mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giao thông vận tải thuỷ nội địa là một trong những lĩnh vực rất quan trọng
của giao thông vận tải, góp phần phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế, văn
hoá, xã hội của đất nước.
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt với
tổng chiều dài trên 1.700 km gồm 324 tuyến sông, kênh, rạch lớn nhỏ với 06
cảng sông, 07 bến tàu khách và tàu du lịch, hàng ngàn bến bãi, kho hàng, hàng
ngàn phương tiện vận tải thuỷ thường xuyên hoạt động.
Điều kiện tự nhiên của hệ thống sông, kênh, rạch thành phố Hồ Chí Minh rất
thuận lợi cho việc khai thác kinh doanh dịch vụ vận tải thuỷ. Do vậy vận tải thuỷ
trở thành một trong những ngành kinh tế huyết mạch góp phần quan trọng trong
phát triển kinh tế-xã hội của thành phố và của cả khu vực phía Nam. Bên cạnh
đó, tuyến giao thông đường thuỷ nội địa ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cũng
là địa bàn gây án, địa bàn tiêu thụ và địa bàn ẩn náu của các loại tội phạm lợi
dụng tuyến đường thuỷ để hoạt động. Thời gian qua nổi lên là tình hình buôn lậu
xăng dầu, kim khí điện máy, vận chuyển hàng cấm (thuốc lá ngoại); tình hình
các băng, ổ, nhóm sử dụng phương tiện ghe, xuồng để trộm cắp, cướp, cưỡng
đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt tài sản trên tàu, ghe, ở các cảng sông, kho
hàng và nhà dân sống ven sông. Hoạt động của các loại tội phạm đa dạng,
phương thức thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, hoạt động lưu động liên tuyến, liên
tỉnh.
Trong những năm vừa qua, nhất là từ năm 2002 trở lại đây, các cơ quan bảo
vệ pháp luật đã tích cực tổ chức điều tra, khám phá và xử lý kịp thời nhiều vụ án
xâm phạm sở hữu trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa ở địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh. Song qua nghiên cứu nhận thấy hoạt động điều tra khám phá các
1
vụ án này gặp nhiều khó khăn, hiệu quả điều tra khám phá thấp, tỷ lệ điều tra
khám phá chưa cao. Chính vì vậy mà hoạt động của tội phạm xâm phạm sở hữu
trên tuyến giao thông này vẫn không giảm, thậm chí còn có một số tội phạm tiếp
tục phát triển, gây ra thiệt hại ngày càng lớn cho các đơn vị kinh tế, doanh
chống tội phạm trộm trên sông của lực lượng Cảnh sát hình sự ở các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long-Thực trạng và giải pháp hoàn thiện"; Luận án tiến sĩ luật
học năm 2002 của Khổng Văn Hà: “Điều tra các vụ án trộm cắp tài sản của công
dân ở nước ta hiện nay"; một số đề tài khoa học về điều tra, phòng chống các
loại tội danh cụ thể như cướp tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài
sản...trên phạm vi cả nước hoặc của từng tỉnh, thành phố. Các đề tài, công trình
nghiên cứu trên đều có đề cập đến các nội dung về điều tra tội phạm xâm phạm
sở hữu. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, chuyên
sâu về hoạt động điều tra, khám phá và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa ở
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
3- Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu
Đề tài luận văn được thực hiện nhằm mục tiêu:
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ thực trạng công tác điều tra các vụ án xâm
phạm sở hữu trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa ở địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh, ruựt ra những ưu điểm, tồn tại và nguyeõn nhaõn; đưa ra hệ thống giải
pháp, kiến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác điều tra các vụ
án xâm phạm sở hữu trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa ở địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh.
3
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm những vấn
đề sau:
- Thu thập các thông tin số liệu về tình hình hoạt động của tội phạm xâm
phạm sở hữu xảy ra trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa ở địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh.
