Điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trên địa bàn tỉnh An Giang của lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV - Pdf 28

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với những chủ trương, chính sách phát triển toàn diện
nền kinh tế xã hội của đất nước, Nhà nước ta luôn quan tâm đến các biện pháp
đảm bảo quyền tự do, bình đẳng trước pháp luật, bảo hộ quyền và lợi ích hợp
pháp của người kinh doanh, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với
các hoạt động kinh doanh. Theo quy định của pháp luật, Nhà nước tạo sự tự
chủ cho các tổ chức và cá nhân, tập thể đăng ký, hoạt động kinh doanh ngoài
những ngành nghề gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự
an toàn xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục
Việt Nam và sức khỏe của nhân dân.
Bên cạnh những hoạt động kinh doanh hợp pháp của các tổ
chức, cá nhân và tập thể góp phần tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh
tế quốc dân, vẫn còn nhiều hoạt động kinh doanh các ngành nghề, mặt hàng
mà Nhà nước cấm, tạo nên sự mất cân đối thị trường và ảnh hưởng rất lớn tới
tình hình an ninh trật tự.
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chống tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng
cấm đang là một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra mà Đảng, Nhà nước cùng
các ngành, các cấp phải quan tâm giải quyết. Trong đó, lực lượng CSĐT tội
phạm về TTQLKT&CV được giao nhiệm vụ giữ vai trò nòng cốt trong phát
hiện, điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm chỉ
đạo sâu sát công tác đấu tranh chống buôn lậu, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán
hàng cấm. Các ngành, các cấp, nhất là lực lượng CSĐT tội phạm về
TTQLKT&CV, đã có nhiều cố gắng triển khai các biện pháp phòng ngừa,
1
điều tra xử lý nhưng kết quả đấu tranh tội phạm tàng trữ, vận chuyển, buôn
bán hàng cấm vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả thấp.
Với đặc điểm địa bàn phức tạp, tỉnh An Giang là một trong
những địa bàn nổi bật về tình hình buôn lậu, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán

tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm đã được tiến hành thực hiện trong
nhiều báo cáo khoa học, các bài báo, tạp chí, khóa luận... Trên nhiều góc độ
và khía cạnh khác nhau. Một số khác đặt việc nghiên cứu tội phạm tàng trữ,
vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong sự liên quan đến các loại tội phạm khác
như buôn lậu, trốn thuế, vận chuyển hàng hóa, tiền tệ trái phép qua biên
giới...hoặc ở những nội dung khái quát khác liên quan tội phạm kinh tế nói
chung. Trong thực tiễn công tác, CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV cũng có
tổ chức tổng kết, nghiên cứu nhiều vụ án điển hình về vận chuyển, buôn bán
hàng cấm ở nhiều địa bàn khác nhau nhưng còn mang tính chất báo cáo, rút
kinh nghiệm.
Trong những năm qua vẫn chưa có công trình nghiên cứu
chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về hoạt động điều tra tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trên địa bàn tỉnh An Giang của lực
lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV dưới góc độ khoa học điều tra tội
phạm.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu những
vấn đề lý luận và phân tích thực trạng công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, buôn bán hàng cấm trên địa bàn tỉnh An Giang của lực lượng CSĐT
tội phạm về TTQLKT&CV. Trên cơ sở đó, đề ra được hệ thống giải pháp khả
3
thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển,
buôn bán hàng cấm trên địa bàn tỉnh An Giang của lực lượng CSĐT tội phạm
về TTQLKT&CV.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu những qui định của pháp luật về tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm; nghiên cứu, hệ thống hóa những
vấn đề lý luận về hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, buôn bán

