VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH HẢI
TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC
CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ NAM
Chuyên ngành
Mã s
: Luật h n s v t t n
n s
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. TRẦN ĐÌNH NHÃ
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, có sự hỗ trợ từ người hướng dẫn khoa học là
PGS.TS Trần Đình Nhã.
25
Chương 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ NAM TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015............ 45
44
3.1. Khái quát tình hình xét xử tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Hà Nam từ năm 2010 đến năm
2015 ................................................................................................................. 45
44
3.2. Thực tiễn định tội danh tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Hà Nam từ năm 2010 đến
năm 2015………………………….............................................................
48
3.3. Thực tiễn quyết định hình phạt tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Hà
Nam……………………………………………………………………….
63
3.4. Một số đánh giá, nhận xét về hiệu quả xét xử tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh
Hà Nam............................................................................................................ 70
70
3.5. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Hà
Nam……………………………………………………………………….
Hà Nam từ năm 2010 đến năm 2015……………………………….………
48
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
TNHS
Trách nhiệm hình sự
CTTP
Cấu thành tội phạm
CƯ 1961
Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961
CƯ 1971
Công ước về các chất hướng thần năm 1971
CHXHCNVN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
định xã hội. Tình hình tệ nạn và tội phạm gia tăng và diễn biến phức tạp, trong
đó có các tội phạm về ma túy.
Mức độ gia tăng các loại ma túy và lạm dụng ma túy hiện nay dẫn đến
hàng loạt các vấn đề: sự xuống cấp đạo đức xã hội, các tệ nạn xã hội và tội phạm
phát sinh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Nhận thức rõ sự nguy hiểm của tệ nạn ma túy, trong những năm qua, bằng
nội lực của mình kết hợp với sự giúp đỡ, phối hợp của cộng đồng quốc tế, Đảng
và Nhà nước Việt Nam đã và đang tiếp tục chủ động triển khai đồng bộ và toàn
diện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm đấu tranh phòng, chống các tội
phạm về ma túy và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Một trong những biện
pháp có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về
ma túy là hoạt động xét xử của Tòa án. Bằng việc ra bản án nghiêm minh, đúng
pháp luật, nó vừa có tác dụng giáo dục, trừng trị người phạm tội vừa có tác dụng
răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung một cách có hiệu quả.
Hà Nam là một tỉnh nhỏ, dân số không nhiều (diện tích khoảng 823,1
km2, dân số khoảng 785.057 người) nhưng với đặc điểm là một tỉnh đồng bằng
sông Hồng, là cửa ngõ phía nam thủ đô Hà Nội, có hệ thống giao thông thuận
lợi, có đường sắt, đường thủy và đường bộ nối liền các tỉnh, thành phố khác,
giáp danh các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Hưng Yên, Hòa Bình và
thành phố Hà Nội; số thanh niên đi làm ăn, buôn bán ở các thành phố lớn chiếm
1
tỷ lệ không nhỏ. Những năm gần đây Hà Nam thu hút được nhiều dự án đầu tư
trong và ngoài nước có quy mô lớn, sử dụng nhiều lao động trong và ngoài tỉnh.
Tất cả các điều đó tạo điều kiện cho các tệ nạn xã hội du nhập và phát triển,
trong đó có tệ nạn và tội phạm về ma túy.
Theo nhận định của cơ quan chức năng và theo số liệu khảo sát thì tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa
luận khoa học chuyên sâu Bộ luật hình sự (Phần các tội phạm), Th.s Đinh Văn
Quế, Nxb Lao động năm 2012;
Về các luận văn, công trình nghiên cứu gồm có: Luận án tiến sĩ Luật học
của Trần Văn Luyện với đề tài: “Phát hiện và điều tra tội phạm tàng trữ, vận
chuyển mua bán trái phép chất ma túy của lực lượng Cảnh sát nhân dân” năm
1999; Luận văn thạc sĩ Luật học của Ngô Thị Thanh: “Xét xử sơ thẩm vụ án
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy trong
Luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh ” năm
2014; Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Tuyết Mai: “Đấu tranh phòng chống
các tội phạm về ma túy ở Việt Nam” năm 2007; Đề tài cấp bộ “Những giải pháp
nâng cao chất lượng xét xử các vụ án về ma túy - Cơ sở lý luận và thực tiễn”,
Ths. Nguyễn Quang Lộc (chủ biên), Tòa án nhân dân Tối cao năm 2002;… và
nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành.
Các công trình nghiên cứu trên rất có giá trị liên quan đã có những đóng
góp quan trọng vào việc làm rõ các vấn đề lý luận và tình hình thực tiễn rất đáng
được tham khảo và kế thừa khi thực hiện đề tài “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật Hình sự Việt Nam từ
thực tiễn tỉnh Hà Nam”
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích: Trên cơ sở phân tích những khái niệm và dấu hiệu pháp lý
của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
theo pháp luật hình sự Việt Nam; nghiên cứu, phân tích thực tiễn xét xử các tội
này trên địa bàn tỉnh Hà Nam từ năm 2010 đến năm 2015, qua đó chỉ ra những
3
thành tựu, hạn chế đồng thời tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó; từ đó đề
xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả xét xử tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy.
3.2. Nhiệm vụ: Để đạt được những mục đích trê, luận văn cần giải quyết
sách của Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm, có sử dụng các văn bản
pháp luật, các báo cáo tổng kết xét xử, các tài liệu trong nước có liên quan.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn cũng sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cụ thể sau: thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh,…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn là công trình khoa học pháp lý về tội tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo quy định của
BLHS Việt Nam năm 1999, có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá
trình học tập và nghiên cứu của học viên.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả điều tra, truy tố và xét xử các vụ án về tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy nói chung và trên địa bàn tỉnh
Hà Nam nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy.
- Chương 2: Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma túy theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999.
- Chương 3: Thực tiễn xét xử tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Hà Nam từ năm 2010 đến năm
2015.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA
BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY
ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961, dù là tự nhiên hoặc tổng hợp [51].
- Theo quy định của pháp luật Việt Nam:
Theo từ điển tiếng Việt thì ma túy là những chất thuốc làm đê mê tinh
thần, cảm giác bạc nhược hay buồn ngủ, phần nhiều rút trong á phiện [44].
Luật phòng chống ma túy năm 2000 quy định:
Chất ma tuý là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong
danh các danh mục do Chính phủ ban hành.
Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng.
Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,
nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện với người sử dụng.
Tiền chất là các chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản
xuất ma tuý được quy định do chính phủ ban hành.
Thuốc gây nghiện, hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh được quy định
trong danh mục do Bộ Y tế do chính phủ ban hành [30].
Các chất ma túy được quy định trong danh mục do Chính phủ Việt Nam ban
hành tại Nghị định số 82/2013/NĐ-CP, gồm có 235 chất ma túy chia thành 3 danh
mục và 41 tiền chất không thể thiếu trong quá trình sản xuất chất ma túy [3].
Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày
24 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn thì: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất
hướng thần, được quy định các danh mục do Chính phủ ban hành”[1].
1.1.2. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực
7
trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; xâm phạm chế độ chính trị, chế
đoạt chất ma túy
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
Như vậy, khách thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt chất ma túy là chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc cất giữ, vận
chuyển, trao đổi chất ma túy.
Đối tượng tác động của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma túy là các chất ma túy. Theo Thông tư liên tịch số
17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 24 tháng 12 năm 2007 hướng
dẫn thì: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, được quy định
các danh mục do Chính phủ ban hành”.
* Mặt khách quan của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma túy
Mặt khách quan là mặt bên ngoài của hành vi phạm tội do Luật hình sự
quy định, đó là: Hành vi phạm tội; hậu quả nguy hại; và mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra; công cụ, phương tiện phạm tội,..
Đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất
ma túy thì dấu hiệu hậu quả, công cụ, phương tiện phạm tội,..không phải là dấu
hiệu bắt buộc mà chỉ cần dấu hiệu hành vi là đủ.
* Chủ thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma túy
Chủ thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma túy là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định
theo quy định của BLHS.
* Mặt chủ quan của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma túy
9
Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm các yếu tố: lỗi, động cơ và mục đích
từ một đến năm lần trị giá số thuốc phiện lậu, gười vi phạm có thể bị truy tố
trước Tòa án.
Hai Nghị định nói trên chỉ đề cập xử lý hành vi “Tàng trữ và vận chuyển
trái phép”, không đề cập xử lý hành vi “sản xuất hoặc buôn bán trái phép”.
Chính vì vậy, ngày 15/9/1955, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định
580/TTg quy định các trường hợp này có thể bị đưa ra tòa án để xét xử với mức
phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm, bị tịch thu tang vật, bị phạt tiền từ một đến năm
lần giá trị thuốc phiện buôn lậu.
Thông tư 33/VHH-HS ngày 05/07/1958 được ban hành để hướng dẫn
đường lối truy tố xét xử buôn lậu thuốc phiện.
Sau khi Miền nam được giải phóng, căn cứ vào Nghị định số 76-CP ngày
25/3/1977 của Hội đồng Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, Bộ nội vụ đã ra
Thông tư liên ngành hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong cả nước. Tại
điểm 2 mục H Thông tư đã xác định Nghị định 580-TTg về trừng trị tội buôn lậu
thuốc phiện tiếp tục có hiệu lực thi hành và cho áp dụng thống nhất trong cả nước.
Trước tình hình tội phạm ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, BLHS
năm 1985 ra đời đã có thái độ kiên quyết hơn đối với loại tội phạm này theo
hướng cụ thể hóa và tăng cường hình phạt đối với loại tội phạm này.
1.2.2. Giai đoạn Bộ luật hình s Việt Nam năm 1985 có hiệu l c thi
hành
Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII (từ ngày 21-6 đến ngày 27-6-1985),
Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta được thông qua. Theo BLHS năm
1985 thì chỉ có một điều (Điều 203) quy định riêng về “tội tổ chức dùng chất ma
tuý”, còn hành vi mua bán, vận chuyển ma túy qua biên giới thì bị truy cứu
TNHS theo Điều 97 BLHS “Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa,
tiền tệ qua biên giới” và nếu mua bán, vận chuyển trái phép ma túy trong nội địa
thì bị truy cứu TNHS theo Điều 166 BLHS “Tội buôn bán hoặc tàng trữ hàng
cấm”. Do không đánh giá đúng tính chất đặc biệt nguy hiểm của hành vi buôn
11
Tội sản xuất trái phép chất ma tuý (Điều 185b); Tội tàng trữ trái phép chất ma
túy (Điều 185c); Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 185d); Tội mua
bán trái phép chất ma túy (Điều 185đ); Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 185e);
Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản
xuất trái phép chất ma túy (Điều 185g); Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua
bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép
chất ma túy (Điều 185h); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185i);
Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 185k); tội sử dụng trái
phép chất ma túy (Điều 185l); Tội cưỡng, bức lôi kéo người khác sử dụng trái
phép chất ma túy (Điều 185m); Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc
gây nghiện hoặc các chất ma túy khác (Điều 185n) [23].
BLHS năm 1985 là BLHS đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam, là
công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự
an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong
một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao.
Tuy nhiên, qua 15 năm thi hành, mặc dù đã được sửa đổi bổ sung nhưng BLHS
năm 1985 đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế và không còn phù hợp với điều kiện,
đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội hiện tại, yêu cầu cần phải được sửa đổi một
cách toàn diện. Ngày 21/12/1999, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua
BLHS 1999, có hiệu lực từ 0h ngày 01/07/2000. Theo đó, các tội phạm về ma
túy được quy định thành một chương riêng là Chương XVIII, gồm 10 tội, từ
Điều 192 BLHS đến Điều 201 BLHS [24].
13
Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
quy định tại Điều 194 BLHS năm 1999 có khách thể trực tiếp là chế độ độc
quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy.
