Định tội danh đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) - Pdf 34

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHAN TH HNG THNG

ĐịNH TộI DANH ĐốI VớI TộI TàNG TRữ, VậN CHUYểN,
MUA BáN TRáI PHéP HOặC CHIếM ĐOạT CHấT MA TúY
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

PHAN TH HNG THNG

ĐịNH TộI DANH ĐốI VớI TộI TàNG TRữ, VậN CHUYểN,
MUA BáN TRáI PHéP HOặC CHIếM ĐOạT CHấT MA TúY
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN KHC HI

H NI - 2015


1.1.2. Phân loại các trƣờng hợp định tội danh đối với tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy .................. 16
1.1.3. Ý nghĩa của việc định tội danh đối với tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy ................................ 23
1.2.

CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỊNH TỘI
DANH ĐỐI VỚI TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA
BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY ........... 28

1.2.1. Cơ sở pháp lý của định tội danh đối với tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy .................. 29
1.2.2. Cơ sở khoa học của định tội danh đối với tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy .................. 37


1.3.

CÁC GIAI ĐOẠN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TÀNG
TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC
CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY ...................................................... 42

1.3.1. Thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ chứng minh sự
thật của vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma túy ...................................................................... 44
1.3.2. So sánh, đối chiếu các tình tiết của vụ án đã đƣợc làm rõ với quy
định của Điều 194 Bộ luật hình sự để xác định sự tƣơng đồng ............ 46
1.3.3. Đƣa ra kết luận về tội danh ngƣời đã thực hiện hành vi quy định
tại Điều 194 Bộ luật hình sự............................................................... 48
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI

Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TÀNG
TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC
CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY ................................................... 78
3.1.

NHỮNG YÊU CẦU NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỊNH TỘI
DANH ĐỐI VỚI TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA
BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY ........... 78

3.1.1. Yêu cầu về chính trị, xã hội ............................................................... 78
3.1.2. Yêu cầu về lý luận và thực tiễn .......................................................... 81
3.1.3. Yêu cầu về lập pháp hình sự .............................................................. 82
3.2.

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CỦA VIỆC ĐỊNH
TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA
BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY ............. 83

3.2.1. Hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam ................................................ 85
3.2.2. Ban hành các văn bản hƣớng dẫn thi hành......................................... 93
3.3.

NHỮNG GIẢI PHÁP KHÁC NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CỦA VIỆC ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI TÀNG
TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC
CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY ...................................................... 99

3.3.1. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và làm tốt công tác

túy của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong giai
đoạn 05 năm (2010 - 2014)

54

Biểu đồ 2.1. Tình hình xét xử chung và tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy của
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 05
năm (2010 - 2014)

53


MỞ ĐẦU
Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định: “1. Người
bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình
tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật...” [23].
Nhƣ vậy, điều đó có nghĩa chừng nào chƣa có bản án kết tội của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật thì ngƣời bị buộc tội vẫn đƣợc coi là ngƣời chƣa có tội.
Một ngƣời tƣ cách từ “người phạm tội” trở thành “người có tội” nhất định
phải có một bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và đƣợc chứng
minh theo trình tự luật định. Phán quyết của Tòa án mang tính tuyệt đối vì xét
xử là hoạt động của Tòa án nhằm đƣa ra phán quyết cuối cùng mà quyết định
này liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến các lĩnh vực quan hệ xã hội quan
trọng nhất nhƣ tự do, danh dự, tài sản, nhân thân, thậm chí cả tính mạng con
ngƣời. Do đó, để ra một bản án công bằng, có căn cứ và đúng pháp luật đòi
hỏi việc định tội danh và quyết định hình phạt là các hoạt động cơ bản và
quan trọng mang tính quyết định, xác định một ngƣời có tội hay không có tội.
Đây là nội dung cơ bản của việc áp dụng pháp luật hình sự trong quá trình xét
xử, là một trong những biện pháp đƣa các quy phạm pháp luật hình sự vào

thiếu chính xác. Bên ca ̣nh đó , trong lầ n sƣ̉a đổ i bổ sung Bô ̣ luâ ̣t hiǹ h sƣ̣ năm
1999 vào năm 2009, có nhiều ý kiến đề nghị sửa đổi tội tàng trữ , vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy , điề u đó cho thấ y xung quanh
tô ̣i này còn nhiề u vấ n đề cầ n đƣơ ̣c tiế p tu ̣c trao đổ i , nghiên cƣ́u cả về mă ̣t lý
luâ ̣n và về mă ̣t thƣ̣c tiễn để hoàn thiê ̣n hơn nƣ̃a tội tàng trữ , vận chuyển, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, tạo điều kiện cho việc định tội
danh đƣợc chính xác.
Quá trình giải quyết vụ án một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp
luật, đồng thời bảo vệ một cách vững chắc các quyền và tự do của công dân
bằng pháp luật hình sự là một trong những nguyên tắc trong giai đoạn xây

