ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MAI VĂN THỌ
CÁC TỘI PHẠM KHÁC VỀ CHỨC VỤ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở các số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. TRỊNH TIẾN VIỆT
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
VIỆT NAM VÀ PHÂN BIỆT VỚI NHỮNG HÀNH VI VI PHẠM
PHÁP LUẬT KHÁC CỦA NGƯỜI CÓ CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN 10
1.1.1. Khái niệm tội phạm về chức vụ 10
1.1.2. Phân biệt tội phạm về chức vụ với những hành vi vi phạm pháp luật
khác của người có chức vụ, quyền hạn 16
1.2. KHÁI NIỆM CÁC TỘI PHẠM KHÁC VỀ CHỨC VỤ VÀ Ý NGHĨA
CỦA VIỆC QUY ĐỊNH CÁC TỘI PHẠM NÀY TRONG BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM 19
1.2.1. Khái niệm các tội phạm khác về chức vụ 19
1.2.2. Ý nghĩa của việc quy định các tội phạm khác về chức vụ trong Bộ luật
hình sự Việt Nam 20
1.3. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI PHẠM KHÁC VỀ CHỨC
VỤ TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC
KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 25
1.3.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự năm 1985 25
1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 35
Chương 2: CÁC TỘI PHẠM KHÁC VỀ CHỨC VỤ THEO BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 42
2.1. CÁC TỘI PHẠM KHÁC VỀ CHỨC VỤ THEO BỘ LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM 42
2.1.1. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285 Bộ luật
hình sự) 43
2.1.2. Tội cố ý làm lộ bí mật công tác; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu
hủy tài liệu bí mật công tác (Điều 286 Bộ luật hình sự) 45
2.1.3. Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác
(Điều 287 Bộ luật hình sự) 49
các tội phạm khác về chức vụ 106
KẾT LUẬN 115
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1. Tổng số vụ án, tổng số bị cáo phạm các tội phạm khác về chức
vụ trong thời gian 05 năm (2008 - 2012) trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh 80
Bảng 3.2. Tổng số vụ án, tổng số bị cáo phạm các tội phạm khác về chức
vụ giai đoạn 2008-2012 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 81
Bảng 3.3. Hình phạt, biện pháp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình
phạt được Tòa án áp dụng đối với các bị cáo về các tội phạm
khác về chức vụ trong thời gian 05 năm (2008 - 2012) trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 82
Bảng 3.4. Một số đặc điểm về nhân thân của các bị cáo bị Tòa án đưa
ra xét xử về các tội phạm khác về chức vụ trong thời gian 05
năm (2008 - 2012) trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 82
Bảng 3.5. So sánh tổng số vụ án và tổng số bị cáo bị Tòa án đưa ra xét
xử về các Điều 289, 290 và 291 Bộ luật hình sự trong thời
gian 05 năm (2008 - 2012) trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh và địa bàn cả nước 84
Bảng 3.6. Loại tội và số vụ án thực hiện trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh qua nghiên cứu ngẫu nhiên tổng số 120 bản án trong
chín tháng đầu năm 2013 86
Biểu 3.1. Tổng số vụ án Tòa án đã xét xử về các tội phạm khác về chức
nói chung, các tội phạm khác về chức vụ nói riêng vẫn diễn biến phức tạp,
ngày càng khó phát hiện và phức tạp hơn. Điều này xuất phát từ tình hình đấu
tranh phòng, chống tội phạm về chức vụ chưa cao, tội phạm ngày càng tinh vi
hơn, người phạm tội có chức vụ, quyền hạn cao tại các cơ quan nhà nước, bản
thân đội ngũ cán bộ, công chức chưa trau dồi về phẩm chất đạo đức, một bộ 2
phận bị tha hóa, biến chất bởi sức mạnh của đồng tiền hoặc trình độ, chuyên
môn chưa đáp ứng với năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; hoặc do bị mua
chuộc, lôi kéo, đưa hối lộ; v.v
Thực tiễn xét xử về các tội phạm khác về chức vụ cho thấy, tại Tòa án
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung cho thấy, các
tội phạm này rất ít xảy ra hoặc có xảy ra chỉ tập trung vào ba tội phạm như: tội
đưa hối lộ (Điều 289), tội làm môi giới hối lộ (Điều 290) và tội lợi dụng ảnh
hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi (Điều 291) trong Mục
B, còn lại chủ yếu phạm các tội phạm về tham nhũng (Mục A) trong Chương
XXI - Các tội phạm về chức vụ. Chẳng hạn, trong thời gian 05 năm (2008 -
2012), có tổng số 40 vụ án và 93 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh đưa ra xét xử về tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ, tội lợi dụng ảnh
hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi, thì cả nước là 183 vụ
án và 379 bị cáo, chiếm tỷ lệ 21,9% số vụ án và 24,5% số bị cáo; v.v
Nghiên cứu các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện
hành, sửa đổi năm 2009 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) cho thấy, khái
niệm tội phạm về chức vụ được quy định tại Điều 227 Chương XXI Bộ luật
hình sự là “những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có chức vụ thực
hiện trong khi thực hiện công vụ, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ
quan, tổ chức”. Như vậy, việc quy định khái niệm tội phạm về chức vụ trong
Bộ luật hình sự là cần thiết, đáp ứng yêu cầu khách quan trong công tác
phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay cũng như lâu dài. Đây là cơ
được một pháp chế vững mạnh - đó chính là nền tảng cơ bản để chúng ta xây
dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân.
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận
về các tội phạm khác về chức vụ và thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố 4
Hồ Chí Minh, qua đó đánh giá thực tiễn xét xử để đưa ra những kiến giải lập
pháp hoàn thiện pháp luật về các tội phạm này trong giai đoạn hiện nay không
những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề
mang tính cấp thiết. Do đó, việc học viên lựa chọn đề tài “Các tội phạm khác
về chức vụ theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu số liệu địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ luật học là cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù thuộc Mục B trong Chương XXI - Các tội phạm về chức vụ,
nhưng nghiên cứu riêng rẽ và độc lập các tội phạm khác về chức vụ chưa
được quan tâm nghiên cứu và trong cả việc ban hành văn bản hướng dẫn thi
hành Bộ luật hình sự.
* Dưới góc độ thực tiễn xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã có văn bản
hướng dẫn việc xử lý một số khía cạnh liên quan đến các tội phạm này như
Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần các tội phạm
của Bộ luật hình sự năm 1985. Trong đó cũng chỉ hướng dẫn một số tội sau:
tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; tội cố ý làm lộ bí mật công
tác, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác; tội vô ý
làm lộ bí mật công tác, tội làm mất tài liệu bí mật công tác. Tuy nhiên, tính
đến thời điểm hiện nay, chưa có một văn bản pháp lý nào của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền hướng dẫn một cách cụ thể, chi tiết về các tội phạm khác
về chức vụ. Ngoài ra, Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của
xã hội đã được một số nhà luật học trong nước quan tâm nghiên cứu. Đáng
chú ý là công trình của GS. TS. Võ Khánh Vinh về “Tìm hiểu trách nhiệm
hình sự đối với các tội phạm về chức vụ”, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1994 hay cuốn sách của ThS. Đinh Văn Quế về “Bình luận khoa học Bộ luật
hình sự năm 1999 (Phần các tội phạm)”, Tập VI - “Các tội phạm về chức vụ”,
NXB. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tái bản năm 2010. 6
* Dưới góc độ đề tài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ luật học: Tương
tự, cũng chưa có công trình khoa học nào đề cập đến các tội phạm khác về
chức vụ. Gần đây nhất, chỉ có luận văn thạc sĩ luật học đề cập riêng rẽ một tội
trong nhóm tội phạm này với đề tài: “Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Đinh Thị Kiều My,
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012.
* Dưới góc độ bài viết trên các tạp chí khoa học, cũng chỉ có một số
bài viết đơn lẻ đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhóm các tội phạm khác về
chức vụ, chẳng hạn: 1) Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội đưa hối
lộ và thực tiễn qua hai vụ án, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/2005; 2)
Nghiên cứu so sánh các quy định về tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ
trong luật hình sự Việt Nam và Công ước Liên Hợp quốc về chống tham
nhũng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17, 18 (tháng 8, 9)/2011 của TS. Trịnh
Tiến Việt; 3) Tìm hiểu khái niệm “người có chức vụ” và “lợi dụng chức vụ để
phạm tội” trong luật hình sự Việt Nam, Http://www.hvcsnd.vn của ThS. Phan
Thị Bích Hiền; 4) Hoàn thiện quy định về các tội phạm về hối lộ, Tạp chí Luật
học, số 3/2009 của TS. Trần Hữu Tráng; 5) Các tội phạm hối lộ từ góc độ luật
pháp quốc tế, Tạp chí Luật học, số 2/2011 của TS. Đào Lệ Thu; v.v
Như vậy, dưới góc độ một luận văn thạc sĩ luật học, cho đến nay chưa
có công trình nào đề cập riêng rẽ đến các tội phạm khác về chức vụ theo luật
hình sự Việt Nam, cũng như nghiên cứu thực tiễn xét xử trên địa bàn thành
các tội phạm này trong luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám
năm 1945 đến nay, cũng như so sánh với Bộ luật hình sự một số nước trên thế
giới, qua đó làm sáng tỏ bản chất pháp lý và những nội dung cơ bản của các
tội phạm khác về chức vụ.