- Làm rõ dấu hiệu pháp lý và đặc điểm hình sự của tội phạm xâm phạm sở
hữu trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
- Nghiên cứu, tìm hiểu tổ chức và hoạt động của cơ quan cảnh sát điều tra
Minh, những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống
tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài sẽ sử dụng một cách linh hoạt và
hợp lý các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu; Phương pháp khảo sát thực tế; Phương
pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp so sánh, đối chiếu; Phương pháp thống kê
hình sự; Phương pháp toạ đàm, trao đổi.
6- ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả đạt được của luận văn sẽ góp phần vào việc hoàn thiện lý
luận khoa học điều tra tội phạm nói chung và lý luận tổ chức hoạt động điều tra các
vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng.
5
Luận văn còn giúp lãnh đạo và cán bộ thực tiễn Công an Thành phố Hồ Chí
Minh trong chỉ đạo, đấu tranh chống tội phạm nói chung và điều tra các tội phạm
xâm phạm sở hữu trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa nói riêng ở địa phương.
Luận văn còn là tài liệu nghiên cứu của giáo viên, cán bộ và học viên các
trường Công an nhân dân.
7- Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung luận văn được cấu
trúc thành 3 chương:
Chương 1: Nhận thức về tội phạm xâm phạm sở hữu và hoạt động điều tra
các vụ án xâm phạm sở hữu trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa ở địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 2: Thực trạng công tác điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên
tuyến giao thông đường thuỷ nội địa ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra các vụ án xâm
phạm sở hữu trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa ở địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh.
6
đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới, phát huy tác dụng tích cực
hơn nữa trong việc bảo vệ những thành quả của Cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, ngày 27 tháng 6 năm 1985, Quốc hội nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Bộ luật hình sự, có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1986. Đây là Bộ luật đầu tiên của nước ta, trên cơ sở
kế thừa và phát huy truyền thống lập pháp hình sự của nhà nước Việt Nam kể từ
sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, dự kiến diễn biến tình hình tội phạm trong
thời gian tới. Bộ luật hình sự 1985 đã dành 2 chương để quy định về các tội xâm
phạm tài sản, bao gồm: chương IV quy định về các tội xâm phạm sở hữu xã hội
chủ nghĩa và chương VI quy định về các tội xâm phạm sở hữu của công dân.
Bộ luật hình sự năm 1985 mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần (tháng
12/1989, tháng 8/1991, tháng12/1992, và tháng 5 năm 1997) nhưng vẫn còn
những điểm bất cập, cần được sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng đầy đủ yêu cầu
đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị
trường. Trên tinh thần kế thừa và đổi mới, Nhà nước ta thực hiện việc sửa đổi, bổ
1
T p H th ng hoá lu t l v hình s , To án nhân dân t i cao, 1975.ậ ệ ố ậ ệ ề ự à ố
8
sung khá toàn diện Bộ luật hình sự năm 1985. Vì thế, Bộ luật hình sự năm 1999
được coi là Bộ luật hình sự mới của Nhà nước ta.
Trong Bộ luật hình sự 1999, các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại
chương XIV (từ điều 133 đến điều 145). Theo quy định của BLHS có 13 tội
thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu. Đó là các tội: Tội cướp tài sản (Điều 133);
Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134); Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều
135); Tội cướp giật tài sản (Điều 136); Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều
137); Tội trộm cắp tài sản (Điều 138); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139);
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140); Tội chiếm giữ trái phép
tài sản (Điều 141); Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142); Tội huỷ hoại hoặc
cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm
dưới dạng mất mát, hao mòn, hao hụt, làm giảm bớt giá trị…Vì vậy, gây thiệt hại
là dấu hiệu đặc trưng của hành vi chiếm đoạt, do đó, hành vi chiếm đoạt được coi
là hoàn thành khi gây ra thiệt hại vật chất. Tuy nhiên, trong một số trường hợp
chiếm đoạt tuy chưa gây ra thiệt hại vật chất nhưng cũng được coi là hoàn thành
(như tội cướp, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản…).
