Dấu hiệu định tội của tội trộm cắp tài sản theo quy định của bộ luật hình sự việt nam năm 1999 một số vấn đề lý luận v - Pdf 33

MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU
1
Tình thế cấp thiết của đề tài: 1
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài:
2
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài: 2
4. Phương pháp nghiên cứu: 3
5. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài:
3
6. Bố cục của đề tài:
3
B. NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN THEO
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999
4
1.1. Khái niệm : 4
1.1.1.Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1985 4
1.1.2. Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999 5
1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999
6
1.2.1. Khách thể của tội trộm cắp tài sản
7
1.2.2. Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản
11
1.2.3. Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản

2.1.1. Đặc điểm địa bàn huyện Qùy Hợp 51
2.1.2. Tình hình tội phạm hình sự trên địa bàn huyện Qùy Hợp 51
2.1.3. Tình hình tội phạm trộm cắp trên địa bàn huyện Qu Hp .
53
2.2. Nguyên nhân phạm tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Quỳ Hợp 59
2.2.1. Nguyên nhân về kinh tế, xã hội
59
2.2.2. Nguyên nhân về công tác giáo dục 60
2.2.3. Nguyên nhân về quản lý xã hội
61
2.2.4. Nguyên nhân về quản lý tài sản của chủ sở hữu, ngời có trách nhiệm quản
lý tài sản 61
2.3. Điều kiện phạm tội trộm cắp tài sản
62
2.4. Mt s kin ngh v gii phỏp nhm hn ch ti trm cp ti sn trờn a bn
huyn Qu Hp 62
2.4.1. Một số biện pháp phòng ngừa tội phạm trộm cắp trên địa bàn huyện Quỳ
Hợp 62
2.4.2. Một số kiến nghị về nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác phòng ngừa
tội trộm cắp trên địa bàn huyn Qựy Hp Tnh Ngh An
C. KT LUN 68
D. DANH MC TI LIU THAM KHO 70

A. M U
2

65


1.Tình thế cấp thiết của đề tài:

3


1999 - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn trên địa bàn huyện Quỳ Hợp” làm
khoá luận tốt nghiệp cho mình với hy vọng giúp có được cái nhìn toàn diện,
đúng đắn về tội trộm cắp tài sản.
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản, trước hết phải kể đến
Giáo trình Luật hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Quốc
Gia Hà Nội, Bình luận khoa học BLHS phần Các tội xâm phạm sở hữu đã phân
tích các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản, tiếp đó là các công trình
nghiên cứu cá nhân như tác giả Vũ Thiện Kim với “Trách nhiệm hình sự đối với
các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, tài sản của công dân”, tác giả Thân
Như Thành với luận văn thạc sĩ luật học “Đấu tranh phòng chống tội trộm cắp
tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội”, tác giả Nguyễn Ngọc Chí với “Trách
nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu” cùng nhiều công trình nghiên
cứu khác. Song các công trình nghiên cứu đó hoặc là về các tội xâm phạm sở
hữu nói chung hoặc là đi sâu nghiên cứu về mặt đấu tranh phòng chống tội
phạm, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về tội trộm cắp tài sản.
Khoá luận này đi vào nghiên cứu những dấu hiệu đặc trưng pháp lý để định tội
trộm cắp tài sản, đồng thời nghiên cứu về thực trạng và đưa ra một số kiến giải
nhằm khắc phục tình trạng tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Quỳ Hợp.
3.Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Đề tài đi vào nghiên cứu dấu hiệu định trộm cắp tài sản, nhằm làm rõ dấu hiệu
đặc trưng pháp lý của tội trộm cắp tài sản với các tội xâm phạm sở hữu khác.
Ngoài ra đề tài còn nghiên cứu về thực trạng và đưa ra một số kién giảinhằm
khắc phục tình trạng tội trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Quỳ Hợp.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để đạt được mục tiêu đề ra, trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng
phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp so

