VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THANH HẢI
TỘI CHẾ TẠO, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG,
MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC CHIẾM ĐOẠT
VẬT LIỆU NỔ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ
HÀ NỘI, năm 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Lê Thanh Hải
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CHẾ TẠO, TÀNG
TRỮ, VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG, MUA BÁN TRÁI PHÉP HOẶC
CHIẾM ĐOẠT VẬT LIỆU NỔ ................................................................... 54
3.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ..................................... 54
3.2. Tăng cường tuyên truyền nhận thức, hướng dẫn và áp dụng về Điều 305
BLHS năm 2015 .............................................................................................. 58
3.3. Chú trọng tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội chế tạo,
tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
......................................................................................................................... 62
3.4. Nâng cao năng lực của cán bộ áp dụng pháp luật hình sự về tội chế tạo,
tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
......................................................................................................................... 63
3.5. Một số giải pháp khác khắc phục những bất cập, hạn chế trong áp dụng
các quy định của Bộ luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ ............................................... 70
Kết luận Chương 3 .......................................................................................... 74
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Số lượng các vụ án và bị cáo đã giải quyết, xét xử từ năm
34
bảng
2.1.
2011 đến năm 2015
2.2.
Tỷ lệ (%) các vụ án và bị cáo đã xét xử từ năm 2011 đến
35
2015
2.3.
Số vụ án và bị cáo của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
36
Tên biểu
Trang
Số lượng các vụ án và bị cáo đã giải quyết, xét xử từ năm
34
biểu
2.1.
2011 đến năm 2015
2.2.
Số liệu xét xử sơ thẩm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
38
dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ tại
tỉnh Quảng Nam từ năm 2011 đến năm 2015
2.3.
Cơ cấu số người phạm tội
47
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước chúng ta tuy chiến tranh đã kết thúc hơn 40 năm nhưng đến
vướng mắc, chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền về vấn đề
định lượng, định khung hình phạt tăng nặng, quyết định hình phạt. Bất cập
này đòi hỏi khoa học pháp lý phải giải quyết một cách đầy đủ.
Việc nghiên cứu tội phạm cụ thể, ở đây là tội chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ được quy
định trong Bộ luật hình sự dưới góc độ thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam không
những có ý nghĩa sâu sắc về mặt lý luận mà bao hàm cả thực tiễn áp dụng
pháp luật. Thông qua đề tài nhằm đưa ra một số giải pháp bảo đảm áp dụng
đúng các quy định của pháp luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển,
sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ. Đồng thời, giúp
người tiến hành tố tụng có cái nhìn toàn diện, khách quan, định tội danh và
quyết định hình phạt chính xác hơn đối với loại tội này. Chính vì vậy, tác giả
đã lựa chọn đề tài: “Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
tỉnh Quảng Nam” để thực hiện dưới dạng luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về
các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nói chung và tội chế
tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu
nổ nói riêng nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về tội chế tạo, tàng trữ,
vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ một cách
chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ, có hệ thống từ lý luận đến thực tiễn cũng như
vấn đề hoạt động định tội danh, quyết định hình phạt của tội phạm này trong
phạm vi địa phương cụ thể tỉnh Quảng Nam.
2
Luận văn này tác giả nghiên cứu, thể hiện một cách cụ thể, chi tiết nội
dung những vấn đề lý luận của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua
năm 1945 đến trước năm 1985, theo BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 (sửa
đổi bổ sung năm 2009) và BLHS năm 2015.
- Trình bày những vấn đề lý luận về định tội danh và đánh giá thực tiễn
định tội danh đối với tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái
phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam trong năm năm
(từ năm 2011 đến năm 2015).