+ Hành vi chiếm đoạt bao giờ cũng được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp,
tức là kẻ phạm tội nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng vì
động cơ vụ lợi mà lấy tài sản của người khác, ở đây có thể thấy động cơ và mục
đích vụ lợi là dấu hiệu đặc trưng của hành vi chiếm đoạt.
Như vậy, Chiếm đoạt là chiếm lấy không hoàn lại một cách trái phép tài
sản của người khác và biến nó thành của mình hoặc chuyển cho người khác bằng
hình thức khác nhau quy định trong luật với mục đích vụ lợi.
Từ những vấn đề đã nêu ở trên cùng với việc nghiên cứu các loại giáo
trình, tài liệu, có thể nêu lên khái niệm về các tội xâm phạm sở hữu có tính
10
chiếm đoạt như sau: Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là những tội
xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt và (do vậy) trong cấu thành tội phạm của
những tội này có dấu hiệu chiếm đoạt.
1.1.2. Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
- Khách thể của các tội phạm
Khách thể của tội phạm là xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản.
Xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản là làm mất đi quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với tài sản. Tuỳ theo từng tội phạm cụ thể
mà tội phạm đó có thể làm mất đi cả ba hoặc một trong những quyền năng nói
trên.
Đối tượng tác động của các tội phạm là tài sản; tài sản nói trong điều luật
là những tài sản thông thường có giá trị và giá trị sử dụng đảm bảo cho công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như đảm bảo cho cuộc sống lao động bình
thường của mọi công dân trong xã hội. Tài sản là đối tượng tác động của hành vi
chiếm đoạt đòi hỏi phải có đặc điểm là còn nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý
- Mặt chủ quan của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
Luôn luôn thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp. Người thực hiện hành vi chiếm
đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lý nhưng vẫn mong
muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình. Những trường hợp lầm tưởng là tài
sản của mình hoặc là tài sản không có người quản lý đều không phải là trường
hợp có hành vi chiếm đoạt.
Mục đích và động cơ là vụ lợi nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc
trong cấu thành tội phạm.
12
- Chủ thể của các tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt: Các tội
phạm đều do các chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, đạt độ
tuổi do luật định.
1.2. Nhận thức chung về hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa
1.2.1. Chủ thể tiến hành hoạt động điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu
trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa
Điều tra vụ án hình sự là hoạt động điều tra của các CQĐT và những cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định,
được tiến hành theo trình tự TTHS, nhằm chứng minh sự thật của vụ án theo yêu
cầu của pháp luật.
2
Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập của quá trình TTHS, phục
vụ cho việc thực hiện mục đích chung của quá trình TTHS đó là “phát hiện chính
xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để
lọt tội phạm, không làm oan người vô tội ” (Điều 1, Bộ luật TTHS).
Điều tra vụ án xâm phạm sở hữu là hoạt động điều tra của những CQĐT
và những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo
luật định, tiến hành các hoạt động điều tra công khai và bí mật nhằm chứng minh
sự thật của vụ án xâm phạm sở hữu theo yêu cầu của pháp luật.
Chủ thể tiến hành hoạt động điều tra vụ án xâm phạm sở hữu chỉ có thể là
luật TTHS.
1.2.2. Những vấn đề cần chứng minh trong điều tra vụ án xâm phạm sở hữu
trên tuyến giao thông đường thuỷ nội địa
“Quá trình chứng minh tội phạm là quá trình tiến hành những biện pháp
điều tra theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện, thu thập, bảo quản, kiểm
tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ chứng minh tội phạm.CQĐ, Viện kiểm sát và
Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một
14
cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và
những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo”.
3
Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự là hệ thống các tình
tiết của vụ án mà cơ quan tiến hành tố tụng cần phải làm rõ để giải quyết vụ án
theo đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ các quy định tại chương XIV từ điều 133 đến điều 145 về các tội
phạm xâm phạm sở hữu của BLHS và quy định tại điều 63 Bộ luật TTHS và đặc
điểm hình sự của các tội phạm xâm phạm sở hữu, trong giai đoạn khởi tố, điều
tra các vụ án này, CQĐT và Viện kiểm sát có trách nhiệm phải chứng minh, làm
rõ những vấn đề sau đây:
- Có tội phạm xâm phạm sở hữu xảy ra hay không.