1.1. Khái niệm :
1.1.1.Tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1985
Từ những văn bản tản mạn riêng lẻ, BLHS năm 1985 được Quốc hội khoá VII
thông qua ngày 27-6-1985, thể hiện dưới hình thức bộ luật - một hình thức lập
pháp cao, đã trình bày có hệ thống, toàn diện phần chung cũng như phần các tội
phạm có tính bao quát về tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội có tác dụng
bảo vệ thành quả cách mạng, an ninh quốc gia, trật tự xã hội, quyền và lợi ích
hợp pháp khác của công dân. BLHS 1985 về các tội xâm phạm sở hữu rất tiêu
biểu cho thời kì quá độ xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, theo đó chỉ
có hai loại hành vi xâm phạm sở hữu là hành vi xâm phạm sở hữu XHCN và
hành vi xâm phạm sở hữu của công dân quy định ở hai chương: Các tội xâm
phạm sở hữu XHCN và Các tội xâm phạm sở hữu của công dân.
Điều 132 BLHS 1985 quy định tội trộm cắp tài sản XHCN như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam
giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 2. Phạm tội thuộc
một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a.
Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b. Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy
hiểm; c. Hành hung để tẩu thoát; d. Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; đ. Tái
phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị
phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình”.
Điều 155 BLHS 1985 quy định tội trộm cắp tài sản của công dân như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam
giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm. 2. Phạm tội thuộc
một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm: a.
Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp; b. Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy
6


hiểm, hành hung để tẩu thoát; c. Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu

7


e. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu
đồng; g. Gây hậu quả nghiêm trọng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường
hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a. Chiếm đoạt tài sản
có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b. Gây hậu quả
rất nghiêm trọng. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị
phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a. Chiếm đoạt
tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b. Gây hậu quả đặc biệt
nghiêm trọng. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến
dưới năm mươi triệu đồng”.
Đối với nhóm tội xâm phạm sở hữu nói chung và tội trộm cắp tài sản nói riêng,
BLHS 1999 đã có những thay đổi đáng kể so với BLHS 1985 khi chỉ xây dựng
một chương: Các tội xâm phạm sở hữu, bao quát tất cả các hình thức sở hữu đã
được BLDS quy định, bảo đảm vị trí bình đẳng của các thành phần kinh tế đồng
thời vẫn thể hiện được sự đề cao vai trò của sở hữu Nhà nước khi quy định hành
vi “xâm phạm sở hữu của Nhà nước” là một tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều
48 BLHS . Đối với tội trộm cắp tài sản, BLHS 1999 không còn quy định thành
hai tội trộm cắp tài sản XHCN và tội trộm cắp tài sản của công dân mà quy định
thống nhất thành tội trộm cắp tài sản, vấn đề định lượng giá trị tài sản bị chiếm
đoạt là tình tiết định tội và định khung hình phạt là những điểm thay đổi cơ bản
của BLHS 1999 so với BLHS 1985.
1.2. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999
Ở mỗi giai đoạn lập pháp hình sự, Nhà nước đều ban hành các quy định về tội
trộm cắp tài sản và đường lối xử lý người phạm tội, song các văn bản pháp luật
đều không đưa ra khái niệm về tội trộm cắp tài sản, như vậy cần tìm hiểu thế nào
là tội trộm cắp tài sản.
Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, trộm cắp tài sản được hiểu

tội xâm phạm sở hữu, khách thể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ sở hữu tài
sản. “Sở hữu”, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là tổng thể các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình sản xuất và phân phối của cải vật chất giữa con
người với nhau trong xã hội. Quan hệ sở hữu tài sản là quan hệ xã hội trong đó
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Pháp luật dân sự Việt Nam quy định một người được coi là chủ sở hữu tài sản
khi người đó có đầy đủ ba quyền năng: quyền chiếm hữu là quyền quản lý, chi
phối tài sản; quyền sử dụng là quyền khai thác các lợi ích vật chất và tinh thần từ
9


