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đến Việt Nam đã lợi dụng danh
nghĩa đầu tư hợp tác kinh tế, giao lưu văn hoá, tham quan du lịch…để hoạt động
chống phá cách mạng Việt Nam, vi phạm pháp luật Việt Nam làm ảnh hưởng đến
quá trình đổi mới, đi lên của đất nước. Trong đó phải kể đến tội phạm tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma tuý do người nước ngoài gây ra nhất là
tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong những năm qua, tình hình tội phạm ma tuý do
người nước ngoài thực hiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh rất phức tạp và
nghiêm trọng. Bọn tội phạm thường hoạt động thành đường dây khép kín, có sự
cấu kết chỈt ch gi÷a đối tượng buôn lậu ma tuý là người ở nước ngoài (NNN) và
đối tượng là người ở trong nước. Bọn tội phạm thực hiện hành vi tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý với nhiều thủ đoạn tinh vi, gây nhiều khó
khăn cho việc phát hiện đấu tranh. Sự gia tăng của loại tội phạm này đã kéo theo
sự gia tăng của các loại tội phạm khác như tội phạm tổ chức sử dụng trái phép
chất ma tuý, sử dụng trái phép các chất ma tuý trong các vũ trường, nhà hàng và
các loại tội phạm hình sự khác, làm cho tình hình hình trật tự an toàn xã hội
chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý do người nước ngoài thực hiện trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra tội
phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý do người nước ngoài
gây ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu đề tài là hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý do người nước ngoài gây ra trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu đề tài tập chung làm rõ hoạt động điều tra tội phạm tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý do người nước ngoài gây ra trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh của lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm ma tuý
Công an thành phố và khảo sát thực tế từ năm 2001 đến 2005
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Cơ sở lý luận của đề tài là các văn bản pháp luật, tài liệu lý luận có liên quan
đến hoạt động điều tra tội phạm về ma tuý.
Cơ sở thực tiễn của đề tài là kết quả khảo sát thực tiễn tình hình điều tra tội
phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý do người nước ngoài
gây ra trên địa bàn TP Hồ Chí Minh từ năm 2001 đến 2005
6. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở ph¬ng ph¸p lun biƯn chng duy vt các quan
điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác điều tra xử lý tội phạm.
3
Trong quá trình nghiên cu áp dng các phng phỏp nghiờn cu nh: thng kê,
tng hp, phõn tớch, so sỏnh, tng kt iu tra xó hi hc v phng phỏp chuyờn
gia.
7. CU TRC CA LUN VN
Lun vn c b cc gm: Phn m u; phn ni dung gm 3 chng, 7
tit; danh mc tham tài liu kho v phn ph lc.
Chơng 1
danh mục do Chính phủ quy định.
2. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng.
3. Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,
nên sử dụng nhiều lần có thể dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng.
Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản
xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành.
Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy
định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa chất quy định trong Khoản
2, Khoản 3 điều luật này…
Các chuyên gia về ma tuý của liên hợp quốc cho rằng ma tuý là các chất hoá
học có nguồn gốc từ trong tự nhiên và nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con người
sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm con người bị lệ thuộc vào
chúng, gây nên những tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng.
Theo tiến sỹ Trần Văn Luyện cho rằng chất ma tuý chỉ gây tổn thương khi bị
đưa vào cơ thể trái phép, không theo hướng dẫn của bác sỹ
1
. Như vậy, chất ma tuý
1
Trần Văn Luyện: tên sách luận án Tiến sỹ , NXB, năm 1999 xuất bản, trang 8
5
cũng có những tác dụng tích cực của nó. Nhận định này, cũng phù hợp với quy định
của pháp luật, Điều 61 Hiến pháp năm 1992 quy định: nghiêm cấm sản xuất, tàng
trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác.
Như vậy pháp luật vẫn cho phép những trường hợp sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
mua bán và sử dụng các chất ma tuý là vì mục đích dân sinh.
Việt Nam là một nước gần khu vực “ Tam giác vàng” nên chịu ảnh hưởng
của tình hình tội phạm ma tuý quốc tế. Thuật ngữ “ ma tuý” lần đầu tiên xuất hiện
ở Việt Nam vào năm 1960 trong các cụm từ “ xì ke, ma tuý”. Đến năm 1980, tình
hình tái trồng cây thuốc phiện, hút và tiêm chích thuốc phiện ngày càng gia tăng,
hút và buôn lậu ma tuý. Hành vi buôn bán, tàng trữ các chất ma tuý thì bị xử lý
theo tội buôn bán hàng cấm ( Điều 166 BLHS), còn hành vi sản xuất, vận chuyển
trái phép chất ma tuý xảy ra trong thực tế nhưng không bị truy cứu trách nhiệm
hình sự. Vì vậy, tội phạm ma tuý vẫn không được ngăn chặn. Điều này cũng nói
lên pháp luật Hình sự của Nhà nước ta quy định về tội phạm ma tuý lúc bấy giờ
còn chưa đồng bộ. Do đó, việc sửa đổi BLHS là một đòi hỏi khách quan, được
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) thông qua
ngày 28- 12- 1989. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, trong đó tách tội
phạm ma tuý được quy định thành một điều riêng nằm ở mục B thuộc chương “
các tội xâm phạm an ninh quốc gia”. Như vậy, đến thời điểm đó, tội phạm ma tuý
quy định thành hai tội ở hai chương khác nhau. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép các chất ma tuý (Điều 96a BLHS) quy định mức hình phạt cao
nhất là tử hình. Tội tổ chức dùng chất ma tuý ( Điều 203 BLHS) quy định mức
hình phạt cao nhất là mười năm.
Điều 29 Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 30/ 06/ 1989 quy định: các cơ
sở y tế phải tiến hành các biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người mắc bệnh
nghiện ma tuý.
7
Đặc biệt, thái độ kiên quyết đấu tranh ngăn chặn ma tuý của Nhà nước ta
còn được thể hiện là lần đầu tiên, việc cấm ma tuý được quy định tại Điều 61-
Hiến pháp 1992: “…Nghiên cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử
dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác. Nhà nước quy định chế độ
bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm…”
Tuy nhiên, trong thời gian qua tội phạm về ma tuý tiếp tục tăng nhanh. Việt
Nam không chỉ là một địa bàn tiêu thụ ma tuý mà còn trở thành địa bàn hoạt đông
và vận chuyển ma tuý của các băng buôn lậu ma tuý quốc tế, đã xuất hiện những ổ
nhóm tội phạm mang tính quốc tế ở Việt Nam.
Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đấu tranh chống tội phạm ma tuý, ngày 10-5-
1997 Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của BLHS quy định tội phạm về ma tuý thành một chương
Sau hơn hai năm được sửa đổi, bổ sung, các tội phạm về ma tuý thuộc
Chương VIIA của BLHS năm 1985 ( được sửa đổi năm 1997 bằng luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của BLHS) về cơ bản vẫn đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
Tuy nhiên, trong điều kiện sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện BLHS năm 1985,
thì yêu cầu hoàn thiện các quy định về loại tội phạm này là cần thiết. BLHS năm
1999 đã có sự điều chỉnh thích hợp hơn đối với các tội phạm về ma tuý. Cụ thể là
các tội phạm về ma tuý giảm về số tội, từ 13 tội trong BLHS năm 1985 xuống còn
10 tội. Về cơ bản thì các yếu tố cấu thành tội phạm và chính sách hình sự đối với
các tội phạm về ma tuý của BLHS 1999 không có nhiều sự thay đổi, ngoại trừ một
số nội dung được sửa đổi bổ sung như : Điều chỉnh mức hình phạt đối với các
hành vi sản xuất, mua bán hoặc chiếm đoạt chất ma tuý trong khung cơ bản theo
hướng giảm nhẹ so với trước đây, không quy định một cách cứng nhắc khung
hình phạt cao nhất là “ phạt tù chung thân hoặc tử hình” đối với một số tội như sản
xuất trái phép chất ma tuy (Điều 193); tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt các chất ma tuý ( Điều 194); tội sử dụng trái phép chất ma tuý
9
( Điều 197) như luật cũ mà quy định mền dẻo hơn là “ phạt tù hai mươi năm, tù
chung thân hoặc tử hình”. Việc quy định như vậy là nhằm để cơ quan xét xử có
khả năng lựa chọn loại và mức hình phạt phù hợp để áp dụng đối với từng trường
hợp cụ thể tương xứng; BLHS 1999 chỉ quy định hình phạt tiền là hình phạt chính
đối với duy nhất tội vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện
hoặc các chất ma tuý khác (Điều 201). Bởi vì quy định hình phạt tiền là hình phạt
chính như trước đây trong thực tế không có khả năng thi hành, đồng thời không
quy định hình phạt bổ sung thành một điều luật riêng mà quy định trong từng điều
luật về các tội phạm cụ thể và hạ mức phạt tiền khởi điểm xuống để đảm bảo tính
khả thi của điều luật. Mặt khác, BLHS năm 1999 đã ghép 4 hành vi là tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép và chiếm đoạt các chất ma tuý thành một tội là Tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý (Điều
194). Việc tách riêng các hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, vận chuyển trái
phép chất ma tuý, mua bán trái phép chất ma tuý và chiếm đoạt chất ma tuý thành
phép chất ma tuý do người nước ngoài gây ra là: Hành vi nguy hiểm cho xã hội do
người nước ngoài thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam trực tiếp xâm phạm đến
những quy định của Nhà nước Việt Nam về việc cất giữ, vận chuyển, mua bán
chất ma tuý.
Theo quy ®Þnh cđa ph¸p lut ngi níc ngoµi lµ ngi kh«ng c quc tÞch ViƯt
Nam bao gm c«ng d©n níc ngoµi (kh«ng ®ng thi c quc tÞch ViƯt Nam) vµ ngi
kh«ng quc tÞch.
Tại Khoản 2 Điều 5 luật phòng chống ma tuý quy định: Cá nhân, tổ chức
nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú, đi lại trên lãnh thổ Việt Nam
có trách nhiệm tuân thủ các quy định của luật này và các quy định khác của pháp
luật Việt Nam về phòng chống ma tuý. Cụ thể tại Khoản 1 Điều 194BLHS năm
1999 quy định: Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
11
Tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý là hành vi cất
dấu chất ma tuý, vận chuyển chất ma tuý đi từ địa điểm này đến địa điểm khác
hoặc hành vi mua hoặc bán chất ma tuý mà không được phép của các cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền.
Điều luật quy định bốn hành vi khác nhau (hành vi tàng trữ, hành vi vận
chuyển, hành vi mua bán và hành vi chiếm đoạt chất ma tuý), nhưng các hành vi
này đều có cùng tính chất và thường có quan hệ chặt chẽ trong một vụ phạm tội
nên nhà làm luật đã quy định chung trong một điều luật. Tuy nhiên khi định tội
danh cũng cần chú ý về nguyên tắc hành vi.
Nếu chỉ có hành vi tàng trữ, chỉ có hành vi vận chuyển hoặc hành vi mua bán
chất ma tuý trái phép thì chỉ định tội là tàng trữ trái phép chất ma tuý; tội vận
chuyển trái phép chất ma tuý; tội mua bán trái phép chất ma tuý… mà không định
tội như điều luật ghi “tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma tuý” .
Nếu cùng thực hiện nhiều hành vi khác nhau nhưng có liên quan chặt chẽ
với nhau, thì định tội như điều luật đã ghi.
Đối tượng tác động của tội phạm là các chất ma tuý. Để xác định tên gọi và
chất lượng ma tuý thì cần phải tiến hành công tác giám định chuyên môn. Trong
trường hợp nếu giám định không phải là chất ma tuý thì vẫn sử lý đối với hành vi
vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Trường hợp nếu cất giữ bất hợp pháp chất ma tuý với mục đích mua bán
hoặc người cất giữ bất hợp pháp ma tuý hộ cho người khác mà biết rõ mục đích là
để mua bán trái phép thì họ đồng phạm về tội mua bán trái phép chất ma tuý
Trường hợp nếu có hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma tuý với mục đích là
để sản xuất trái phép chất ma tuý khác hoặc người cất giữ bất hợp pháp chất ma
13
tuý cho người khác mà biết rõ mục đích là để sản xuất trái phép chất ma tuý khác
thì họ đồng phạm về tội sản xuất trái phép chất ma tuý.
Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT- TANDTC- VKSNDTC- BNV (Thông
tư liên tịch - Toà án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ nội vụ)
ngày 2-1-1998 quy định số lượng tối thiểu chất ma tuý để cấu thành tội phạm tàng
trữ trái phép chất ma tuý. Dưới mức quy định lượng ma tuý tối thiểu thì chỉ bị phạt
hành chính, cụ thể:
Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng dưới một gam;
Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng dưới không phẩy một gam.
Lá, hoa, quả cây cần sa hoăc lá cây côca có trọng lượng một kilôgam;
Quả thuốc phiện khô có trọng lỵng dưới năm kilôgam;
Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng dưới một kilôgam;
Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng díi hai gam;
Các chất ma tuý ở thể lỏng có trọng lượng dưới năm mililít.
- Hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý
Vận chuyển trái phép chất ma tuý là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất
ma tuý từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào mà không nhằm mục
đích mua bán.
Trường hợp này tội phạm xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà
nước về chất ma tuý, trực tiếp là vận chuyển chất ma tuý.
Mua chất ma tuý nhằm để bán trái phép cho người khác;
Xin chất ma tuý nhằm để bán trái phép cho người khác;
Tàng trữ chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác;
Vận chuyển chất ma tuý để bán lại trái phép cho người khác;
Dùng chất ma tuý để trao đổi, thanh toán… trái phép;
Dùng tài sản (không phải là tiền) đem trao đổi, thanh toán…lấy chất ma tuý
để bán lại trái phép cho người khác
15
Để có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện một trong các
hành vi nêu trên về tội mua bán trái phép các chất ma tuý, thì cần phải chứng minh
được mục đích thực hiện một trong các hành vi này của họ là bán trái phép chất
ma tuý đó. Trong trường hợp không chứng minh được mục đích bán trái phép
chất ma tuý của họ thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà căn cứ vào hướng dẫn tại
tiết b điểm 4 Mục II Phần B của Thông tư liên tịch số 01/ 1998 để xử lý hành
chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về “ tội tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Vận chuyển ma tuý trái phép thuê cho người khác mà biết mục đích mua bán thì
đồng phạm về tội mua bán trái phép chất ma tuý.
Theo Thông tư số 01 ngày 2-1-1998 của TANDTC, VKSNDTC, BNV
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
BLHS, thì một người thực hiện các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma tuý mà các hành vi này có liên quan chặt chẽ với nhau, hành vi này
là điều kiện để thực hiện hoặc là hệ quả tất yếu của hành vi kia thì truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép các chất ma tuý. Nếu các hành vi này độc
lập với nhau, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội độc lập theo điều
luật tương ứng.
Trường hợp nguời nào có hành vi chào bán ma tuý trái phép, thoả thuận về
giá cả, địa điểm, thời gian để tiến hành việc mua bán thì cấu thành tội mua bán trái
phép chất ma tuý ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người nào thực hiện một
trong các hành vi nêu trên đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái
một trong các trường hợp sau:
Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một kilôgam
đến dưới năm kilôgam;
Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;
17
Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc là cây côca có trọng lượng từ hai mươi kilôgam
đến dưới bảy mươi lăm kilôgam;
Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới sáu trăm
kilôgam;
Quả thuốc phiện tươi có trong lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới một
trăm năm mươi kilôgam;
Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba
trăm gam;
Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;
Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương
với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n
khoản 2 của điều này;
Khoản 4. Quy định hình phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình
thuộc một trong các trường hợp sau:
Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam
trở lên;
Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;
Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc là cây côca có trọng lượng từ bảy mươi lăm
kilôgam trở lên;
Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ trăm kilôgam trở lên ;
Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một trăm năm mươi kilôgam trở lên;
Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên;
Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;
Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương
với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g
19
Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ bốn trăm năm mươi kilôgam đến
dưới một nghìn hai trăm kilôgam.
Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ chín trăm gam đến dưới hai
nghìn năm trăm gam.
Các chất ma tuý khác ở thể lỏng có trọng lượng từ hai nghìn Mililít đến dưới
năm nghìn Mililít.
Có từ hai chất ma tuý trở lên ma tổng số trọng lượng của các chất đó tương
đương với số lượng của một trong các chất ma tuý thuộc điểm b này
- Xử phạt tử hình nếu:
Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ hai mươi
kilôgam trở lên.
Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ sáu trăm gam trở lên
Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ sáu trăm kilôgam
trở lên
Quả thuốc phiệm khô có trọng lượng từ bốn nghìn năm trăm kilôgam trở lên.
Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một nghìn hai trăm kilôgam trở lên.
Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai nghìn năm trăm gam trở lên.
Các chất ma tuý khác ở thể lỏng có trọng lượng từ năm nghìn Mililít trở lên.
Có từ hai chất ma tuý trở lên ma tổng số trọng lượng của các chất đó tương
đương với số lượng của một trong các chất ma tuý thuộc điểm c này
Tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý do người nước
ngoài gây ra cũng có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng nêu trên. Tuy vậy, do chủ
thể của tội phạm là người nước ngoài, do đó một số dấu hiện pháp lý đặc trưng
của tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý có những đặc
điểm riêng. Cụ thể đối tượng của tội phạm này, do chủ thể của tội phạm là người
nước ngoài, thường là chất ma tuý có hàm lượng cao như Hêrôin, Mócphin, các
loại thuốc gây nghiện… Đồng thời số lượng chất ma tuý trong từng vụ án thường
lớn nên tội phạm thường gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
20
án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tý do người nước ngoài thực
hiện, cũng phải dựa trên cơ sở của quy luật hình thành thông tin về tội phạm và
người thực hiện hành vi phạm tội được phản ánh ở môi trường vật chất xung
quanh trong quá trình thực hiện tội phạm;
Về phương diện pháp lý thì để giải quyết vụ án ®ĩng ®¾n thì cần phải thực
hiện đúng quy định của pháp luật, cơ sở pháp luật của hoạt động chứng minh vụ
án hình sự nói chung được quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự (TTHS)
năm 2003.