Trước tiên CQĐT phải chứng minh có hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu
xảy ra hay không, tức là phải chứng minh được hành vi đã xảy ra có đủ dấu hiệu
và yếu tố cấu thành một trong các tội phạm xâm phạm sở hữu hay không. Cụ thể
phải làm rõ những nội dung sau:
+ Sự việc mất tài sản như tin báo có xảy ra trên thực tế hay không? nếu có
thì ai là người bị mất, tài sản bị mất là gì? Đây là vấn đề đầu tiên cần phải làm
rõ, vì trên thực tế không ít người không mất tài sản nhưng vẫn trình báo với cơ
quan Công an là bị mất tài sản, hoặc thực tế mất ít nhưng lại trình báo mất nhiều.
gian xảy ra vụ án là ban ngày hay ban đêm; với thời gian này đã tạo điều kiện
thuận lợi hay khó khăn cho đối tượng thực hiện hoạt động phạm tội của mình.
Về địa điểm: CQĐT cần phải làm rõ vụ án xâm phạm sở hữu xảy ra ở địa
điểm nào (ở nhà nào, trên tàu, ghe, xà lan nào, công ty, doanh nghiệp nào, cảng
sông nào, thuộc xã, phường, quận, huyện nào, đoạn sông nào). Nếu vụ án xảy ra
tại các công ty, doanh nghiệp, các cảng sông, trên tàu, thuyền, xà lan thì phải xác
16
định công ty, doanh nghiệp đó là gì? ở Khu phố, phường, xã nào? tàu, thuyền, xà
lan neo đậu ở đâu? chủ là ai? Tàu, thuyền đó của công dân Việt Nam hay của
người nước ngoài.v.v….
Khi xác định thời gian, địa điểm cần xác định những đặc điểm đặc trưng
của không gian, thời gian khi xảy ra vụ án như đặc điểm thời tiết, đặc điểm đoạn
sông, kênh, rạch, đặc điểm phương tiện giao thông thuỷ, đặc điểm khu phố,
ấp,.v.v…
- Ai là người thực hiện hành vi chiếm đoạt, năng lực trách nhiệm hình sự
của người đó.
Trong quá trình điều tra, CQĐT phải làm rõ được người thực hiện hành vi
chiếm đoạt là ai (họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi ở, nơi làm việc, nghề nghiệp,
tiền án, tiền sự) và các điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự của người đó.
Để xác định người thực hiện hành vi phạm tội, CQĐT phải tiến hành
nhiều biện pháp điều tra kể cả công khai và trinh sát bí mật để thu thập tài liệu,
chứng cứ nhằm làm rõ các hành vi của người phạm tội như: Điều tra tại hiện
trường, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, bắt, khám xét... để tập
trung xác minh những dấu hiệu bất minh của đối tượng nghi vấn. Khi đã xác
định được người đã thực hiện hành vi xâm phạm sở hữu, CQĐT phải điều tra
làm rõ người đó có đủ năng lực trách nhiệm hình sự hay không. Nếu vụ án có
nhiều người tham gia, cần chứng minh làm rõ vai trò, vị trí của từng bị can trong
vụ án. Đặc biệt chú ý làm rõ đặc điểm nhân thân của từng bị can trong vụ án. Khi
đánh giá vai trò, vị trí của từng bị can trong vụ án, cần căn cứ vào nội dung của
sự bàn bạc, thoả thuận và hành vi cụ thể của từng bị can trong quá trình gây án.