Đối tượng tác động của tội phạm: Đối tượng của tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy là các chất ma túy. Theo Thông
tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 24 tháng 12
năm 2007 hướng dẫn thì: “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần,
được quy định các danh mục do Chính phủ ban hành”. Như vậy chỉ những chất
gây nghiên, chất hướng thần, được quy định trong danh mục do chính phủ ban
hành thì mới bị coi là ma túy. Theo Nghị định 82/2012/NĐ-CP Chính phủ ban
hành các danh mục các chất ma túy và tiền chất thì hiện nay các chất ma túy bao
gồm 235 chất chia thành 3 danh mục và 41 tiền chất không thể thiếu trong quá
trình sản xuất, điều chế ma túy.
2.1.2. Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan được hiểu là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những
biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Việc
nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm có vai trò rất quan trọng trong việc
15
định tội và định khung hình phạt, và thông qua mặt khách quan chúng ta cũng có
thể xác định được mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm biểu hiện rõ nét nhất các yếu tố của tội
phạm mà con người có thể nhận biết trực tiếp được bao gồm các yếu tố:
- Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội;
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội;
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;
- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công cụ,
phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội…).
vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình
thức nào (có thể bằng các phương tiện khác nhau như ô tô, tàu bay, tàu thủy…; trên
các tuyến đường khác nhau như đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường
thủy, đường bưu điện…; có thể để trong người như cho vào túi áo, túi quần, nuốt
vào trong bụng, để trong hành lý như vali, túi xách v.v…) mà không nhằm mục
đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác [1].
Người nào giữ hộ, hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy cho người khác
mà biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy của người đó, thì bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.
Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP có hướng dẫn một số trường hợp cần lưu
ý đối với hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy như sau:
- Theo tiểu mục b mục 2 phần II: người nào biết người khác mua chất ma
tuý để sử dụng trái phép mà dùng phương tiện để chở họ cùng chất ma tuý và bị
bắt giữ nếu xét thấy trọng lượng chất ma tuý đến mức phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý, thì người đó là
đồng phạm với người mua về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý.
- Theo tiểu mục c mục 2 phần II: trong trường hợp nhiều người nghiện ma
tuý cùng góp tiền mua chất ma tuý để sử dụng trái phép và bị bắt giữ nếu tổng
17
trọng lượng chất ma tuý mua được đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý, thì họ cùng phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý.
- Theo tiểu mục d mục 2 phần II: người nào nghiện ma tuý có chất ma tuý
hoặc bỏ tiền mua chất ma tuý cho những người nghiện ma tuý khác cùng sử
dụng và bị bắt giữ nếu trọng lượng chất ma tuý đến mức phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý, thì người đó phải
chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý.
Như vậy, hành vi vận chuyển có thể nhằm lấy tiền công vận chuyển, lấy ma túy
ma túy. Việc xác định mục đích người mua chất ma túy có nhằm bán trái phép
hay không cũng chỉ phức tạp trong trường hợp ma túy có trọng lượng (thể tích)
ít và người phạm tội khai nhận mua là để sử dụng. Còn đối với trường hợp
người mua lượng ma túy lớn thì việc xác định mục đích đơn giản hơn và căn cứ
vào những tình tiết xung quanh vụ án, có thể xác định được tội mua bán trái
phép của người phạm tội. Việc xác minh người phạm tội có mục đích bán chất
ma túy cho người khác hay không là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng
và người tiến hành tố tụng. Đây là nhiệm vụ quan trọng bởi nếu không chứng
minh được mục đích mua bán của người phạm tội thì tùy trường hợp chỉ có thể
truy tố người phạm tội về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy, mà
trên thực tế thì đó là những tội có mức độ nguy hiểm thấp hơn tội mua bán trái
phép chất ma túy.
- Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác: Hành vi xin chất ma
túy nhằm bán trái phép cho người khác là bằng lời nói hoặc hành động để người
khác cho mình chất ma túy, rồi sau đó đem chất ma túy đó bán cho một người
thứ ba để lấy tiền hoặc tài sản. Nếu xin được chất ma túy và bán ngay thì hành vi
của người phạm tội là hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Nếu xin được chất
ma túy, đem cất giữ qua một thời gian rồi mới đem bán, thì đó là hành vi tàng
trữ, mua bán trái phép chất ma túy.
19