- Nêu một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp
luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ tại tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ theo pháp luật hình sự Việt
Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tội chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ dưới góc độ
pháp luật hình sự và hoạt động định tội danh, định khung hình phạt cũng như
quyết định hình phạt đối với loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương
pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của
Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng
và Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã
sử dụng một cách linh hoạt, đan xen các phương pháp nghiên cứu của khoa
học luật hình sự như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương
pháp thống kê, phương pháp vụ án điển hình, phương pháp lịch sử và nghiên
cứu thực tiễn…
4
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHẾ TẠO,
TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, SỬ DỤNG, MUA BÁN TRÁI PHÉP
HOẶC CHIẾM ĐOẠT VẬT LIỆU NỔ
1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội chế tạo, tàng trữ,
vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
1.1.1. Khái niệm
Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta được Quốc hội thông qua ngày
21/12/1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2000, quy định các tội xâm
phạm an toàn công cộng và trật tự công cộng tại chương XIX (từ Điều 202
đến Điều 256) gồm 59 điều luật. Đồng thời, BLHS năm 2015 được Quốc hội
thông qua ngày 27/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, quy định
các tội xâm phạm an toàn công cộng tại chương XXI (từ Điều 295 đến Điều
317) gồm 23 điều luật. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ nằm trong nhóm tội xâm phạm an toàn
công cộng. Vì vậy, khái niệm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ phải thỏa mãn khái niệm chung của
tội phạm đồng thời phải thỏa mãn các dấu hiệu đặc thù riêng, cụ thể: tội chế
tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu
nổ là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có
năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến an toàn công cộng và
trật tự công cộng.
Theo Từ điển bách khoa mở, vật liệu nổ là chất hóa học hay các hợp
chất, các vật liệu có khả năng tạo thành một thể tích khí lớn (gấp 15.000 lần
thể tích ban đầu), phát ra nhiệt độ cao (3.000 - 4.000 độ C), áp suất rất cao,
trong thời gian rất ngắn (1/10.000 giây). Các đặc trưng của một vật liệu nổ:
6
Nó là một chất hóa học hay hợp chất hóa học không an định (không bền). Sự
Như vậy, theo quy định của BLHS có thể hiểu chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ là hành vi làm ra, cất
giữ, chuyển dịch, bán hay mua để bán lại, cướp nhằm chiếm đoạt, cưỡng đoạt,
cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, tham ô, lừa đảo, lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt vật liệu nổ.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử
dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
Tội phạm là thể thống nhất của bốn yếu tố: Khách thể của tội phạm;
Mặt khác quan của tội phạm; Mặt chủ quan của tội phạm; Chủ thể của tội
phạm. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vật liệu nổ cũng bao gồm bốn yếu tố của tội phạm như trên.
1.1.2.1. Khách thể của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ và bị tội phạm xâm hại. Bất kỳ tội phạm nào cũng đều xâm phạm đến một
hoặc một số quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo về bằng cách gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội đó. Tội chế tạo, tàng
trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ là tội
xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về vật liệu nổ, xâm phạm an toàn
công cộng, trật tự xã hội.
Đối tượng tác động của tội phạm này là vật liệu nổ, bao gồm thuốc nổ
và các phụ kiện nổ như các loại kíp nổ, dây nổ, dây cháy chậm, mồi nổ, các
vật phẩm chứa thuốc nổ có tác dụng tạo kích thích ban đầu làm nổ khối thuốc
nổ hoặc các loại thiết bị chuyên dùng có chứa thuốc nổ. Tuy nhiên, chỉ vật
liệu nổ công nghiệp mới là đối tượng của tội phạm này.
Khi xác định đối tượng tác động phải là vật liệu nổ hay không, các cơ
quan tiến hành tố tụng cần tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn
hoặc trưng cầu giám định.
8
9
- Tàng trữ trái phép vật liệu nổ: là cất giữ bất hợp pháp vật liệu nổ ở bất
cứ nơi nào như: trong nhà ở; phòng làm việc; trụ sở cơ quan, tổ chức; phương
tiện giao thông; trong túi quần áo, túi xách..., việc cất giữ với hành vi lén lút
nhằm thoát khỏi cơ quan điều tra, người phạm tội chỉ cất giữ trái phép vật liệu
nổ mà không nhằm mục đích mua bán hay chế tạo trái phép vật liệu nổ hoặc
vận chuyển từ này đến nơi khác. Nguồn gốc vật liệu nổ mà người phạm tội
tàng trữ có thể là bất cứ từ nguồn gốc nào, có thể người phạm tội được tặng,
cho, đào được, nhặt được,...Thời gian cất giữ dài hay ngắn không có ý nghĩa
xác định người phạm tội có tàng trữ trái phép vật liệu nổ hay không, không là
căn cứ để xác định hình phạt nhẹ hay nặng đối với người phạm tội. Nếu tàng
trữ trái phép vật liệu nổ cho người khác mà biết rõ người này mua bán trái
phép vật liệu nổ đó thì hành vi cất giữ không phải là hành vi tàng trữ trái phép
vật liệu nổ mà là hành vi giúp sức người mua bán trái phép vật liệu nổ và bị
truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép vật liệu nổ với vai trò
đồng phạm.