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, như:
phương pháp tổng kết thực tiễn, so sánh, thống kê, tọa đàm, khảo sát điển
hình.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài là tài liệu mang tính khoa học có
thể góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận khoa học điều tra tội phạm nói
chung và lý luận tổ chức hoạt động điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển,
buôn bán hàng cấm nói riêng.
Những kết quả đạt được của luận văn còn giúp lãnh đạo và
cán bộ thực tiễn nghiên cứu và nhận thức đầy đủ về lý luận và thực tiễn trong
chỉ đạo đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung cũng như hoạt động điều
tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm.
Luận văn còn là tài liệu nghiên cứu dành cho cán bộ, chiến
sĩ công tác trong lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV, học viên các
trường CSND.
5
8. Những đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Phân tích đánh giá đúng tình hình hoạt động điều tra tội
phạm tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trên địa bàn tỉnh An Giang
của lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV; xây dựng được hệ thống
giải pháp hữu hiệu và có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện tình hình tại
địa phương.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trên
địa bàn tỉnh An Giang của lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV.
- Kết quả nghiên cứu đề tài có thể sử dụng làm tài liệu
nghiên cứu chuyên sâu và vận dụng để nâng cao chất lượng công tác điều tra
tội phạm tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm; góp phần nâng cao hiệu
quả đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.
9. Cấu trúc của luận văn

09/10/1945 về cấm xuất cảng ngũ cốc, Sắc lệnh số 160 ngày 21/8/1946 cấm
nhập cảng xe hơi, phụ tùng xe hơi, các máy móc và đồ vật bằng kim khí.
Ngày 15/8/1951 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời số
116/TTg quy định các hình thức xử phạt những vi phạm Điều lệ về xuất nhập
khẩu. Ngày 22/12/1952 Chính phủ ban hành Nghị định số 225 quy định tịch
thu thuốc phiện tàng trữ hoặc vận chuyển buôn bán trái phép, phạt tiền từ 1
đến 5 lần trị giá hàng hóa.
7
Sau khi miền Bắc được giải phóng, Chính phủ rất quan tâm
đến vấn đề ngăn chặn chống buôn lậu, đầu cơ, buôn bán hàng cấm. Ngày
03/7/1966, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 118/TTg về tăng cường quản lý
thị trường, đấu tranh chống đầu cơ, buôn lậu trong tình hình mới.
Khi đất nước được giải phóng thống nhất năm 1975, nhiệm
vụ đấu tranh chống buôn lậu, đầu cơ càng ngày thêm phức tạp, khó khăn.
Ngày 30/6/1982, Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh chống đầu cơ,
buôn lậu. Sau đó, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định
số 46/HĐBT ngày 10/5/1983 quy định về xử lý hành chính đối với các hành
vi đầu cơ buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép. Năm 1984, Hội đồng
Bộ trưởng đã ra Nghị quyết số 68/HĐBT ngày 25/4/1984 về việc chống buôn
lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới.
Buôn lậu thời kỳ này được hiểu bao gồm các hành vi buôn
bán hàng cấm, buôn bán trốn lậu thuế. Quan niệm này được định nghĩa trong
Từ điển nghiệp vụ phổ thông CAND (Viện nghiên cứu CAND năm 1977) là:
“buôn bán lén lút trái phép những hàng hóa thuộc diện Nhà nước thống nhất
quản lý”. Từ điển Tiếng Việt năm 1992 giải thích: “buôn lậu là buôn bán trốn
thuế hoặc hàng cấm”.
Cùng với sự phát triển của đất nước, Bộ luật Hình sự nước
ta lần đầu tiên được ban hành ngày 27/6/1985 đã pháp điển hóa các văn bản
pháp luật để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cuộc đấu tranh chống tội phạm. Sự
ra đời của Bộ luật Hình sự là một bước tiến quan trọng trong hoạt động lập