Đối với vấn đề này, trong quá trình điều tra, cần làm rõ tính tổ chức, tính
chuyên nghiệp của tội phạm đã xảy ra. Bị can phạm tội lần đầu hay tái phạm, tái
18
phạm nguy hiểm; có tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại và khắc
phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra hay không? mức sống và điều
kiện sống của bị can ở các khoảng thời gian trước, trong thời điểm gây án? có
thành khẩn khai báo và có trách nhiệm trong việc phát hiện làm rõ tội phạm, lập
công chuộc tội? Có gây ra hậu quả gì nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt
nghiêm trọng?... Để xác định chính xác những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng
cần thu thập thêm các tài liệu về nhân thân của người phạm tội. Đối với những
vụ án do đối tượng có tiền án, tiền sự gây ra cần phải lấy trích lục tiền án, tiền sự
thật đầy đủ để đưa vào hồ sơ vụ án.
- Tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Thiệt hại trong các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trước hết là
tài sản bị chiếm đoạt. Chứng minh làm rõ số lượng, chủng loại, giá trị, đặc điểm,
nguồn gốc của những tài sản bị chiếm đoạt là căn cứ để xác định có vụ án chiếm
đoạt tài sản xảy ra hay không, mức độ thiệt hại và mức độ nguy hiểm của hành vi
phạm tội. Đối với các vụ án công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp, lừa đảo,
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì việc xác định mức giá trị tài sản bị
chiếm đoạt là dưới hay từ năm trăm nghìn đồng trở lên nhiều khi lại là căn cứ hết
sức quan trọng để quyết định có khởi tố vụ án hình sự hay không; Đối với các vụ
án cướp, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì cần thiết phải xác định những thiệt
hại về tính mạng, sức khoẻ của những người là nạn nhân của vụ án; việc xác
định các thiệt hại khác như thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng của những người
trong gia đình, những người tham gia đuổi bắt người phạm tội, các tài sản đã bị
người phạm tội làm hư hỏng trong quá trình thực hiện tội phạm hoặc khi chạy
trốn cũng cần được xác định một cách cụ thể để làm cơ sở cho việc định khung
hình phạt cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bị can, bị cáo sau này.
19
Làm rõ được những vấn đề trên một cách chi tiết, toàn diện là thực hiện
trong các tài liệu chuyên khảo của các ngành khoa học pháp lý, khoa học xã hội.
Trong điều kiện các lĩnh vực khoa học phát triển, mạnh mẽ theo hướng chuyên
sâu, vấn đề nghiên cứu về tội phạm và biện pháp đấu tranh chống tội phạm được
nâng lên và tách riêng thành bộ môn khoa học độc lập chuyên nghiên cứu về
những quy luật hình thành, phát sinh phát triển của tội phạm cùng với các biện
pháp phòng ngừa, ngăn chặn nhằm loại bỏ và hạn chế sự tác động của hiện tượng
này. Như vậy, ngành khoa học nghiên cứu về tội phạm đã ra đời và phát triển.
Xem xét về thuật ngữ, các nhà nghiên cứu thấy rằng: “Tội phạm học” là
một cụm từ ghép bao gồm: Crimin: tội phạm (theo ngôn ngữ la tinh) và Logos có
nghĩa là: Học thuyết hoặc khoa học (theo tiếng Hy Lạp). Vậy tội phạm học có
nghĩa là “học thuyết về tội phạm” hay “khoa học nghiên cứu về tội phạm”. Tuy
nhiên, nếu nói là “nghiên cứu về tội phạm” thì nhiều ngành khoa học nghiên cứu
về vấn đề này, như: khoa học luật hình sự, khoa học luật tố tụng hình sự, Điều
tra hình sự, tâm lý học, xã hội học…Vì vậy, cá nhà nghiên cứu tội phạm học xác
định phạm vi nghiên cứu của tội phạm học được giới hạn bởi đối tượng nghiên
cứu chủ yếu của nó là:
- Tình trạng tội phạm.
- Nguyên nhân, điều kiện của tội phạm.
- Nhân thân người phạm tội
- Biện pháp phòng ngừa tội phạm.