- Vận chuyển trái phép vật liệu nổ: là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp
vật liệu nổ từ nơi này đến nơi khác, từ vị trí này sang vị trí khác, từ người này
sang người khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác,... bằng bất kỳ phương
thức nào (trừ hình thức chiếm đoạt), nhưng đều không nhằm mục đích mua
bán. Hành vi chuyển dịch vật liệu nổ trong trường hợp này không được cơ
quan nhà nước cho phép, người phạm tội có thể chuyển dịch vật liệu nổ công
khai hoặc lén lút nhằm thoát khỏi việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan có
thẩm quyền, vật liệu nổ mà người phạm tội chuyển dịch bất hợp pháp có thể
là của chính người phạm tội hoặc có thể người phạm tội được thuê. Vận
chuyển trái phép vật liệu nổ có thể giống với vận chuyển hàng hóa từ nơi này
đến nơi khác có một cự ly nhất định như: dùng ôtô, xe đạp, xe máy, tàu thủy,
máy bay,... nhưng cũng có thể chỉ là hành vi chuyển dịch từ vị trí này sang vị
nổ”; “Vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép vật liệu nổ”; “Chiếm đoạt, mua
11
bán trái phép vật liệu nổ” hay tội danh đầy đủ là “Tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ”.
- Chiếm đoạt vật liệu nổ: là hành vi cướp, bắt cóc nhằm chiếm đoạt,
cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt,
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt, tham ô vật liệu nổ. Hành vi chiếm đoạt vật
liệu nổ cũng tương tự như hành vi chiếm đoạt tài sản, tức là người phạm tội
phải có ý thức chiếm đoạt vật liệu nổ ngay trước, trong khi thực hiện thủ đoạn
phạm tội. Cũng coi là chiếm đoạt vật liệu nổ nếu người được phép sản xuất,
chế tạo, vận chuyển, mua bán vật liệu nổ theo quy định của pháp luật dùng để
huấn luyện, chiến đấu, để thực hiện nhiệm vụ trong thời gian công tác, hoặc
sản xuất khi được phép của cơ quan Nhà nước khi chuyển ngành, nghỉ việc
mà không giao nộp lại theo quy định của Nhà nước.
1.1.2.3. Chủ thể của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua
bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
Chủ thể của tội phạm này là người đã có lỗi trong việc thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm, có năng lực TNHS và đủ
độ tuổi chịu TNHS theo luật định.
Một cá nhân chỉ trở thành chủ thể của tội phạm nói chung hay chủ thể
của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt vật liệu nổ nói riêng khi phải có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định.
Người có năng lực TNHS là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy. Luật hình sự Việt Nam
không quy định thế nào là người có năng lực TNHS mà chỉ quy định những
trường hợp được coi là không có năng lực TNHS gồm: “Người thực hiện
hại cho xã hội sẽ bị coi là có lỗi, nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn
và quyết định của chủ thể trong khi chủ thể có đủ điều kiện khách quan và
chủ quan để lựa chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của
xã hội”.
13
Mặt chủ quan của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán
trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ được thực hiện do lỗi cố ý. Về mặt lý
trí, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là hành vi trái pháp
luật hình sự và nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện. Nếu vì lý
do nào đó mà người phạm tội không nhận thức được hoặc không buộc phải
nhận thức được hành vi của mình là trái phép thì không thuộc trường hợp
phạm tội này.
Động cơ và mục đích phạm tội thực hiện không phải là dấu hiệu bắt
buộc của tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vật liệu nổ.