lượng hàng hóa phạm pháp từ 1.500 bao đến dưới 4.500 bao thì coi là phạm
tội trong trường hợp hàng phạm pháp có số lượng lớn. Nếu số lượng hàng hóa
9
phạm pháp từ 4.500 bao trở lên thì coi là phạm tội trong trường hợp đặc biệt
nghiêm trọng.
Buôn bán ngoại tệ với số lượng có giá trị từ 3 triệu đồng
Việt Nam trở lên hoặc dưới 3 triệu đồng Việt Nam nhưng đã bị xử lý hành
chính mà còn vi phạm, tái phạm, thực hiện nhiều lần, có tổ chức, có tính chất
chuyên nghiệp thì bị xử lý về tội buôn bán hàng cấm.
Sau thời gian dài áp dụng trong thực tế, Bộ luật Hình sự
1985 đã có nhiều vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng trước yêu
cầu đổi mới liên tục về kinh tế, văn hóa, xã hội. Bộ luật Hình sự năm 1985 đã
được sửa đổi, bổ sung 4 lần: 28/12/1989, 12/8/1991, 22/12/1992 và
10/5/1997. Cho tới kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa X đã thông qua Bộ luật Hình
sự năm 1999, có hiệu lực thi hành từ 01/7/2000, thay thế Bộ luật Hình sự
1985. Bộ luật Hình sự 1999 không chỉ thể hiện một cách toàn diện chính sách
hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, mà còn là công cụ
sắc bén trong đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo quyền làm chủ của
nhân dân, bảo đảm hiệu lực của quản lý của Nhà nước, góp phần thực hiện
công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tại Bộ luật Hình sự năm 1985, các tội phạm xâm phạm trật
tự kinh tế được quy định tại chương VII với tên là “Các tội phạm về kinh tế”.
Các quy định về các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong Bộ luật
Hình sự 1985 không còn phù hợp với những quan hệ kinh tế và đường lối
quản lý kinh tế đã được đổi mới nhanh chóng.
Trong Bộ luật Hình sự 1985 chỉ quy định tội buôn bán hàng
cấm ở điều 166. Tuy nhiên, trong thực tế không chỉ có hành vi buôn bán hàng
cấm mà còn có hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm.
Do đó, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có sự bổ sung 3 loại hành vi phạm tội
mới: sản xuất, tàng trữ và vận chuyển hàng cấm.

được quy định tại Điều 166 Bộ luật Hình sự 1985, Điều 155 của Bộ luật Hình
sự 1999 còn quy định thêm một số tình tiết mới là yếu tố định khung hình
phạt như: hàng phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc thu lợi bất chính rất lớn;
hàng phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn hoặc thu lợi bất chính đặc biệt lớn.
So với điều 166 của Bộ luật Hình sự 1985, Điều 155 Bộ
luật Hình sự 1999 bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính; các mức phạt tù
quy định trong từng khung hình phạt tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 1999 đều
nhẹ hơn mức phạt quy định tại Điều 166 Bộ luật Hình sự năm 1985. Hình
phạt bổ sung cũng được quy định ngay trong cùng điều luật.
Từ sự so sánh trên, chúng ta có thể phân tích rõ hơn về dấu
hiệu pháp lý của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm như
sau:
- Khách thể tội phạm: tội tàng trữ, vận chuyển, buôn bán
hàng cấm xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất,
kinh doanh một số loại hàng cấm. Đối tượng của tội phạm này là hàng hóa
Nhà nước không cho phép lưu thông trên thị trường, không cho phép các
doanh nghiệp tổ chức, cá nhân tàng trữ, sản xuất, kinh doanh. Nhưng không
phải tất cả những hàng hóa đó đều thuộc phạm vi đối tượng của tội phạm này.
Có những hàng hóa tuy cũng là loại Nhà nước cấm kinh doanh nhưng đã là
đối tượng của tội phạm khác nên không còn là đối tượng của tội phạm sản
xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm như: ma túy, vũ khí quân
dụng, văn hóa phẩm đồi trụy…
Hàng cấm thuộc phạm vi quy định của Điều 155 Bộ luật
Hình sự 1999 là những loại hàng cấm còn lại mà không thuộc phạm vi quy
định của những điều luật riêng biệt khác. Đó là tội phạm được quy định tại
Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật Hình sự.
12
Danh mục hàng cấm theo điều luật này không cố định mà
có những thay đổi ở những giai đoạn khác nhau nhất định, phù hợp với tình
hình thực tế và sự chuyển đổi chính sách phát triển kinh tế.

đích, động cơ phạm tội là vì tư lợi, vì lợi nhuận, thu nhập cao từ các hoạt
động tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm.
- Chủ thể tội phạm: người phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận
chuyển, buôn bán hàng cấm là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt
độ tuổi theo luật định.
Trong Bộ luật Hình sự, tội phạm buôn lậu được quy định
tại Điều 153 có yếu tố cấu thành tội phạm với những nội dung kế cận với tội
sản xuất, tàng trữ, buôn bán hàng cấm. Trước đây, hai loại hành vi phạm tội
này được hiểu chung theo khái niệm “buôn lậu”. Trong thực tế hiện nay cho
thấy cũng có lúc có sự nhầm lẫn trong định tội danh của hai tội phạm này.
Hai tội phạm này có phần khách thể, mặt chủ quan và chủ
thể tương tự nhau, chỉ có thể phân biệt qua hành vi của từng tội phạm. Mặt
khách quan của tội phạm buôn lậu được thể hiện ở việc buôn bán trái phép
qua biên giới các đối tượng là hàng hóa, tiền tệ…, buôn bán trái phép qua
biên giới vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa, buôn bán trái phép qua biên
giới hàng cấm.
Hàng buôn lậu có 3 dạng chính là: hàng hóa thuộc danh
mục Nhà nước cấm xuất khẩu, nhập khẩu; hàng hóa được phép xuất nhập
khẩu nhưng không đủ giấy tờ hợp lệ hoặc trái với quy định về xuất, nhập
khẩu; hàng hóa được phép xuất nhập khẩu nhưng không chịu đóng thuế theo
quy định của Nhà nước.
14
Các dấu hiệu khách quan của tội buôn lậu kể trên được coi
là hoàn thành từ thời điểm thực hiện hành vi mang hàng hóa một cách trái
phép qua biên giới Việt Nam. Do đó, ta thấy rõ hành vi buôn lậu được phân
biệt rõ ràng với hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm nhờ vào yếu
tố qua biên giới. Nếu có yếu tố qua biên giới thì việc vận chuyển, buôn bán
hàng cấm đều bị xử lý về hành vi buôn lậu. Ngoài ra, tội phạm buôn lậu còn
quy định “hàng cấm có số lượng lớn, đặc biệt lớn” là những tình tiết định
khung tăng nặng.

CSKT là lực lượng trinh sát có chức năng tiến hành các
biện pháp nghiệp vụ để đấu tranh chống các loại tội phạm kinh tế, được xác
định là một trong những cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra giai đoạn ban đầu đối với các vụ án kinh tế nói chung và
buôn bán hàng cấm nói riêng. Quyết định số 1971/X13 ngày 23/11/1992 của
Tổng cục Xây dựng lực lượng Bộ Nội vụ ghi rõ một trong những nhiệm vụ
của CSKT là: “Tiến hành các biện pháp nghiệp vụ phát hiện điều tra các vụ
tham nhũng xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, buôn lậu, buôn bán hàng cấm
và các vụ án khác về kinh tế theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức điều tra
hình sự và theo quy định của Bộ trưởng”.
Điều 10 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989 quy
định về hoạt động điều tra ban đầu của một số cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu các vụ án hình sự.
Lực lượng CSKT được giao thẩm quyền thực hiện các hoạt
động điều tra ban đầu. Trong khi thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ được giao,
nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội thuộc phạm vi đấu tranh, lực
lượng CSKT được quyền tiến hành: “khởi tố vụ án hình sự theo quy định của
16
Bộ luật Tố tụng hình sự, lấy lời khai, khám xét thu giữ, bảo quản vật chứng và
tài liệu có liên quan trực tiếp tới vụ án; khi xét thấy cần ngăn chặn ngay việc
người có hành vi phạm tội chạy trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc tiếp tục thực
hiện tội phạm thì tạm giữ ngay người đó và xin ngay lệnh bắt khẩn cấp của cơ
quan điều tra có thẩm quyền”.
Thời gian dài nhất trong hoạt động điều tra ban đầu của
CSKT đối với một vụ án kinh tế nói chung và buôn bán hàng cấm nói riêng là
không quá 7 ngày kể từ ngày ra Quyết định khởi tố vụ án. Thực hiện sự phân
công trên đòi hỏi lực lượng CSKT và cơ quan CSĐT phải thường xuyên có
quan hệ phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ nhau trong quá trình điều tra chứng minh
tội phạm. Trong mối quan hệ đó, CSKT có trách nhiệm chủ động tiến hành
các hoạt động trinh sát bí mật để thực hiện chức năng phòng ngừa, phát hiện,

điều tra, điều tra tất cả các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII
đến chương XXII thuộc phần các tội phạm cụ thể của Bộ luật Hình sự 1999,
trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra của lực lượng
ANND, cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và các trường hợp do cơ
quan điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tiến hành điều tra.
Theo quy định đó, lực lượng CSKT các cấp được giao
nhiệm vụ tiến hành các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của Bộ về công tác
nghiệp vụ cơ bản (Quyết định số 31/QĐ-BNV(C11) ngày 28/2/1995 về công
tác sưu tra, xác minh hiềm nghi; Quyết định 225/QĐ-BNV(C11) ngày
17/4/1994 về công tác xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật của lực lượng
CSND và Quyết định 658/QĐ-BCA(C11) ngày 10/10/1998 của Bộ trưởng Bộ
Công an ban hành quy định sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Quyết định
31 và Quyết định 225); tiến hành một số hoạt động điều tra theo Điều 10 Pháp
18
lệnh Tổ chức điều tra hình sự 1989 đối với các tội phạm quy định tại 60 điều
của Bộ luật Hình sự 1999:
- Chương XIV (Các tội phạm xâm phạm sở hữu): các điều
139, 140, 141, 142, 144, 145 mà tài sản bị xâm phạm thuộc sở hữu Nhà nước,
sở hữu của tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội.
- Chương XVI (Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý
kinh tế): từ điều 153 đến 181. Trong đó, có tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển,
buôn bán hàng cấm.
- Chương XVII (các tội phạm về môi trường): từ điều 182
đến điều 191.
- Chương XIX (Các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng,
trật tự công cộng): điều 224, 225, 226 và 251
- Chương XXI (Các tội phạm về chức vụ): các điều từ 278
đến 284 và các điều 285, 289, 290, 291.
Trong khi thực hiện chức năng phòng ngừa, đấu tranh
chống tội phạm kinh tế, nếu phát hiện thông tin tố giác tội phạm, lực lượng

cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Để đảm bảo đồng bộ, phù hợp với Bộ luật Tố tụng hình sự
mới, ngày 20/8/2004 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Tổ
chức điều tra hình sự năm 2004 có hiệu lực từ ngày 01/10/2004 để thay thế
Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự 1989.
Theo Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, trong
lực lượng CAND có các cơ quan điều tra sau:
- Cơ quan CSĐT Bộ Công an; Cơ quan CSĐT Công an
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; cơ quan CSĐT Công an cấp huyện.
20
- Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ quan An ninh
điều tra Công an cấp tỉnh.
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra gồm có: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát
biển, các cơ quan khác của CAND, Quân đội nhân dân.
Tổ chức của cơ quan CSĐT trong CAND được xây dựng
như sau:
- Tổ chức của cơ quan CSĐT Bộ Công an gồm có Cục
CSĐT tội phạm về trật tự xã hội; Cục CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV; Cục
CSĐT tội phạm về ma túy và Văn phòng Cơ quan CSĐT.
- Tổ chức của cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh gồm có:
Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội; Phòng CSĐT tội phạm về
TTQLKT&CV; Phòng CSĐT tội phạm về ma túy và Văn phòng Cơ quan
CSĐT.
- Tổ chức của cơ quan CSĐT Công an cấp huyện gồm có:
Đội CSĐT tội phạm về trật tự xã hội; Đội CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV;
Đội CSĐT tội phạm về ma túy và bộ máy giúp việc Cơ quan CSĐT.
Để tổ chức triển khai thực hiện Pháp lệnh này, Bộ trưởng
Bộ Công an có Chỉ thị số 13/2004/CT-BCA(V11) ngày 22/9/2004 về việc tổ
chức triển khai thực hiện Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004.

tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm.
- Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV tiến hành điều
tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương XVI, XVII,
XXI của Bộ luật Hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của
Tòa án nhân dân cấp tỉnh (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ
22
quan An ninh điều tra trong CAND) hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều
tra của cơ quan CSĐT Công an cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều
tra.
- Đội CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV Công an cấp
huyện tiến hành điều tra các vụ án hình sự quy định tại Chương XVI, XVII và
XXI của Bộ luật Hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của
Tòa án nhân dân cấp huyện trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của cơ
quan An ninh điều tra trong CAND.
Như vậy, lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV là
một bộ phận của Cơ quan CSĐT của lực lượng CAND, có thẩm quyền tiến
hành điều tra các tội phạm được quy định tại chương XVI, XVII, XXI Bộ luật
Hình sự, trong đó có tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng
cấm.
NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI PHẠM HỌC
1. Khái niệm, đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ, mối quan hệ
giữa tội phạm học và các môn khoa học khác.
1.1 Khái niệm.
Để đáp ứng nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới phục vụ
lợi ích xã hội, loài người đã không ngừng tìm tòi nghiên cứu các hiện tượng
tự nhiên và xã hội. Điều đó là cơ sở nảy sinh và phát triển nhiều ngành khoa
học khác nhau.
Đã từ lâu, vấn đề đấu tranh ngăn chặn tiến tới làm giảm và
loại trừ tội phạm đã trở thành một trong những mối quan tâm chú ý của các
Nhà nước dưới mọi chế độ chế độ xã hội khác nhau. Để đấu tranh có hiệu quả

-Tình trạng tội phạm.
24
-Nguyên nhân, điều kiện của tội phạm.
-Nhân thân người phạm tội
-Biện pháp phòng ngừa tội phạm.
Trên cơ sở đó, có thể nêu khái niệm về Tội phạm hộc như
sau:
Tội phạm học là ngành khoa học, nghiên cứu về tội Tình
trạng tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phát sinh phát triển của tình trạng
tội phạm và các loại tội phạm cụ thể, nghiên cứu nhân thân người phạm tội và
các biện pháp phòng ngừa ngăn chặn nhằm hạn chế, tiến tới loại trừ tội phạm
ra khỏi đời sống xã hội.
Trong điều kiện phát triển của sự nghiệp cách mạng hiện
nay ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã xác định vị trí quan trọng đặc biệt của
công cuộc bảo vệ vững chắc nền an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội,
đấu tranh kiên quyết và triệt để chống các loại tội phạm hình sự. Điều đó đang
đặt ra những nhiệm vụ nặng nề cho các nhà nghiên cứu và cán bộ thực tế
trong nghiên cứu tội phạm, xây dựng phương pháp đấu tranh ngăn chặn một
cách có hiệu quả với chúng. Nghiên cứu và phát triển hoàn thiện khoa học tội
phạm là vấn đề có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đấu tranh chống các loại tội
phạm hình sự, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
1.2 Đối tượng nghiên cứu của Tội phạm học.
Mỗi ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu riêng của
mình. Đó là những quy luật tác động trong lĩnh vực mà ngành khoa học đó
cần nghiên cứu. Tội phạm học với tư cách là môn khoa học độc lập, vì vậy
cũng có đối tượng nghiên cứu riêng. Đó là những sự vật hiện tượng liên quan
đến hoạt động tội phạm và phòng ngừa tội phạm.
Trong các tài liệu Tội phạm học của nhiều nước trên thế
giới đã được xác định và phân loại thành những nhóm đối tương nghiên cứu
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status