tài sản; quyền định đoạt là quyền quyết định số phận của tài sản như bán, cho
thuê... Khi có hành vi trộm cắp tài sản (hành vi chiếm đoạt tài sản) làm cho chủ
sở hữu tài sản không có khả năng thực hiện được các quyền năng đó của mình
trên thực tế, nghĩa là quyền sở hữu tài sản của họ bị xâm phạm.
Đối với hành vi trộm cắp tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản
thì khách thể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ sở hữu tài sản, vậy đối với
những tài sản không thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản như: tài sản
do chiếm hữu bất hợp pháp, tài sản do phạm tội mà có... thì những tài sản mà
người bị chiếm đoạt có được không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Luật
hình sự đã khẳng định khách thể của tội phạm phải là quan hệ xã hội được luật
hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại, vì vậy trong trường hợp này khách thể
của tội trộm cắp tài sản không phải là quan hệ sở hữu tài sản. Hành vi phạm tội
trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm, bị xã
hội lên án, nó ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội. Do đó, trong
trường hợp này khách thể của tội trộm cắp tài sản là quan hệ xã hội liên quan
đến trật tự an toàn xã hội. Nếu cho rằng khách thể của tội trộm cắp tài sản chỉ là
quan hệ sở hữu tài sản thì trường hợp trên sẽ không cấu thành tội phạm, điều này
bất hợp lý và dẫn đến bỏ lọt tội phạm khi hành vi trộm cắp tài sản hợp pháp thì
phạm tội còn hành vi trộm cắp tài sản bất hợp pháp thì không phạm tội. Vì vậy

giá và các quyền tài sản”.
“Vật” có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản nếu nó nằm
trong sự chiếm hữu của con người, “tiền” bao gồm tiền Việt Nam và tiền nước
ngoài đang được lưu hành trên thị trường, “giấy tờ có giá” gồm hai loại là giấy
tờ có giá ghi danh có ghi tên chủ sở hữu và giấy tờ có giá vô danh không ghi tên
chủ sở hữu, ai nắm giữ nó thì có quyền sở hữu nó, vì vậy chỉ có giấy tờ có giá
vô danh mới có thể trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản vì khi
lấy nó người phạm tội mới thực hiện được quyền của chủ sở hữu, còn với giấy
tờ có giá ghi danh chỉ có chủ sở hữu mới có thể thực hiện được quyền sở hữu
của mình nó không thể bị dịch chuyển một cách trái phép bởi hành vi chiếm
đoạt. Đối với tài sản là “quyền tài sản” như quyền đòi nợ..., nó tồn tại dưới
dạng vô hình không nhìn thấy sờ thấy nó gắn liền với một chủ thể nhất định,
trình tự xác lập thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản đó tuân theo quy định
pháp luật và không thể bị dịch chuyển trái phép bởi hành vi chiếm đoạt nên
“quyền tài sản” cũng không phải là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản.
Tài sản là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản phải tồn tại dưới dạng một
11


động sản theo quy định của BLDS. Những tài sản thuộc loại bất động sản có
tính chất vật lý cố định không di dời được như đất đai, nhà cửa... không là đối
tượng tác động của tội trộm cắp tài sản. Tuy nhiên có một số tài sản nếu tách
riêng thì nó là động sản nhưng luật dân sự quy định là bất động sản do công
dụng của nó như cánh cửa gắn liền với ngôi nhà, cây cối trồng trên đất... vẫn có
thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản. Cần lưu ý là, đối với tài sản
đặc thù pháp luật có quy định riêng như: tàu bay, tàu thuỷ, vũ khí quân dụng,
phương tiện kĩ thuật quân sự, đất đai, chiến lợi phẩm... không thể là đối tượng
tác động của tội trộm cắp tài sản dù nó có bị hành vi phạm tội xâm hại tới, mà
nó sẽ là đối tượng tác động của các tội phạm khác như tội chiếm đoạt tàu bay,
tàu thuỷ (Điều 221 BLHS), tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng phương tiện kĩ

thực hiện bằng thủ đoạn lén lút). “Lén lút” được hiểu là hành vi cố ý giấu diếm,
vụng trộm không để lộ ra do có ý gian [15, tr.467]. “Lén lút” chiếm đoạt tài sản
trong tội trộm cắp tài sản là hành vi của một người cố ý thực hiện một việc làm
bất minh, vụng trộm, giấu diếm không để lộ ra cho người khác biết nhằm chiếm
đoạt tài sản của người khác, nó có đặc điểm khách quan là “lén lút” và ý thức
chủ quan của người phạm tội cũng là “lén lút”. Hành vi chiếm đoạt được coi là
“lén lút” nếu được thực hiện bằng hình thức có khả năng không cho phép chủ
tài sản biết khi hành vi này xảy ra, ví dụ: lợi dụng lúc chủ nhà đi vắng, người
phạm tội đã đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản; ý thức chủ quan của người phạm
tội là “lén lút” nếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người này có ý thức che
giấu hành vi mình đang thực hiện. Việc che giấu này chỉ đòi hỏi với chủ tài sản
còn với những người khác người phạm tội có thể “lén lút” hoặc công khai thực
hiện hành vi phạm tội. Trong thực tế, hành vi “lén lút” chiếm đoạt tài sản có thể
được thực hiện dưới những hình thức khác nhau: có thể người phạm tội thực
hiện hành vi chiếm đoạt một cách giấu diếm vụng trộm, che giấu toàn bộ sự việc
phạm tội, ví dụ: Nguyễn Thị H là người giúp việc cho gia đình anh N. Nhân lúc
chủ nhà đi vắng H đã lấy trộm tài sản nhà anh N rồi bỏ đi; có thể người phạm tội
thực hiện hành vi chiếm đoạt công khai, trắng trợn không có ý che đậy giấu
diếm hành vi phạm tội, họ chỉ che giấu hành vi phạm tội với chủ tài sản: hoặc là
công khai sự vi phạm pháp luật cuả hành vi phạm tội như: người phạm tội ngang
nhiên móc trộm ví của chủ tài sản ngay trước sự chứng kiến của những người
xung quanh nhân lúc chủ tài sản không để ý, hoặc là công khai thực hiện hành vi
chiếm đoạt nhưng bản chất chiếm đoạt đã được che đậy, ví dụ: người phạm tội
đóng giả là nhân viên chở hàng của công ty đã ngang nhiên chở hàng ra khỏi
13


công ty trước sự chứng kiến của các nhân viên trong công ty.
Như vậy, dù là hành vi chiếm đoạt được thực hiện công khai hay giấu diếm thì
đều có chung bản chất là “lén lút” chiếm đoạt đối với chủ tài sản. Trường hợp


thể là người quản lý trong trường hợp bình thường khi được chủ sở hữu giao
quản lý tài sản thông qua hợp đồng trông giữ tài sản, hoặc là người quản lý tài
sản trong trường hợp đặc biệt khi có sự kiện pháp lý xảy ra sẽ phát sinh trách
nhiệm quản lý tài sản (thực tế thường là trường hợp người đó tự nguyện đứng ra
trông coi quản lý tài sản cho chủ sở hữu, ví dụ: khi chủ nhà đi vắng thì nhà bị
cháy, hàng xóm đã dập đám cháy và bảo vệ tài sản cho chủ nhà chờ khi chủ nhà
về sẽ giao lại tài sản, hoặc khi chủ sở hữu không có điều kiện bảo vệ tài sản của
mình. Trong những trường hợp trên, bất kể đó là chủ sở hữu hay người quản lý
tài sản, người quản lý trực tiếp hay gián tiếp, người quản lý trong trường hợp
bình thường hay trường hợp đặc biệt thì người phạm tội muốn chiếm đoạt tài sản
đều phải “lén lút” với những người này.
Nghiên cứu tính chất của hành vi chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa quan trọng, giúp
phân biệt tội trộm cắp tài sản với một số tội phạm khác nhất là tội công nhiên
chiếm đoạt tài sản, ví dụ sau đây sẽ làm sáng tỏ vấn đề trên: A và B đang cùng
nhau đi trên đường thì bị tai nạn giao thông, A bị thương nặng nên ngất đi, B bị
thương nhưng vẫn tỉnh táo, lúc này phát sinh trách nhiệm quản lý tài sản của B.
Người phạm tội muốn trộm cắp tài sản thì phải “lén lút” với B, nếu lợi dụng
tình trạng B bị thương không có điều kiện để bảo vệ tài sản mà người phạm tội
công khai lấy tài sản trước mặt B thì là công nhiên chiếm đoạt tài sản. Còn đối
với trường hợp cả A và B bị thương đều ngất đi không có ai đứng ra bảo vệ tài
sản cho họ mà người phạm tội công khai lấy tài sản trước sự chứng kiến của
những người xung quanh thì vẫn là trộm cắp tài sản, người phạm tội vẫn “lén
lút” đối với chủ tài sản là A và B khi thực hiện hành vi chiếm đoạt [20, tr.26].
Nội dung biểu hiện thứ hai thuộc mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản là quả
hậu nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Hậu quả nguy hiểm của tội phạm là
thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho những quan hệ xã hội là khách thể bảo
vệ của luật hình sự, được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường
của các bộ phận cấu thành nên khách thể (đối tượng tác động của tội phạm). Bất
kì tội phạm nào cũng có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng

mặt chủ quan, giữa những biểu hiện bên ngoài và hoạt động tâm lý bên trong.
1.2.3. Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản
Mặt chủ quan của tội phạm là những diễn biến tâm lý bên trong của tội phạm
bao gồm: lỗi của người phạm tội, mục đích phạm tội, động cơ phạm tội; trong
đó lỗi là yếu tố được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm.
Điều 8 BLHS quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
16


định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện
một cách cố ý hoặc vô ý...”. Nguyên tắc lỗi là nguyên tắc cơ bản trong luật hình
sự Việt Nam, một người chỉ phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm cho xã hội
khi họ có lỗi trong khi thực hiện hành vi đó. Người thực hiện hành vi bị coi là có
lỗi nếu họ có sự tự do lựa chọn thực hiện hành vi đó trong khi họ có đủ điều kiện
lựa chọn xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Do vậy, lỗi được hiểu là
thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã
hội, được thực hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.
Về mặt hình thức, lỗi gồm hai yếu tố cấu thành là yếu tố lý trí (thể hiện khả năng
nhận thức của chủ thể) và yếu tố ý chí (thể hiện khả năng điều khiển hành vi của
chủ thể). Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc tâm lý của hai yếu tố đó người ta chia lỗi
thành hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý là trường hợp người phạm tội nhận
thức rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi
và mong muốn hậu quả xảy ra (lỗi cố ý trực tiếp), hoặc thấy trước hậu quả có
thể xảy ra tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc hậu quả xảy ra (lỗi cố
ý gián tiếp); lỗi vô ý là trường hợp người phạm tội do cẩu thả mà không thấy
trước khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mặc dù phải thấy trước và
có thể thấy trước (lỗi vô ý do cẩu thả), hoặc tuy thấy trước hành vi của mình có
thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả không xảy ra
hoặc có thể ngăn ngừa được (lỗi vô ý vì quá tự tin). Đối với tội trộm cắp tài sản,
lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Về mặt lý trí, người phạm tội nhận

tăng nặng “xâm phạm tài sản của Nhà nước”, nếu người phạm tội không thể
biết tài sản đó là của Nhà nước hoặc họ thực sự có sai lầm cho rằng tài sản đó
không phải của Nhà nước thì không áp dụng tình tiết tăng nặng đó, còn trong
trường hợp khi chiếm đoạt người phạm tội không cần biết tài sản đó là của Nhà
nước hay của công dân thì nếu tài sản đó là của Nhà nước sẽ áp dụng tình tiết
tăng nặng “xâm phạm tài sản của Nhà nước”, nếu tài sản đó không phải là tài
sản của Nhà nước thì không áp dụng tình tiết tăng nặng đó, với cách hiểu như
vậy sẽ hợp lý hơn đồng thời có tác dụng răn đe những người biết rõ tài sản đó là
của Nhà nước, có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội mà vẫn chiếm đoạt.
Biểu hiện thứ hai thuộc mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản là mục đích phạm
tội. Mục đích phạm tội được hiểu là kết quả mà người phạm tội hướng tới, nhằm
đạt được khi thực hiện tội phạm. Mục đích của người phạm tội trộm cắp tài sản
là mục đích chiếm đoạt. Người phạm tội mong muốn chiếm đoạt được tài sản
của người khác biến nó thành tài sản của mình. Hành vi trộm cắp tài sản là hành
18


vi chiếm đoạt tài sản, hành vi này đã thể hiện được mục đích của người phạm
tội, tuy nó không được nhà làm luật quy định trong cấu thành tội phạm nhưng nó
là dấu hiệu bắt buộc, mục đích này luôn được đặt ra trước khi người phạm tội
thực hiện tội phạm. Ngoài ra còn phải kể đến động cơ phạm tội, đó là động lực
bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm. Động cơ phạm tội trong
tội trộm cắp tài sản là động cơ vụ lợi, nhưng đó không phải là dấu hiệu bắt buộc
trong cấu thành tội trộm cắp tài sản.
Để tìm hiểu toàn diện về tội trộm cắp tài sản, cần tìm hiểu về độ tuổi và năng lực
TNHS của người thực hiện hành vi phạm tội.
1.2.4. Chủ thể của tội trộm cắp tài sản
Theo quy định của BLHS: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình
sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự ” (Điều 2 BLHS) và “Tội phạm
là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự do người

với tội trộm cắp tài sản, chủ thể của tội phạm là chủ thể bình thường, đó là người
có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định. Theo đó, người từ đủ 14 tuổi nhưng
chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản theo khoản 3, 4 Điều138
BLHS; người từ đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản trong mọi
trường hợp phạm tội.
Như vậy, chủ thể của tội trộm cắp tài sản là người từ đủ 14 tuổi trở lên, có năng
lực TNHS đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138
BLHS.
1.3. Đồng phạm và các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản
1.3.1. Đồng phạm trộm cắp tài sản
Tội phạm nói chung cũng như tội trộm cắp tài sản nói riêng không chỉ thực hiện
bởi một người mà có thể được thực hiện bởi nhiều người mà giữa họ đã có sự
thống nhất ý chí cùng thực hiện một tội phạm, trường hợp phạm tội đặc biệt này
trong khoa học luật hình sự gọi là đồng phạm.
“Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội
phạm” (Điều 20 BLHS), do đó đồng phạm trộm cắp tài sản là trường hợp có hai
người trở lên cố ý cùng thực hiện tội trộm cắp tài sản. Từ khái niệm trên có thể
rút ra một số dấu hiệu về đồng phạm trộm cắp tài sản như sau:
Thứ nhất, dấu hiệu về mặt khách quan: đồng phạm trộm cắp tài sản phải có từ
hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện là chủ thể của tội phạm (từ
đủ 14 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp không có năng lực TNHS), ví dụ:
A 17 tuổi và B 19 tuổi đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị
20


10 triệu đồng; dấu hiệu thứ hai là những người đồng phạm đó cùng thực hiện tội
trộm cắp tài sản.
Họ có thể tham gia thực hiện tội trộm cắp tài sản với một trong các hành vi sau:
hành vi thực hành tội trộm cắp tài sản, người có hành vi này gọi là người thực
hành; hành vi tổ chức việc thực hiện tội trộm cắp tài sản, người có hành vi này

chừng chấm dứt việc phạm tội.
Hiện nay, xuất hiện rất nhiều các băng, ổ nhóm chuyên trộm cắp tài sản có
người tổ chức lên kế hoạch cho việc thực hiện tội phạm gây thiệt hại lớn cho xã
hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội, ví dụ vụ án Trần Văn A
và Hoàng Văn B thường trú tại Hà Nội đã thành lập băng nhóm chuyên trộm cắp
tài sản là máy vi tính với địa bàn hoạt động chủ yếu là phường Tân Mai và
Hoàng Văn Thụ, chúng đã phân công cho đàn em điều tra nghiên cứu kĩ mục
tiêu, lên kế hoạch chu đáo cho việc thực hiện tội pham vì vậy chỉ trong khoảng
thời gian ngắn chúng đã liên tiếp thực hiện được nhiều vụ trộm cắp máy tính với
tổng trị giá tài sản lên đến vài trăm triệu đồng.
Chính vì tính nguy hiểm cao hơn của hình thức đồng phạm này so với hình thức
đồng phạm thông thường nên điều luật quy định tình tiết “phạm tội có tổ chức”
là tình tiết định khung tăng nặng.
Đối với đồng phạm trộm cắp tài sản, không chỉ có đồng phạm hành động mà còn
có đồng phạm không hành động, đó là trường hợp những người đồng phạm trộm
cắp tài sản không hành động phạm tội, ví dụ: A đã thoả thuận với B là bảo vệ
của cơ quan không khoá cửa kho để đến đêm A vào kho lấy trộm tài sản của cơ
quan. Trong trường hợp này A và B là đồng phạm trộm cắp tài sản, A là người
thực hành còn B là người giúp sức (không hành động phạm tội).
1.3.2. Các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản
Tội phạm không phải lúc nào cũng được thực hiện đến cùng mà có thể được
thực hiện ở những mức độ khác nhau do nhiều nguyên nhân, trong khoa học luật
hình sự gọi là các giai đoạn thực hiện tội phạm.
Nghiên cứu các giai đoạn thực hiện tội phạm giúp xác định đúng TNHS của
người phạm tội, ở mỗi giai đoạn phạm tội BLHS có quy định khác nhau về
TNHS của người phạm tội. Để nghiên cứu tội trộm cắp tài sản một cách toàn
diện, cần nghiên cứu về các giai đoạn thực hiện tội trộm cắp tài sản.
Theo đó, các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ý
bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.
1.3.2.1. Chuẩn bị phạm tội trộm cắp tài sản

trong cấu thành tội phạm nhưng đã không thực hiện được đến cùng, hành vi
phạm tội chưa thoả mãn hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành
tội phạm, có thể người phạm tội mới thực hiện được hành vi đi liền trước hành
vi khách quan như người phạm tội đang mở khoá định đột nhập vào nhà lấy
23


trộm tài sản thì bị chủ nhà phát hiện, hoặc người phạm tội đã thực hiện hành vi
chiếm đoạt tài sản nhưng chưa thực hiện được đến cùng chưa gây thiệt hại tài
sản, ví dụ: người phạm tội đang giấu tài sản vừa chiếm đoạt được thì bị chủ tài
sản phát hiện thu giữ..., ở đây người phạm tội không thực hiện được tội phạm
đến cùng là do nguyên nhân ngoài ý muốn chứ bản thân người phạm tội muốn
thực hiện tội phạm đến cùng nhằm chiếm đoạt được tài sản, do đó họ phải chịu
TNHS về tội phạm đó (theo quy định tại Điều 18 BLHS)
1.3.2.3. Tội trộm cắp tài sản hoàn thành
Tội phạm hoàn thành là giai đoạn phạm tội mà hành vi phạm tội đã thoả mãn hết
các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm. Khi tội phạm hoàn thành đã
thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội.
Tội trộm cắp tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất, tội phạm hoàn thành khi
đã gây ra hậu quả là thiệt hại tài sản. Nhưng trên thực tế việc xác định thời điểm
hoàn thành của tội trộm cắp tài sản không đơn giản, còn nhiều ý kiến khác nhau.
Có ý kiến cho rằng tội phạm hoàn thành khi người phạm tội đã tạo ra được khả
năng thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản cho mình, còn
có ý kiến cho rằng tội phạm hoàn thành khi chủ sở hữu mất khả năng thực hiện
các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình trên thực tế. Có thể
thấy rằng, hành vi chiếm đoạt tài sản là quá trình tạo khả năng chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản cho người phạm tội đồng thời làm mất việc thực hiện các
quyền năng đó trên thực tế của chủ sở hữu, song hai quá trình này không phải
lúc nào cũng diễn ra đồng thời, mà có khi người phạm tội đã làm mất khả năng
thực hiện quyền sở hữu của chủ sở hữu nhưng chưa tạo ra được khả năng thực

thuộc vào thời điểm tội phạm hoàn thành mà phụ thuộc vào thời điểm tội phạm
kết thúc, hơn nữa đối với đồng phạm trộm cắp tài sản những người đồng phạm
đều hướng tới mục đích chung là chiếm đoạt được tài sản, biến tài sản đó thành
tài sản của mình chứ họ không chỉ muốn dừng lại ở việc hoàn thành tội phạm,
song mục đích này trên thực tế không dễ gì đạt được, những người đồng phạm
vẫn cần phối hợp hành động để chiếm được và kiểm soát được tài sản đó, ví dụ:
A đã lấy trộm được một số tài sản của một cơ quan nhưng sợ bị phát hiện nên đã
đem giấu vào một nơi mà chưa mang về nhà (tội trộm cắp tài sản đã hoàn thành
nhưng chưa kết thúc), hôm sau A gọi B đến giúp mình mang số tài sản đó về nhà
rồi bán đi chia nhau, ở đây A và B là đồng phạm trộm cắp tài sản ở giai đoạn tội
phạm đã hoàn thành nhưng chưa kết thúc.
Như vậy, qua việc tìm hiểu dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản có thể thấy:
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status