ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP
HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY TRONG BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM 1999 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN TRấN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
Giáo viên hướng dẫn: TS. Trịnh Quốc Toản
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Khánh Ly
Lớp : K53 Tư pháp hình sự
Hà Nội - Năm 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 4
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA
BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY 4
1.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy 4
1.1.1. Giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự năm 1985 4
1.1.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 6
1.2. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt chất ma túy (Điều 194 BLHS) 7
1.2.1. Khách thể của tội phạm 8
1.2.3. Mặt chủ quan của tội phạm 17
1.2.4. Chủ thể của tội phạm 18
1.3. Đường lối xử lý đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
túy theo pháp luật hình sự hiện hành 20
từ năm 2007 đến năm 2011 41
2.2.5. Tính chất tội phạm, phương thức, thủ đoạn hoạt động 42
2.2.6.Hình phạt áp dụng đối với tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy 44
2.2.7. Nhân thân người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất
ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An 45
2.3. Một số kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy tại tỉnh Nghệ An 47
2.3.1. Cụng tác tuyên truyền vận động phòng, chống ma túy 48
Công tác tuyên truyền vận động phòng, chống ma túy được đổi mới về nội
dung và hình thức, chú trọng cả về diện rộng và chiều sâu đã tạo bước
chuyển biến quan trọng trong cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, nghành,
đoàn thể và quần chúng nhân dân. Tập trung xác định địa bàn, đối tượng có
nguy cơ cao để tuyên truyền, vận động; tổ chức nhiều cuộc mit-tinh, diễu
hành, biểu dương lực lượng phòng, chống ma túy từ tỉnh đến cơ sở, thu hút
được nhiều thành phần, lứa tuổi tham gia, tạo được sự quan tâm, chú ý của
dư luận xã hội 48
2.3.2. Công tác chống tái trồng cây có chất ma túy 48
2.3.3. Công tác cai nghiện 49
2.3.4. Kết quả điều tra, triệt phá tội phạm ma túy của các cơ quan chức năng
trên địa bàn tỉnh Nghệ An 49
2.3.5. Các lực lượng chức năng thường xuyên trao đổi thông tin, chia sẻ kinh
nghiệm trong phòng, chống ma túy với nước bạn Lào 52
2.4. Những khó khăn và vướng mắc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các chất ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An 53
iii
2.4.1. Một số khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng quy định về định
lượng ma túy để xét xử tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma túy theo Điều 194 BLHS 53
2.4.2. Tổ chức và lực lượng phòng chống ma túy chưa đồng bộ và đủ mạnh
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
iv
Lời cảm ơn
Để hoàn thành Khóa luận này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ từ
nhiều phía.
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo trong Bộ môn Tư
pháp Hình sự và các Thầy, Cô trong Khoa Luật - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã
giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại Khoa. Đặc biệt, tôi xin
bày tỏ sự biết ơn tới Thầy giáo - TS.Trịnh Quốc Toản - người đã trực tiếp hướng
dẫn tôi hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp này.
Cảm ơn Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đó giỳp tụi cung cấp các
số liệu liên quan có trong khóa luận.
Cuối cùng, con xin bày tỏ sự biết ơn sâu đậm nhất đến Bố, Mẹ - những
người đã cho con tất cả.
Trong khóa luận của tôi chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót
và hạn chế, vì vậy tôi mong nhận được sự đóng góp của Thầy, Cô giáo cùng
toàn thể các bạn sinh viên.
Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Thị Khánh Ly
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển về kinh tế,
văn hóa, xã hội thì các tệ nạn xã hội cũng có chiều hướng gia tăng và diễn biến
phức tạp, trong đó có tệ nạn ma túy. Nú đó và đang trở thành nỗi nhức nhối của
cả quốc gia, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống kinh tế, chính trị và trật tự
an toàn xã hội.
Ma túy là nguồn gốc dẫn đến tội phạm, là nguyên nhân của sự bần cùng
hóa gia đình, làm băng hoại đạo đức, nhân cách con người, là bạn đồng hành của
- Phân tích tình hình tội phạm, thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các chất ma túy trên
địa bàn Tỉnh Nghệ An. Từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này.
3. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lờnin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về đấu tranh phòng chống tội phạm, có sử dụng các văn bản pháp luật, các báo
cáo tổng kết xét xử, các tài liệu trong nước có liên quan.
Khóa luận sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh, xã hội học để thực hiện nhiệm vụ của đề tài.
4. Kết cấu của khóa luận
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của khóa luận
được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề chung về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy.
- Chương 2: Tình hình tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt chất ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
2
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống
tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
3
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, MUA
BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT CHẤT MA TÚY
1.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định về tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
1.1.1. Giai đoạn từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
khác. Ngày 15/09/1955, Chính phủ ban hành nghị định số 580/TTg quy định các
trường hợp có thể đưa ra tòa án để xét xử với mức phạt tù từ ba tháng đến năm
năm, bị tịch thu tang vật, bị phạt tiền từ một đến năm lần giá trị thuốc phiện lậu
gồm :
- Buôn thuốc phiện có nhiều người tham dự và có thủ đoạn để gian lận,
tang vật có giá trị trên một triệu đồng;
- Buôn nhỏ hoặc làm môi giới có tổ chức thường xuyên, đã thành chuyên
môn hoặc đã bị phạt tiền nhiều lần;
- Các vụ liên quan đến chính quyền hoặc bộ đội;
- Không thi hành quyết định phạt tiền của cơ quan thuế vụ hoặc hải quan.
Bộ tư pháp còn ban hành Thông tư số 635/VVH-HS ngày 29/3/1945 và
Thông tư số 33/VHH-HS ngày 5/7/1958 hướng dẫn đường lối truy tố và xét xử
những vụ án về buôn lậu thuốc phiện.
Sau khi miền Nam giải phóng, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 76/CP ngày 25/3/1977 về chống buôn lậu thuốc phiện.Trên cơ sở nghị
định này, Tòa án nhõn dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ đã
ra Thông tư liên nghành hướng dẫn áp dụng pháp luật trong cả nước.
Năm 1982, Hội đồng Nhà nước đã thông qua pháp lệnh chống đầu cơ,
buôn lậu, buôn bán hàng cấm, hàng giả và kinh doanh trái phép. Trong đó có
điều khoản quy định: “Buôn bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép các chất ma túy
là hành vi nguy hiểm cho xã hội, mức áp dụng hình phạt tối đa là 20 năm tù
giam”.
Trước tình hình tội phạm ma túy ngày có xu hướng diễn biến phức tạp,
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có thái độ kiên quyết hơn trong đấu tranh
phòng, chống ma túy, trước hết thể hiện trong Bộ luật hình sự (BLHS) năm
1985.
5
1.1.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
BLHS năm 1985 có quy định các tội có liên quan đến ma túy. Tuy nhiên,
6
- Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy;
- Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất
ma túy khác.
Ngày 21/12/1999, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua BLHS
năm 1999, có hiệu lực từ 0h00 ngày 01/07/2000. BLHS năm 1999 quy định
riêng chương XVIII về các tội phạm về ma túy. So với BLHS năm 1985 thì các
quy định về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
túy trong BLHS năm 1999 có một số điểm mới:
- Ghép bốn tội danh độc lập quy định tại Điều 185c, Điều 185d, Điều
185đ của BLHS năm 1985 vào Điều 194 với tiêu đề: Tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất các ma túy.
- Trong BLHS năm 1985 có nhiều điều luật cho phép chuyển lên khung
hình phạt nặng hơn khi có nhiều tình tiết định khung tăng nặng của khung tăng
nặng thấp hơn.Ví dụ: Điểm c khoản 3 Điều 185đ BLHS năm 1985 quy định :
“Có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2 điều này”. Tại BLHS năm 1999, tình
tiết này bị xóa bỏ.
- BLHS năm 1985 không có điều luật nào quy định về tỉ lệ thương tật,
còn BLHS năm 1999 có quy định tình tiết này.
- BLHS năm 1985 có tình tiết định khung tăng nặng “ Sử dụng người
chưa thành niên vào việc phạm phỏp”. BLHS năm 1999 đã sửa thành “ Sử dụng
trẻ em vào việc phạm tội”
- Về tội mua bán trái phép chất ma túy, BLHS năm 1985 có tình tiết định
khung tăng nặng “thu lợi bất chính lớn” và “cú tính chất chuyên nghiệp”. Tuy
nhiên ở Điều 194 BLHS năm 1999, hai tình tiết này đã bị loại bỏ.
1.2. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194 BLHS)
Điều 194 BLHS năm 1999 đã quy định bốn tội danh độc lập, đó là :
- Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Tội vận chuyển trái phép chất ma túy
trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện”.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Ma túy là tên gọi chung chỉ
những chất kích thích khi dùng một lần có thể gây nghiện có nguồn gốc tự nhiên
hay nhân tạo. Những chất này khi đưa vào cơ thể sống sẽ làm thay đổi trạng thái
nhận thức và sinh lý”
4
.
2
Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr.137
3
Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr.141
4
ngày 20/04/2012
8
Ở nước ta, việc xác định các chất ma túy được dựa trên cơ sở tham khảo
các bảng quy định về các chất ma túy và các chất hướng thần của 3 công ước
của Liên hợp quốc về kiểm soát chất ma túy là Công ước thống nhất về các chất
ma túy năm 1961, Công ước về chống buôn bán bất hợp pháp các chất gây
nghiện và các chất hướng thần 1988.
Mặc dù từ giữa thế kỷ VII, thuốc phiện đã thâm nhập vào Việt Nam
dưới triều vua Minh Mạng, vua Tự Đức một số đạo luật đầu tiên về cấm trồng,
hút và buôn lậu thuốc phiện đã được ban hành, nhưng trong pháp luật Việt Nam
cụm từ “chất ma túy” xuất hiện khá muộn
5
. Mãi sau khi đất nước thống nhất,
vẫn chỉ duy nhất thuốc phiện bị đặt dưới sự kiểm soát, các chất ma túy khác như
cần sa, cocain vẫn chưa được pháp luật điều chỉnh. Cụm từ “chất ma túy” chỉ
được chính thức sử dụng lần đầu tiên trong pháp luật Việt Nam tại BLHS năm
1985 với việc quy định tội danh “Tội tổ chức, sử dụng trái phép chất ma tỳy”
(Điều 203). Sau khi được BLHS năm 1985 sử dụng, cụm từ này tiếp tục dùng
chính phủ ban hành”. Để làm rõ hơn khái niệm này, Luật Phòng chống ma túy
cung cấp thêm định nghĩa chất gây nghiện và chất hướng thần. Theo đó “Chất
gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối
với người sử dụng” và “Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh
hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với
người sử dụng”. Như vậy, trong luật pháp Việt Nam, cụm từ chất ma túy được
định nghĩa một cách gián tiếp qua cỏc khỏi niệm chất gây nghiện và chất hướng
thần
7
.
Ngoài ra, bên cạnh khái niệm chung tổng quát, các chất ma túy cụ thể và
còn được liệt kê trong các danh mục do Chính phủ ban hành. Theo Nghị định
67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 và Nghị định 133/2003/NĐ-CP ngày
06/11/2003 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất ma
túy bao gồm 228 chất chia thành 3 danh mục và 40 hóa chất không thể thiếu
trong quá trình sản xuất, điều chế ma túy. Hiện tại các chất ma túy bị kiểm sát
tại Việt Nam được liệt kê trong 3 Danh mục :
- Danh mục I gồm các chất ma túy rất độc, tuyệt đối cấm sử dụng; việc
sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều
tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền. Danh mục này
bao gồm các chất ma túy trong Danh mục IV của công ước 1961 và Danh mục I
của công ước 1971 và muối của chúng.
7
Th.s. Nguyễn Thị Phương Hoa, Hoàn thiện khái niệm “chất ma túy” trong pháp luật Việt Nam, Tạp chí khoa
học pháp luật số 3 (34/2006)
10
- Danh mục II gồm các chất ma túy độc hại, được dung hạn chất trong
phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh
vực y tế theo yêu cầu điều trị. Danh mục này bao gồm các chất ma túy trong
Danh mục I và II của Công ước 1961 và các chất hướng thần được dùng trong
thành ba nhóm:
• Ma túy mạnh: Loại ma túy gây phản ứng dược lý mạnh, chỉ cần sử dụng
một lượng nhỏ là có thể tạo ra sự biến đổi trạng thái tâm lý của con người
và vài lần sử dụng là có thể gây nghiện.
• Ma túy trung bình: Loại ma túy gây phản ứng tâm lý là chủ yếu, đồng thời
có cả phản ứng sinh học (amphetamine…)
• Ma túy nhẹ: Loại ma túy không gây nghiện nặng, gây ra phản ứng tâm lý
là chủ yếu (seduxen,…)
- Theo nguồn gốc và tác động dược lý ma túy được chia thành năm loại:
• Ma túy là các chất từ cây thuốc phiện (opiates)
• Ma túy là các chất từ cần sa (cannabis)
• Ma túy là các chất kích thích (stimuland)
• Ma túy là các chất ức chế (depressants)
• Ma túy là các chất gây ảo giác (hallucinorens)
Theo thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-TANDTC-BTP ngày
24/12/2007 về hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Cỏc tội
phạm về ma tỳy” của BLHS năm 1999 quy định:
- Đối với các chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch (như dung
dịch thuốc phiện, dung dịch hờrụin dùng để tiêm, chích) hoặc chất ma túy ở thể
lỏng đã được pha loãng để tiện cho việc sử dụng thì không coi toàn bộ dung dịch
này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng moocphin trong dung
dịch để tính trọng lượng của chất ma túy đó.
- Đối với xái thuốc phiện thỡ khụng coi là nhựa thuốc phiện mà phải xác
định hàm lượng moocphin trong xái thuốc phiện để tính trọng lượng của thuốc
phiện.
1.2.2 . Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm bao gồm
các dấu hiệu biểu hiện tội phạm diễn ra trong thế giới khách quan
8
. Những biểu
.
Người giữ hộ, hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy cho người khác,
mà biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy của người đú, thỡ bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.
9
Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr.145
10
Xem: Mục 3.1, Phần II « Về các tội phạm cụ thể », Thông tư liên tịch của Bộ Công an – VKSNDTC -
TANDTC - Bộ tư pháp số 17/2007/ TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 hướng
dẫn áp dụng một số quy định tại chương VII “Các tội phạm về Ma túy” của BLHS năm 1999
11
Xem: Mục 3.2, Phần II « Về các tội phạm cụ thể », Thông tư liên tịch của Bộ Công an – VKSNDTC -
TANDTC - Bộ tư pháp số 17/2007/ TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 hướng
dẫn áp dụng một số quy định tại chương VII “Các tội phạm về Ma túy” của BLHS năm 1999
13
Điều luật không quy định hành vi tàng trữ, vận chuyển chất ma túy với
số lượng là bao nhiêu thì cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, tại Mục 3.6 Thông tư
liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP quy định
ôNgười nào tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy
với số lượng sau đây không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất trái phép chất
ma túy khỏc thỡ áp dụng khoản 4 Điều 8 BLHS, theo đú khụng truy cứu TNHS
nhưng phải bị xử lý hành chính:
a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao cụca có trọng lượng dưới một
gam;
b) Hờrụin hoặc cụcain có trọng lượng dưới không phẩy một gam;
c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây cụca có trọng lượng dưới một kg;
d) Qủa thuốc phiện khô có trọng lượng dưới năm kilụgam;
đ) Qủa thuốc phiện tươi có trọng lượng dưới 1 kilụgam;
e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng dưới một gam
f) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ mười ml trở xuốngằ
trách nhiệm hình sự với tội danh đầy đủ đối với tội danh đầy đủ đối với hành vi
đã thực hiện theo Điều 194 BLHS và chỉ phải chịu một hình phạt.
14
Xét về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt chất ma túy bao gồm nhiều
hành vi của các tội xâm phạm sở hữu, như hành vi trộm cắp, công nhiên chiếm
đoạt, lừa đảo, cướp giật, cưỡng đoạt và có cả hành vi cướp chất ma túy. Như
vậy, hành vi để cấu thành tội chiếm đoạt chất ma túy rất đa dạng, từ hành vi ít
nguy hiểm, đến hành vi hết sức nguy hiểm cho xã hội, đó là hành vi dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn
công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để chiếm đoạt chất ma túy
(hành vi của tội cướp tài sản). Đây là hành vi hết sức nguy hiểm, không chỉ uy
hiếp đến tinh thần, sức khỏe, tính mạng của người bị tấn công mà còn ảnh
hưởng đến tinh thần, tính mạng, sức khỏe của những người khác (những người
vô tình đi ngang qua khu vực hoặc sinh sống trong khu vực xảy ra vụ chiếm đoạt
chất ma túy). Điều này hoàn toàn có thể xảy ra, khi Việt Nam được nhận xét là
một trong những địa bàn trung chuyển của mạng lưới mua bán trái phép chất ma
túy xuyên quốc gia.Thời gian qua, lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng phá
dỡ nhiều đường dây vận chuyển trái phép chất ma túy với khối lượng lớn đến
hàng tấn (8,5 tấn), nhiều vụ việc đối tượng vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy được trang bị bằng vũ khí hiện đại có tầm sát thương lớn thì đối tượng
13
14
Xem: Mục 3.3; 3.4 Phần II, Thông tư liên tịch của Bộ Công an – VKSNDTC - TANDTC - Bộ tư pháp số
17/2007/ TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn áp dụng một số quy
định tại chương VII “Các tội phạm về Ma túy” của BLHS năm 1999
15
chiếm đoạt chất ma túy hoạt động theo kiểu xã hội đen sẽ trang bị vũ khí không
kém.
* Thực tiễn thường gặp một số trường hợp sau:
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm
lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và
với hậu quả do hành vi ấy gây ra cho xã hội. Mặt chủ quan của tội phạm bao
gồm động cơ phạm tội, mục đích phạm tội và lỗi của người phạm tội
15
.
Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội
và đối với hậu quả của hành vi ấy gây ra cho xã hội thể hiện dưới dạng cố ý
hoặc vụ ý.Thỏi độ tâm lý của chủ thể với hành vi nguy hiểm cho xã hội không
phải sau sự kiện thực hiện hành vi mà trong quá trình thực hiện nó, đồng thời
với quá trình thực hiện hành vi. Thái độ tâm lý này là quá trình tâm lý diễn ra
trong ý thức của người phạm tội
16
.
Tội phạm phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý. Một người phải chịu TNHS về việc đã thực hiện hành vi đã gây
thiệt hại cho xã hội nếu họ có lỗi khi thực hiện hành vi đó. Nguyên tắc có lỗi là
một nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam, không có lỗi thì không có tội.
Nhà nước không chấp nhận sự quy tội khách quan tức là truy cứu TNHS một
người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nhưng không xem xét lỗi của
họ khi thực hiện hành vi ấy
17
.Có thể chia lỗi thành lỗi cố ý trực tiếp, lỗi cố ý
gián tiếp, lỗi vô ý do cẩu thả.
Lỗi của người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma túy là lỗi cố ý trực tiếp. Về ý chí, người phạm tội nhận thức
được hành vi mua bán ma túy là hành vi trái pháp luật, họ có đủ điều kiện khách
quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác nhưng họ vẫn thực hiện
hành vi phạm tội.
Theo quy định tại Điều 9 BLHS năm 1999, có thể hiểu, lỗi cố ý trực tiếp
buộc khác, trường hợp này được gọi là chủ thể đặc biệt.
Chủ thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
các chất ma túy là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định
Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để xác định con
người có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ có người có
năng lực trách nhiệm hình sự mới có thể là chủ thể của tội phạm. Người có năng
lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có
khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực
18
Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr.161
18
hiện và điều khiển được hành vi đó
19
. Chỉ có người có năng lực trách nhiệm
hình sự mới có thể là chủ thể của tội phạm.
Người có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam là
người đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp ở
trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Theo Điều 12 BLHS năm 1999:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm,
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng”
20
Đối chiếu với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt các chất ma túy tại Điều 194, Khoản 1 điều 194 là tội phạm nghiêm trọng.
Do đó chủ thể của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt
chất ma túy theo khoản 1 là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách
nhiệm hình sự. Khoản 2, 3, 4 Điều 194 là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng. Vì thế nên chủ thể của tội mua bán trái phép chất ma túy
vào loại chất ma túy mà họ phải bị áp dụng điểm tương ứng với điểm b “phạm
tội nhiều lần” quy định tại khoản 2 Điều 194.
+ Trường hợp người chưa thành niên chưa đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
thực hiện hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các
chất ma túy từ hai lần trở lên và trọng lượng chất ma túy của mỗi lần thuộc
trường hợp quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 194 thì cùng với việc phải
bị xét xử theo khoản tương ứng, họ còn phải bị áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều
lần” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 148.
1.3. Đường lối xử lý đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy theo pháp luật hình sự hiện hành
Điều 194 BLHS năm 1999 quy định bốn khung hình phạt, bao gồm
khung cơ bản và 3 khung tăng nặng TNHS.
1.3.1. Khung cơ bản (Khoản 1 Điều 194 BLHS) đối với trường hợp
phạm tội không có các tình tiết là yếu tố định khung.
Khoản 1 Điều 194 năm 1999 là cấu thành cơ bản của tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy có mức phạt tù từ 2 năm
đến 7 năm, áp dụng cho những trường hợp phạm tội bình thường, không thuộc
20