Trên cơ sở đó, có thể nêu khái niệm về Tội phạm hộc như sau:
Tội phạm học là ngành khoa học, nghiên cứu về tội Tình trạng tội phạm,
nguyên nhân và điều kiện phát sinh phát triển của tình trạng tội phạm và các loại
21
tội phạm cụ thể, nghiên cứu nhân thân người phạm tội và các biện pháp phòng
ngừa ngăn chặn nhằm hạn chế, tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.
Trong điều kiện phát triển của sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta,
Đảng và Nhà nước đã xác định vị trí quan trọng đặc biệt của công cuộc bảo vệ
vững chắc nền an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, đấu tranh kiên quyết và
triệt để chống các loại tội phạm hình sự. Điều đó đang đặt ra những nhiệm vụ
bốn bộ phận cấu thành cơ bản hoặc bốn nhóm hiện tượng xã hội cần phải nghiên
nghiên cứu trong khoa học tội phạm.
Các đối tượng nghiên cứu và nội dung cơ bản của Tội phạm học bao
gồm:
2.1.1 Tình trạng tội phạm.
Tình trạng tội phạm là hệ thống các sự kiện phạm tội cụ thể được diễn ra
trong hệ thống quốc gia hoặc khu vực trong một thời gian nhất định. Như vậy có
nghĩa là xem xét mhư một hiện tượng xã hội nhằm nắm vững bản chất của nó
cũng như các yếu tố cấu thành có tính đặc trưng của hiện tượng xã hội này.
Đối với nhóm đối tượng này cần phải xoay quanh các nội dung cơ bản
sau:
- Nghiên cứu tình trạng hoạt động của tội phạm, cấu trúc và động thái của
Tình trạng tội phạm nói chung cũng như từng loại tội phạm cụ thể trong phạm vi
cả nước và ở mỗi vùng dân cư. Những nội dung này phản ánh số lượng và tính
chất hoạt động của tội phạm nói chung và các loại tội phạm cụ thể trong mỗi thời
kỳ, mỗi địa phương khác nhau.
- Nghiên cứu các mối quan hệ tác động qua lại giữa Tình trạng tội phạm
với các hiện tượng và các quá trình xã hội khác (CT,KT, VH, GD…) hoặc với
23
những hình thức khác nhau của hành vi tiêu cực (lười biếng, suy thoái về đạo
đức, tệ nạn xã hội ).
Nghiên cứu làm rõ những nội dung đã chỉ ra trong nhóm đối tượng
nghiên cứu trên cho phép chúng ta đánh giá một cách khái quát về Tình trạng tội
phạm nói chung trong phạm vi cả nước và ở mỗi địa phương cụ thể, đồng thời có
thể đề ra phương hướng chung, biện pháp tổng hợp trong việc phòng ngừa ngăn
chặn tội phạm.
1.2.2. Nguyên nhân nảy sinh tình trạng tội phạm và điều kiện tạo thuận
lợi cho việc thực hiện hành vi phạm tội là một trong những nội dung tất yếu của
sự phát triển và tồn tại trong mỗi thời kỳ phát triển của xã hội.
- Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm là tổng hợp các sự vật hiện
Tội phạm học nghiên cứu nhân thân người phạm tội theo các nội dung
sau:
- Nghiên cứu các đặc điểm về xã hội – nhân khẩu học bao gồm giới tính,
lứa tuổi, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp….
- Nghiên cứu về phẩm chất đạo đức và tâm lý cá nhân kể phạm tội. Ơ đây
cần đề cập đến các đặc điểm về thái độ đối xử của kể phạm tội và các tổ chức
chính quyền, tổ chức xã hội và những con người xung quanh, đối với các giá trị
tinh thần, đạo đức xã hội …cũng như các yếu tố về trí tuệ, tình cảm…đặc biệt,
nghiên cứu các biểu hiện của nhân cách kẻ phạm tội trong quá trình sống; hoạt
động lao động, công tác xã hội , vai trò cá nhân trong xã hội , trong đơn vị công
tác,trong các nhóm người và với những con người cụ thể khác, các cơ quan, đơn
vị khác.
25