2


dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam hiện nay. Ý thức đƣợc tầm quan trọng
đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk không ngừng đẩy nhanh tiến độ, nâng cao
chất lƣợng giải quyết, xét xử các loại vụ án, phấn đấu không để xảy ra việc
kết án oan ngƣời không có tội và bỏ lọt tội phạm, hạn chế tới mức thấp nhất
các bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán, đảm bảo
các quyết định của Tòa án đúng pháp luật, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, có sức
thuyết phục cao và có tính khả thi. Tuy nhiên, vẫn còn một số ít trƣờng hợp
áp dụng không đúng, chƣa xem xét đầy đủ tính chất, mức độ phạm tội nên
dẫn đến việc định tội danh thiếu chính xác, việc hủy án, sửa án vẫn còn tồn tại
ở tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy.
Với lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: "Định tội danh đối với tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (trên
cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắ k Lắ k)”.
2. Tình hình nghiên cứu
Định tội danh đúng có ý nghĩa rất to lớn về mặt chính trị - xã hội, đạo
đức và pháp luật, có vai trò quan trọng để bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình

Minh, Phương pháp định tội danh và hướng dẫn định tội danh đối với các tội
phạm trong Bộ luật hình sự hiện hành, Nxb. Tƣ pháp, Hà Nội, 2010; 6) PGS.
TS. Lê Văn Đệ, Định tội danh và quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt
Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2005; v.v...
* Nhóm thứ hai - Hệ thống các luận văn, luận án tiến sĩ luật học, nói
chung, chỉ có một số công trình đề cập riêng rẽ đến vấn đề định tội danh hoặc
về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
nhƣ: 3) Nguyễn Thanh Dung, Định tội danh đối với các tội phạm về ma túy,
Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012; v.v...
* Nhóm thứ ba - Hệ thống các bài viết, đề tài khoa học, hiện nay, trên
Tạp chí Tòa án nhân dân và một số tạp chí khác cũng đăng nhƣng chỉ mang
tính chất đơn lẻ và phân tích các dấu hiệu pháp lý giữa các tội phạm, cũng

4


nhƣ định tội danh đối với từng vụ án cụ thể, nhƣ: 1) Phan Anh Tuấn, Định tội
danh trong trường hợp một hành vi thỏa mãn dấu hiệu của nhiều cấu thành
tội phạm, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2001; 2) Nguyễn Thị Hợp, Pháp
luật về xác định tội danh và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số
15/2011; Ngoài ra, đáng chú ý là chuỗi năm bài viết về “Định tội danh - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn” của GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Tạp chí Tòa án
nhân dân các số 3, 4, 5, 8 và 11/1999.
Nhƣ vậy, những bài nghiên cứu hoặc một số công trình sách báo đã nêu
mới chỉ khái quát đƣợc một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động định tội
danh và thực tiễn định tội danh; phân tích, đánh giá một số nhận định liên
quan đến yếu tố định tội danh, đồng thời phân biệt với một số tội phạm trong
Bộ luật hình sự năm 1999 hoặc nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý hình sự, trách
nhiệm hình sự đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt chất ma túy; v.v… Tuy nhiên, hiện nay vẫn chƣa có công trình nào

Lắk, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên nhân cơ bản;
5) Luận chứng và đề xuất yêu cầu và những giải pháp nâng cao chất
lƣợng, hiệu quả của việc định tội danh đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn Đắk Lắk nói riêng, cả
nƣớc nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn đúng nhƣ tên gọi của nó - Định tội
danh đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma túy (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắ k Lắ k).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh
đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
túy theo luâ ̣t hin
̀ h sƣ̣ Viê ̣t Nam (nhƣ: khái niệm, phân loại, cơ sở pháp lý và

6


cơ sở khoa học, các giai đoạn của việc định tội danh đối với tội phạm này),
đánh giá thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đắ k Lắ k trong giai đoạn 05 năm (2010 2014), trên cơ sở đó, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên nhân cơ
bản, từ đó luận chứng và đề xuất những giải pháp nâng cao chất lƣợng, hiệu
quả của việc định tội danh đối với tội phạm này trên địa bàn Đắk Lắk nói
riêng, cả nƣớc nói chung.
5. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài đƣợc nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm, định hƣớng của Đảng về
chính sách hình sự; quan điểm, đƣờng lối xử lý đối với các tội phạm ma
túy nói chung và tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt chất ma túy nói riêng.

công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, việc bảo vệ các quyền
và tự do của con ngƣời nói riêng, cũng nhƣ phòng, chống oan, sai và vi phạm
pháp luật trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự.
Đặc biệt, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên
cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự và Tội phạm học tại
các cơ sở đào tạo luật trên cả nƣớc.
7. Những điểm mới về mặt khoa học của luận văn
Đề tài phân tích dựa trên những bản án, quyết định, báo cáo công tác
ngành Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk - đó là những số liệu thực tế góp phần
làm rõ hơn về thực trạng về định tội danh trên địa bàn đã nêu. Do đó, những
điểm mới cơ bản của luận văn nhƣ sau:
1) Xây dựng khái niệm định tội danh và định tội danh đối với tội tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy;
2) Phân loại và nêu ý nghĩa của việc định tội danh đối với tội tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy;

8


3) Phân tích cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học của việc định tội danh đối
với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy;
cũng nhƣ các giai đoạn định tội danh đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy;
4) Đánh giá, phân tích thực trạng định tội danh đối với tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk
Lắk, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế và một số nguyên nhân cơ bản;
5) Luận chứng và đề xuất yêu cầu và những giải pháp nâng cao chất
lƣợng, hiệu quả của việc định tội danh đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói
riêng, cả nƣớc nói chung.

tại Điều 194 là phức tạp nhất . Trong đó , "tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý là hành vi cất giữ, chuyển dịch, bán hay
mua để bán lại, chiếm đoạt (bằng mọi hình thức) chất ma tuý" [15, tr.255]. Do
đó, định tội danh tối với các tội phạm ma túy nói chung và đối với tội tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy nói riêng là
vấn đề có ý nghĩa quan trọng, làm tiền đề cho việc giải quyết các nhiệm vụ
khác của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự.
Nghiên cứu về định tội danh đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, trƣớc hết cần làm rõ một số nội dung
về mặt lý luận mà trƣớc hết là khái niệm định tội danh.
GS. TSKH. Lê Văn Cảm quan niệm định tội danh là quá trình áp dụng
pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự:

10


Dƣới góc độ khoa học, định tội danh có thể đƣợc hiểu là quá
trình nhận thức lý luận có tính logic, là dạng của hoạt động thực
tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng nhƣ pháp luật tố tụng hình sự
và đƣợc tiến hành trên cơ sở các chứng cứ các tài liệu thu thập đƣợc
và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp
giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc thực hiện
với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tƣơng ứng do luật hình sự
quy định nhằm đạt đƣợc sự thật khách quan, tức là đƣa ra sự đánh
giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc
cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có
căn cứ và đúng pháp luật [4, tr.496].
Còn GS. TS. Võ Khánh Vinh thì định tội danh chỉ là hoạt động áp dụng
pháp luật hình sự:
Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp

thực hiện bởi các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và ngƣời có thẩm quyền
trong các cơ quan đó trên cơ sở quy định của pháp luật. Cũng có tác giả cho
rằng bao gồm cả hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng hình sự nếu hiểu định
tội danh theo nghĩa rộng;
Ba là, định tội danh là cơ sở cho việc quyết định hình phạt và giải quyết
các vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự của ngƣời phạm tội
(trong trƣờng hợp định tội danh chính thức).
Do đó, dƣới góc độ khoa học luật hình sự, theo ngƣời viết, khái niệm
đang nghiên cứu đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền và người có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật
hình sự và pháp luật tố tụng hình sự để xác định, so sánh và ghi nhận về mặt
pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể
trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của