Trong quá trình giải quyết các vụ án cụ thể, Cơ quan điều tra phải quán triệt đầy
đủ quy định và những yêu cầu cần phải chứng minh. Dựa trên cơ sở Điều 194 Bộ
luật hình sự, Điều 63 Bộ luật TTHS năm 2003 và thực tiễn hoạt động điều tra có thể
xác định trong quá trình điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma tuý do người nước ngoài thực hiện để giải quyết ®ĩng ®¾n vụ án, cần phải
chứng minh được những vấn đề cơ bản sau đây:
- Phải chứng minh được có một trong các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma tuý xảy ra thực tế hay không, thời gian, địa điểm thực hiện
hành vi phạm tội.
- Chứng minh được ai là người đã thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. CÇn
phải có đầy đủ các chứng cứ để chứng minh rằng hành vi của người đó có đủ các
yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể;
- Chứng minh phương thức, thủ đoạn thực hiện việc tàng trữ, vn chuyĨn mua
bán trái phép chất ma tuý;
- Xác định loại ma tuý, thủ đoạn cất giấu;
- Xác định tiền, tài sản có liên quan đến hoạt động ph¹m ti ma tuý;
- Làm rõ những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội ;
- Làm rõ những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
người phạm tội;
22
Tuy nhiên, trong thực tế các vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
các chất ma tuý do người nước ngoài thực hiện xảy ra rất đa dạng với nhiều tình
1.1 Khái niệm.
Để đáp ứng nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới phục vụ lợi ích xã
hội, loài người đã không ngừng tìm tòi nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và
xã hội. Điều đó là cơ sở nảy sinh và phát triển nhiều ngành khoa học khác
nhau.
Đã từ lâu, vấn đề đấu tranh ngăn chặn tiến tới làm giảm và loại trừ tội
phạm đã trở thành một trong những mối quan tâm chú ý của các Nhà nước
dưới mọi chế độ chế độ xã hội khác nhau. Để đấu tranh có hiệu quả đối với
các loại tội phạm – hiện tượng xã hội tiêu cực và phức tạp, đòi hỏi con người
cần phải không ngừng nghiên cứu để nhận thức đầy đủ về hiện tượng này. Tội
phạm là gì? Nó được hình thành phát triểnvà tồn tại theo những quy luật nào?
Để đấu tranh với nó cần phải tiến hành bằng những phương pháp tác động ra
sao?...Công việc đó được tiến hành gắn liền với thực tế đấu tranh chống tội
phạm ở mỗi quốc gia, qua mỗi giai đoạn phát triển của xã hội. Kết quả của
quá trình đó đem laị cho loài người những tri thức phong phú cần thiết về hiện
tượng tội phạm và những kinh nghiệm quý báu trong đấu tranh chống tội
phạm.
Những tri thức và kinh nghiệm về tội phạm và phương pháp phòng
chống tội phạm ngày càng được tích luỹ đầy đủ. Bước đầu được phản ánh tản
mạn riêng lẻ, sau đó được đúc rút hệ thống lại và được nghiên cứu tỉ mỉ sâu
sắc hơn trong các tài liệu chuyên khảo của các ngành khoa học pháp lý, khoa
học xã hội. Trong điều kiện các lĩnh vực khoa học phát triển, mạnh mẽ theo
hướng chuyên sâu, vấn đề nghiên cứu về tội phạm và biện pháp đấu tranh
chống tội phạm được nâng lên và tách riêng thành bộ môn khoa học độc lập
24
chuyên nghiên cứu về những quy luật hình thành, phát sinh phát triển của tội
phạm cùng với các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn nhằm loại bỏ và hạn chế
sự tác động của hiện tượng này. Như vậy, ngành khoa học nghiên cứu về tội
phạm đã ra đời và phát triển.
Xem xét về thuật ngữ, các nhà nghiên cứu thấy rằng: “Tội phạm học”