1.2. Quy định của pháp luật hình sự về tội chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
1.2.1. Khái quát quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội chế
tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật
liệu nổ
Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985: Sau khi Cách mạng tháng
8 thành công, chính quyền nhân dân còn non trẻ. Đất nước bị Pháp, Nhật vơ
vét xác xơ, bị chiến tranh và thiên tai tàn phá. Bên cạnh hoạt động đấu tranh
chống thực dân cùng bọn tay sai, phản động, Nhà nước còn hết sức chú trọng
việc giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội trong kháng chiến. Chính vì vậy,
pháp luật hình sự của chính quyền nhân dân tập trung phục vụ thực hiện các
nhiệm vụ đó, nhằm quy định việc trừng trị các tội xâm phạm xã hội chủ nghĩa
thời, quy định các khung hình phạt tăng nặng tại khoản 2, khoản 3, khoản 4
của điều luật và thêm quy định hình phạt bổ sung tại khoản 5. Với quy định tại
Điều 232 đã tạo thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền không chỉ có cơ sở
xử lý các hành vi vi phạm về chất nổ mà còn có cơ sở để xử lý hành vi liên
quan đến các phụ kiện nổ. Tuy nhiên, sự phát triển của xã hội các quy định
của pháp luật hình sự chặt chẽ hơn và BLHS năm 2015 tại Điều 305 đã cụ thể
15
hóa những quy định chung chung của Điều 232 BLHS năm 1999, theo đó xác
định số lượng thuốc nổ, nụ xùy, ống nổ, dây cháy chậm, dây nổ và xác định
mức độ hậu quả thiệt hại đối với con người và tài sản theo các khoản 2, 3, 4.
Đồng thời, mức quy định của hình phạt bổ sung là phạt tiền không còn phù
hợp với đời sống xã hội hiện nay nên đã nâng mức khởi điểm từ năm triệu
đồng lên mười triệu đồng. Việc cụ thể hóa này giúp cho các cơ quan tiến hành
tố tụng có căn cứ áp dụng thống nhất đối với các hành vi phạm tội liên quan
đến vật liệu nổ.
1.2.2. Quy định về cấu thành tội phạm và các tình tiết định khung
tăng nặng
Cấu thành tội phạm là hệ thống các dấu hiệu khách quan và chủ quan
được quy định trong pháp luật hình sự đặc trưng cho hành vi nguy hiểm cho
xã hội là tội phạm [47]. Các tội phạm được thực hiện chứa đựng các CTTP
được mô tả trong BLHS. Các bộ phận hợp thành của cấu thành- khách thể,
mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan- là các hiện thực pháp lý- xã hội. [47].
Trong sự thống nhất của mình bốn yếu tố nêu trên thể hiện đầy đủ bản chất,
nội dung chính trị- xã hội của tội phạm. Nếu các tội phạm có tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, thì bốn yếu tố đó cũng có những biểu
hiện khác nhau. Mỗi một yếu tố trên có ý nghĩa khác nhau trong việc xác định
tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm nhưng tội phạm không thể thiếu bất
với khoản 1 (Cấu thành tội phạm cơ bản). Đây là biểu hiện của nguyên tắc
phân hóa trách nhiệm hình sự. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng,
mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ không có cấu thành giảm nhẹ,
bởi lẻ vật liệu nổ có nguy cơ gây thiệt hại rất lớn cho xã hội, đặc biệt là cho
tính mạng, sức khỏe của con người, cho nên đối với tội chế tạo, tàng trữ, vận
chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ BLHS quy
định chỉ cần hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép
17
hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ thì đã cấu thành tội phạm mà không đòi hỏi phải
có hậu quả nguy hại xảy ra.
Cấu thành tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ là cấu thành tội phạm phức tạp bởi vì người làm
luật mô tả nhiều hành vi trong cấu thành tội phạm này.
Bên cạnh đó, dấu hiệu định khung tăng nặng là những tình tiết được
quy định cụ thể trong từng khung cấu thành tăng nặng của Điều luật, khi có
dấu hiệu đó thì sẽ làm tăng tính chất hoặc mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội và người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc hơn
đối với trường hợp phạm tội có cấu thành cơ bản.
Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt vật liệu nổ quy định bốn khung hình phạt áp dụng đối với người
phạm tội và được sắp xếp theo trình tự tăng dần về độ nghiêm khắc, đó là
khung hình phạt cơ bản, khung tăng nặng thứ nhất (khoản 2), khung tăng
nặng thứ hai (khoản 3) và khung tăng nặng thứ ba (khoản 4). Bên cạnh đó,
BLHS năm 2015 đã cụ thể hóa số lượng vật liệu nổ và hậu quả gây nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 305 BLHS thì có những tình tiết định
khung tăng nặng sau đây: