Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động định tội danh đối với tội mua bán trái phép chất ma túy - Pdf 25


đại học quốc gia hà nội
khoa luật

Trần Mạnh Hà một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt
động định tội danh đối với tội Mua bán
trái phép chất ma túy

luận văn thạc sĩ Hà nội - 2011


MụC LụC
Trang

Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Lời Mở Đầu
1

Ch-ơng 1: MộT Số VấN Đề Lý LUậN Về TộI MUA BáN TRáI PHéP
CHấT MA TúY Và ĐịNH TộI DANH TộI MUA BáN TRáI
PHéP CHấT MA TúY
8
1.1.
Một số vấn đề lý luận về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
8
1.2.
Một số vấn đề lý luận về định tội danh
26
1.3.
Một số vấn đề lý luận về định tội danh tội Mua bán trái phép chất

Nâng cao chất l-ợng công tác định tội danh tội Mua bán trái phép
chất ma túy của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án
95

KếT LUậN
99

những công trình liên quan đến luận văn đã đ-ợc công bố
101

DANH MụC TàI LIệU THAM KHảO
102 LờI Mở ĐầU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm về ma tuý trên thế giới
và khu vực Đông Nam á diễn biến rất phức tạp. ở Việt Nam, nếu như trước
đây chất ma tuý chủ yếu là thuốc phiện, cần sa - những thứ được trồng và sản
xuất ngay trong nước bằng hình thức thô sơ, thủ công thì ngày nay, chủng loại
ma tuý đã phát triển đa dạng hơn và được sản xuất bằng công nghệ tiên tiến
hơn như: Estamin, Estasy, Hồng phiến, Ketamine, Methamphetamin, Nữ
hoàng đen, Hoàng hậu đỏ đặc biệt là loại heroin từ nước ngoài (chủ yếu là
Lào) vào Việt Nam ngày càng nhiều. Từ đó, địa bàn Việt Nam dần trở thành
khu vực trung chuyển ma tuý của các tổ chức tội phạm quốc tế cũng như
trong nước sang các nước khác và dần được coi là thị trường tiêu thụ có tiềm
năng. Nghiêm trọng hơn, Việt Nam đã xuất hiện nhiều vụ án sản xuất và điều
chế ma tuý, như vụ Trịnh Nguyên Thủy cùng 31 đồng phạm đã sản xuất hơn
44kg heroin tại Hà Nội; Vụ Tạ Thị Hiền cùng hơn 12 đồng phạm sản xuất ma

trong đó tùy từng quốc gia mà nhập lậu chuyên về một loại ma túy riêng. Ví
dụ: Trung Quốc chuyên về ma túy tổng hợp dạng ATS, Ketamine; Lào
chuyên về heroin; Campuchia chuyên về heroin và cần sa. Số ma tuý này sẽ
được các đầu mối mang đến các địa phương để bán, và những đô thị lớn như
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng sẽ được chọn là trung tâm tiêu
thụ chính. Xuất phát từ tính chất của ma tuý là người nghiện bị lệ thuộc vào
ma tuý và phải thường xuyên sử dụng hàng ngày, nên nhu cầu tiêu thụ ma tuý
rất cao và số lượng ma tuý được tiêu thụ nhìn chung là đều đặn. Do đó, trong
các tội về ma tuý như tội: sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép
các chất ma tuý thì tỷ lệ phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý chiếm cao
nhất so với tổng các tội phạm về ma tuý.

3
Trước tình hình đó, công tác đấu tranh phòng chống tội mua bán tráI
phép chất ma tuý ngày càng đối mặt với những thủ đoạn tinh vi, những hình
thức biến tướng đa dạng của hành vi bán trái phép chất ma tuý, hay những
vấn đề mới phát sinh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến những
khó khăn cho các cơ quan tố tụng trong việc đấu tranh phòng chống loại tội
phạm này. Thực tiễn cho thấy, có những có hành vi không thể xử lý được
bằng pháp luật hình sự vì thiếu văn bản hướng dẫn thi hành. Hoặc có hành vi
có thể xử lý được bằng pháp luật hình sự, nhưng phải xử lý về một loại tội
phạm khác không phải là tội phạm ma tuý, làm giảm tính nghiêm khắc của
pháp luật đối với loại tội phạm này. Thêm vào đó, về mặt lý luận, xung quanh
vấn đề xác định có phạm tội hay không phạm tội, phạm tội mua bán trái phép
chất ma tuý hay phạm tội khác vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái
ngược nhau giữa các nhà áp dụng pháp luật, đặt ra nhiều vướng mắc đòi hỏi
khoa học pháp lý phải nghiên cứu, giải quyết. Do đó, việc xác định tội danh là
vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự nói chung
và trong hoạt động định tội danh đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý
nói riêng. Bởi suy cho cùng, tất cả các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đều

Luyện, LS. Ths. Phạm Thanh Bình. TS. Nguyễn Đức Mai, Ths. Nguyễn Sĩ
Đại, Ths. Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001
Ngoài ra, còn có các công trình khoa học khác cũng đã nghiên cứu đến
tội Mua bán trái phép chất ma tuý, như: Luận án "Đấu tranh phòng chống tội
phạm ma tuý ở Việt Nam" của TS. Nguyễn Tuyết Mai; Luận án "Hoạt động
phòng ngừa các tội phạm về ma tuý của lực lượng cảnh sát nhân dân" của
TS. Vũ Quang Vinh; Luận án "Hoàn thiện khung pháp luật hình sự đối với tội
phạm về ma tuý ở Việt Nam" của TS. Nguyễn Minh Đức; Luận án "Trách
nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma tuý trong luật hình sự Việt Nam"

5
của TS. Phạm Minh Tuyên; Luận án "Hoạt động phòng ngừa và điều tra tội
phạm về ma tuý của lực lượng công an cấp huyện" của TS. Ngô Đại Tuấn;
Luận án "Phát hiện và khám phá tội phạm vi phạm quy định về quản lý, sử
dụng tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác của lực lượng
cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý" của TS. Ngô Văn Tuân.
Các công trình nêu trên trong góc độ nào đó đã đề cập đến các dấu
hiệu của tội Mua bán trái phép chất ma túy, tình hình công tác đấu tranh,
phòng chống và trách nhiệm hình sự đối với loại tội này… tuy nhiên chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về việc định tội
danh đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh
phòng, chống tội Mua bán trái phép chất ma tuý, nêu ra những giải pháp
mang tính hệ thống làm cơ sở cho hoạt động định tội danh đối với loại tội
phạm này, góp phần nâng cao hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng,
chống tội Mua bán trái phép chất ma túy nói riêng và các loại tội phạm ma túy
nói chung.
* Nhiệm vụ

ý nghĩa lý luận - thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã
xây dựng được khái niệm chất ma túy trong luật hình sự; làm rõ các dấu hiệu
pháp lý của tội Mua bán trái phép chất ma túy và từ đó đưa ra khái niệm về
định tội danh đối với tội này. Ngoài ra, tác giả đã xây dựng một khái niệm

7
định tội danh chung cho cả hai dạng: chính thức và không chính thức, một
khái niệm định tội danh riêng của dạng chính thức; nêu ra những cơ sở lý luận
để chỉ ra được sự khác nhau giữa "định tội" và "định tội danh", giúp các cơ
quan tố tụng nhận thức rõ hơn về vấn đề này trong hoạt động thực tiễn. Đáng
lưu ý, tác giả đã làm rõ những vấn đề còn bất cập, vướng mắc trong việc định
tội danh đối với một số hành vi biến tướng của tội Mua bán trái phép chất ma
túy trong thực tiễn hiện nay. Qua đó, đưa ra những kiến nghị, đề xuất khắc
phục cũng như đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy phạm
pháp luật liên quan đến công tác này.
Kết quả nghiên cứu và những giải pháp kiến nghị của luận văn có ý
nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội
Mua bán trái phép chất ma tuý trong giai đoạn hiện nay. Thông qua kết quả
nghiên cứu và các kiến nghị, tác giả mong muốn đóng góp một phần vào việc
phát triển lý luận trong lĩnh vực luật hình sự, luật tố tụng hình sự cũng như
trong công cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm có tính nhạy cảm và
phức tạp này.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội Mua bán trái phép chất ma
túy và định tội danh tội Mua bán trái phép chất ma túy
Chương 2: Định tội danh tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo
pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng định tội danh đối với

Chương XVIII "Các tội phạm về ma túy" của BLHS 1999 (gọi tắt là Thông tư
17), mục 1.1 phần I định nghĩa về chất ma túy: "1.1. Chất ma túy là các chất
gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy
do Chính phủ ban hành".

10
Với quy định nêu trên, cả 2 văn bản đều có định nghĩa giống nhau về
chất ma túy, đó là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong
các danh mục do Chính phủ ban hành. Hiện nay, danh mục các chất ma túy
được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật sau:
- Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ ban
hành các danh mục chất ma túy và tiền chất;
- Nghị định số 133/2003/NĐ-CP ngày 06/11/2003 của Chính phủ, bổ
sung vào danh mục các chất ma túy và tiền chất, ban hành kèm Nghị định số
67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ;
- Nghị định số 163/2007/NĐ-CP ngày 12/11/2007 của Chính phủ về
sửa tên, bổ sung, chuyển, loại bỏ một số chất thuộc danh mục các chất ma túy
và tiền chất, ban hành kèm Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001
của Chính phủ;
- Nghị định số 17/2011/NĐ-CP ngày 22/02/2011 của Chính phủ về bổ
sung, sửa tên chất, tên khoa học đối với một số chất thuộc danh mục các chất
ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày
01/10/2001 của Chính phủ và Nghị định số 163/2007/NĐ-CP ngày
12/11/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 67/2001/NĐ-CP
ngày 01/10/2001.
Như vậy, với những văn bản nêu trên, định nghĩa thế nào là "chất ma
túy" đã được làm rõ, và các chất ma túy cụ thể thì cũng được quy định tại
danh mục do Chính phủ ban hành. Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở đây là: "chất ma
túy" theo định nghĩa của Luật phòng, chống ma túy và "chất ma túy" trong
Thông tư 17 quy định có phải lúc nào cũng là đối tượng của các tội phạm về

nghiệp kinh doanh nước uống, thuốc lá, dược phẩm. Việc khởi tố này sẽ gây

12
tâm lý hoang mang cho người dân, gây bất ổn trong thị trường kinh doanh và
sẽ dẫn đến sự phản ứng tiêu cực từ phía người dân.
Hoặc trường hợp cơ quan điều tra thu giữ được tang vật và giám định
trong đó có chất ma túy, nhưng do hàm lượng thấp nên không có căn cứ xử lý
hình sự được. Điển hình là vụ án sau:
Ngày 26/3/2007, Công an huyện Thạch Thất phối hợp với Cơ quan
điều tra - Công an tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) tiến hành kiểm tra, phát hiện
21 hộ dân ở xã Tiến Xuân và Đông Xuân thuộc huyện Lương Sơn, Hòa Bình
trồng cây cần sa với diện tích gần 4.000m
2
. Qua đấu tranh, xác định người
thuê trồng cây cần sa là ông Hồ Hữu N và anh Lê Quang V - cán bộ Viện
Khoa học nông nghiệp Việt Nam. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, nơi
làm việc đối với ông Hồ Hữu N và anh Lê Quang V, thu giữ 98kg hạt cây
"lanh mèo" (họ của cây cần sa). Kết luận giám định số 724/C21 ngày
13/4/2007 của Viện KHHS - Bộ Công an kết luận:
"Các hạt thực vật trong các mẫu ký hiệu số 01, 02, 03, 04 gửi giám
định đều chứa thành phần Delta9 - THC, tổng trọng lượng và hàm lượng
trung bình trong các mẫu như sau:
Mẫu ký hiệu
Trọng lượng
Hàm lượng
Mẫu số 1
22.731gam
0,12%
Mẫu số 2
17.493gam

rộng hơn, có ý nghĩa chỉ ra thế nào là chất ma túy và liệt kê các chất ma túy
cụ thể. Còn "chất ma túy" là đối tượng tác động của tội phạm về ma túy thì
hẹp hơn, nó cũng là các chất ma túy nằm trong danh mục do chính phủ quy
định, nhưng nó đòi hỏi thêm một điều kiện là phải có "hàm lượng", "trọng
lượng" nhất định, lúc đó mới trở thành đối tượng tác động của tội phạm ma
túy được. Nếu không phân biệt được đặc điểm này, các cơ quan tiến hành tố
tụng sẽ rơi vào tình trạng bế tắc trong việc xử lý các trường hợp chất ma túy
có hàm lượng thấp như nêu trên.
Tương tự về đối tượng tác động của các tội phạm ma túy, liên hệ với tội
Trộm cắp tài sản, đối tượng tác động của tội này là tài sản, tuy nhiên phải là
tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, nếu tài sản
dưới 2 triệu đồng mà nhân thân người có hành vi trộm cắp chưa tiền án, tiền

14
sự, thì không phạm tội Trộm cắp tài sản. Chính vì vậy, để đảm bảo cho việc
xử lý các tội phạm về ma túy được thuận lợi, đồng nhất cần ban hành văn bản
hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.
Từ những phân tích trên cho thấy, cần phải xây dựng một khái niệm cụ
thể về "chất ma túy" là đối tượng tác động của các tội phạm ma túy và thuộc
pháp luật hình sự điều chỉnh, nhằm tránh xảy ra tình trạng bế tắc, vướng mắc
trong việc xử lý các loại tội phạm ma túy này. Theo quan điểm của chúng tôi,
có thể đưa ra khái niệm "chất ma túy" thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật
hình sự như sau: "Chất ma túy thuộc sự điều chỉnh của pháp luật hình sự là
các chất gây nghiện, chất hướng thần ở dạng tự nhiên hoặc dạng tổng hợp
có trọng lượng, thể tích, hàm lượng nhất định theo quy định của pháp luật".
1.1.2. Khái niệm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
Tại điểm b, mục 3.5 phần I Thông tư 17 hướng dẫn phần "Truy cứu
trách nhiệm hình sự trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội" như sau:
3.5. Trường hợp một người thực hiện một hoặc nhiều hành vi phạm tội
quy định trong một điều luật (Điều 194, Điều 195 và Điều 196 của BLHS) thì

sửa đổi bổ sung năm 1997, từ các Điều 185c đến Điều 185e đều quy định
từng điều tương ứng với từng tội danh: Tàng trữ trái phép chất ma túy, Vận
chuyển trái phép chất ma túy, Mua bán trái phép chất ma túy và Chiếm đoạt
chất ma túy. Như vậy, ngay từ khi bắt đầu xây dựng và ban hành các điều luật
về tội phạm ma túy, các nhà làm luật đã phân biệt từng tội danh cụ thể tương
ứng với từng hành vi phạm tội, và không hề có tội "Tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép ma túy" trong BLHS.
Về mặt thực tiễn, việc phân biệt các tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy được thông qua mục đích phạm tội, bởi các tội này đều
không cần xét đến nguồn gốc ma túy do đâu mà có: nếu mục đích là để bán

16
thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy; nếu
mục đích để sử dụng hoặc không phải để bán, vận chuyển, sản xuất thì truy
cứu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; nếu mục đích
để chuyển dịch ma túy từ nơi này đến nơi khác, không phải để bán, sử dụng,
sản xuất thì truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Vận chuyển trái phép chất ma
túy (thông thường mục đích của tội này là vận chuyển thuê để kiếm tiền).
Bên cạnh đó, tại mục 3.3 phần II Thông tư 17 hướng dẫn về tội Mua
bán trái phép chất ma túy như sau:
3.3. Mua bán trái phép chất ma túy là một trong các hành vi sau đây:
a) Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào
nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy
cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;
b) Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;
c) Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;
d) Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ
thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);
đ) Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán lấy chất
ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;

vi trao đổi ma túy như một hàng hóa có giá trị. Bên cạnh đó, các hành vi đồng
phạm với hành vi bán ma túy cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Mua
bán trái phép chất ma túy.
Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm tội Mua bán trái
phép chất ma túy như sau: "Mua bán trái phép chất ma tuý là hành vi bán,

18
trao đổi trái phép chất ma tuý cho người khác, hoặc hành vi tổ chức, xúi
giục, giúp sức cho người khác trong việc bán, trao đổi chất ma tuý mà
không cần xét đến nguồn gốc chất ma tuý do đâu mà có".
1.1.3. Những dấu hiệu pháp lý của tội Mua bán trái phép chất ma tuý
a. Dấu hiệu khách thể của tội Mua bán trái phép chất ma tuý
Khách thể của tội Mua bán trái phép chất ma túy là chế độ độc quyền
và thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Việc Nhà nước
độc quyền và thống nhất quản lý các chất ma túy là dễ hiểu bởi các tác hại, độ
nguy hiểm của nó cho xã hội là rất lớn. Nếu sử dụng chất ma túy vào mục
đích tốt như: khoa học, công nghiệp, y tế thì nó lại trở thành vật hữu ích, có
lợi cho con người. Ngược lại, nếu sử dụng các chất ma túy vào mục đích xấu,
như: nhằm thỏa mãn cơn nghiện, những vui thú sa đọa thì nó lại trở thành
vật nguy hại cho xã hội, là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm, thậm trí nó còn
hủy hoại cả nhiều thế hệ con người, hủy hoại tương lai của đất nước. Ngoài
ra, do tính nguy hại của ma túy đối với xã hội lớn như vậy nên việc kiểm soát
nó cần phải có một hệ thống các cơ quan hữu quan từ trung ương đến địa
phương, từ ngành Dược đến ngành Công nghiệp, từ Hải quan đến Công an
có mối liên hệ mật thiết trong việc quản lý, kiểm soát các chất ma túy. Chính
vì vậy, để kiểm soát được các chất ma túy này, không một chủ thể nào có điều
kiện, có phương tiện, có nhân lực. hơn Nhà nước, bởi Nhà nước là chủ thể
duy nhất có đầy đủ hệ thống các cơ quan quản lý toàn diện từ cấp cơ sở đến
cấp trung ương và quản lý mọi mặt trong lĩnh vực đời sống xã hội.
Về đối tượng tác động của tội Mua bán trái phép chất ma túy: Hiện nay

quy định về cây có chứa chất ma túy là: "6. Cây có chứa chất ma tuý bao gồm
cây thuốc phiện (cây anh túc), cây cô ca, cây cần sa hoặc cây khác có chứa

20
chất ma tuý do Chính phủ quy định". Đây cũng là quy định để các cơ quan
tiến hành tố tụng áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Trong vấn đề xác định chất ma túy - đối tượng tác động của tội mua
bán trái phép chất ma túy, cần lưu ý điểm như sau: Điều 2 Luật phòng, chống
ma túy năm 2000 quy định:
"1. Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định
trong các danh mục do Chính phủ ban hành.
2. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng.
3. Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo
giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người
sử dụng.
4. Tiền chất là các hoá chất không thể thiếu được trong quá trình
điều chế, sản xuất chất ma tuý, được quy định trong danh mục do Chính
phủ ban hành.
5. Thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần là các loại thuốc chữa bệnh
được quy định trong các danh mục do Bộ Y tế ban hành, có chứa các chất quy
định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này".
Như vậy, từ khoản 1 đến khoản 4 Điều 2 Luật phòng chống ma túy năm
2000 ngoài việc giải nghĩa thế nào là chất ma túy, chất gây nghiện, chất
hướng thần và thế nào tiền chất, thì tại khoản 5 còn giải nghĩa về thuốc gây
nghiện, thuốc hướng thần. Theo quy định này, thuốc gây nghiện, thuốc hướng
thần tuy có thành phần chất gây nghiện, chất hướng thần trong đó nhưng là
thuốc chữa bệnh, nên không phải là đối tượng tác động của tội Mua bán trái
phép chất ma túy. Tuy nhiên, cũng là thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần
nhưng nếu người mua thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần đó bán lại cho đối

cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;

22
b) Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;
c) Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;
d) Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ
thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);
đ) Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán lấy chất
ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;
e) Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;
g) Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác.
Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một
trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy được hướng dẫn từ điểm a
đến điểm g tiểu mục 3.3 này đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Mua
bán trái phép chất ma túy".
Như vậy, theo hướng dẫn nêu trên, hành vi khách quan của tội Mua bán
trái phép chất ma tuý có 3 nhóm hành vi chính, đó là:
- Thứ nhất: Nhóm hành vi "Bán" trái phép chất ma tuý (gồm các điểm
a, b, c, e, g mục 3.3, phần II, Thông tư 17): Hành vi này có thể là mua, xin,
trộm cắp, cướp giật, chiếm đoạt, nhặt được nhưng đều nhằm mục đích để bán.
Tóm lại, không cần xét đến nguồn gốc ma tuý do đâu mà có, chỉ cần có hành
vi bán trái phép chất ma tuý cho người khác là đã cấu thành tội này. Kể cả
hành vi bán hộ ma tuý thì cũng thuộc nhóm hành vi "bán" trái phép chất ma
tuý.
- Thứ hai: Nhóm hành vi "Trao đổi" trái phép chất ma tuý (gồm các
điểm d, đ mục 3.3): Việc trao đổi chất ma tuý này có thể là đổi ma tuý để lấy
tài sản của người nhận ma tuý (việc trao đổi có thể ngang giá hoặc không
ngang giá), hoặc có thể là dùng ma tuý để thanh toán khoản nợ, trừ nợ.
Trường hợp này cũng không cần xét đến nguồn gốc ma tuý.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status