12


điều luật tương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự quy định, cũng
như các quy định khác trong Bộ luật hình sự có liên quan, qua đó làm tiền đề
phân tích, đánh giá và ra quyết định về trách nhiệm hình sự cũng như hình
phạt của người phạm tội.
Ngoài ra, tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma túy là một loại tội phạm cụ thể đƣợc quy định tại Điều 194 Bộ luật
hình sự Việt Nam. Một ngƣời đƣợc coi là chủ thể của tội phạm này khi đáp
ứng các điều kiện là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự, đồng thời là ngƣời đã thực hiện hành vi mà Điều 194 Bộ
luật này quy định với lỗi cố ý, xâm phạm đến chế đô ̣ quản lý các chấ t ma túy
của Nhà nƣớc ở khâu vận chuyển , mua bán , lƣu giƣ̃ chấ t ma túy , xâm phạm
đến trật tự, an toàn xã hội.

các hành vi nhƣ sau:
+ Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ , cất giấu bất
hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào mà không nhằm mục đích mua bán,
vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay
ngắn không ảnh hƣởng đến việc xác định tội này.
Hành vi tàng trữ bị coi là trái phép khi hành vi đó đƣợc thực hiện hoàn
toàn không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền.
+ Hành vi vận chuyển trái phép chấ t ma túy là hành vi chuyển dịch
bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dƣới bất kỳ hình thức
nào mà không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất
ma túy khác.
Ngƣời giữ hộ, hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy cho ngƣời
khác, mà biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy của ngƣời đó, thì
bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với
vai trò đồng phạm.
Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy chỉ có thể là hành động.

14


+ Hành vi mua b án trái phép chất ma túy là hành vi trao đổ i ma túy
dƣới các hin
̀ h thƣ́c sau:
a) Bán trái phép chất ma túy cho ngƣời khác (không phụ thuộc vào
nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có), bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy
cho ngƣời khác để hƣởng tiền công hoặc các lợi ích khác;
b) Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho ngƣời khác;
c) Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho ngƣời khác;
d) Dùng chất ma túy nhằm trao đổi, thanh toán trái phép (không phụ
thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);

định ngay từ đầu bị can có phải là ngƣời phạm tội hay không. Định tội danh
đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
túy là hoạt động đƣợc tiến hành song song và tiếp liền với hoạt động thu
thập, củng cố, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ của các cơ quan tiến
hành tố tụng. Do đó, định tội danh đối với tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy gắn liền với hoạt động chứng minh tội
phạm và ngƣời phạm tội của các cơ quan nói trên.
1.1.2. Phân loại các trường hợp định tội danh đối với tội tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
“Căn cứ vào các chủ thể tương ứng thực hiện việc định tội danh, khoa
học luật hình sự phân chia định tội danh làm hai dạng: định tội danh chính
thức và định tội danh không chính thức” [5, tr.23]. Nhƣ vậy, theo cách tiếp
cận này, có thể phân chia định tội danh đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy làm hai dạng (hay hai trƣờng hợp)
tƣơng ứng - định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức đối
với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy.
* Hình thức định tội danh chính thức đối với tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
Hiện nay, dƣới góc độ khoa học luật hình sự, “định tội danh chính thức

16


là sự đánh giá về mặt nhà nước, tính chất pháp lý hình sự về một hành vi
phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện” [5, tr.23].
Do đó, định tội danh đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma túy là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố
tụng hình sự của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong hoạt động đấu
tranh với tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma túy. Vì vậy, đặc điểm cơ bản của hình thức định tội danh này có thể

giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan Điều tra trong
phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và
quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình
sự. Trong trƣờng hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc
kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác
minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo
có thể dài hơn, nhƣng không quá hai tháng [22, Điều 103].
Từ kết quả xác minh nguồn tin, khi xác định có dấu hiệu của tội phạm,
Cơ quan Điều tra phải sơ bộ định tội danh đối với tội phạm đó. Trƣờng hợp
xác định có dấu hiệu của tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt chất ma túy thì phải ra quyết định khởi tố vụ án tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy. Quyết định khởi tố vụ án
hình sự phải ghi rõ thời gian, căn cứ khởi tố, điều khoản của Bộ luật hình sự
đƣợc áp dụng (khoản 1, 2, 3 hay 4 Điều 194 Bộ luật hình sự) và họ tên, chức
vụ ngƣời ra quyết định.
Các quyết định hoặc văn bản tố tụng trong các giai đoạn sau nhƣ quyết
định khởi tố bị can, bản kết luận điều tra, bản cáo trạng và bản án đều phải thể
hiện chính thức quan điểm chính thức của ngƣời tiến hành tố tụng về tội tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trong đó.
Trƣờng hợp đã khởi tố, điều tra, truy tố xét xử về tội phạm khác, song trong

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status