* Về thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng quy phạm pháp
luật hình sự các tội phạm khác về chức vụ trong thực tiễn xét xử trong thời
gian 05 năm (2008 - 2012) trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời 8
phân tích những tồn tại xung quanh việc áp dụng pháp luật và trong lập
pháp hình sự, từ đó đề xuất những kiến nghị hoàn thiện Bộ luật hình sự
Việt Nam về các tội phạm này.
5. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng
và chống tội phạm, cũng như thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp
lý như: lịch sử pháp luật, lý luận về Nhà nước và pháp luật, luật hình sự, tội
phạm học và luật tố tụng hình sự, những luận điểm khoa học trong các công
trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một
số nhà khoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật
hình sự như: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, phương pháp xã hội học
như thống kê, định lượng, định tính… để phân tích, tổng hợp các tri thức
khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu
trong luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Nam và Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới.
Chương 3: Thực tiễn xét xử trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và
những kiến nghị hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội phạm khác
về chức vụ. 10
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM KHÁC VỀ CHỨC VỤ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. KHÁI NIỆM TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ THEO LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VÀ PHÂN BIỆT VỚI NHỮNG HÀNH VI VI PHẠM PHÁP
LUẬT KHÁC CỦA NGƯỜI CÓ CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN
1.1.1. Khái niệm tội phạm về chức vụ
Sức mạnh, uy tín và hiệu quả của bộ máy nhà nước phụ thuộc nhiều ở
hoạt động của các cơ quan nhà nước. Cán bộ, công chức nhà nước là những
người trực tiếp thực hiện các hoạt động của cơ quan nhà nước trên các lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội, làm việc có trách nhiệm, tận tụy, tận
tâm, “vì nước, vì dân” thì mới tạo động lực cho xã hội phát triển, phồn vinh
và thịnh vượng.
Hiện nay, trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa, đại đa số bộ phận cán bộ, công chức tận tụy làm việc vì nước, vì dân,
tận tâm với công việc, chức trách được giao, nêu cao tinh thần cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư, vì lợi chung của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức
và của người dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó, còn tồn tại một bộ phận cán bộ,
công chức nhà nước có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, lộng quyền,
1.3. luận văn này.
Khái niệm tội phạm về chức vụ là một trong những vấn đề quan trọng
của lý luận về tội phạm chức vụ, bởi vì, từ khái niệm này nó làm cơ sở để
nghiên cứu và lý giải những nội dung khác. Ngoài ra, việc làm sáng tỏ khái
niệm tội phạm về chức vụ còn giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa
án áp dụng chính xác và đúng đắn các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam
về những tội phạm cụ thể về chức vụ. 12
Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam
cho thấy, từ khi thành lập nước (Cách mạng Tháng Tám năm 1945) đến
trước khi thông qua Bộ luật hình sự đầu tiên năm 1985, khái niệm tội phạm
về chức vụ chưa được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự. Điều
này có nghĩa là, những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cụ thể đều bị xử
lý bằng các biện pháp kỷ luật của Đảng, kỷ luật của Nhà nước hay bằng biện
pháp xử lý hành chính. Tuy vậy, theo thời gian, dần dần các tội phạm liên
quan đến chức vụ, hối lộ hay tham nhũng được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện,
mặc dù vậy, về mặt lập pháp hình sự, các văn bản pháp luật cũng mới chỉ
mô tả dấu hiệu chung là dấu hiệu lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội,
còn khái niệm tội phạm về chức vụ chưa được chính thức ghi nhận trong hệ
thống các văn bản pháp lý đó, song về mặt thực tế, có thể khẳng định rằng,
nội dung của nó đã được hình thành và được áp dụng trong thực tiễn điều
tra, truy tố và xét xử về hình sự.
Bên cạnh đó, cùng với thời gian, quá trình phát triển kinh tế - xã hội
và sự thay đổi của đời sống xã hội đã làm nảy sinh nhu cầu phải thay đổi,
nhìn nhận, đánh giá và tội phạm hóa một số hành vi vi phạm pháp luật của
người có chức vụ, quyền hạn, cũng như đòi hỏi đặt ra cần khái quát hóa
từng loại (nhóm) tội phạm làm căn cứ pháp lý để xử lý, cũng như để nhận
diện và phòng ngừa chúng. Trên cơ sở này, khái niệm tội phạm về chức vụ
cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không
hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn
nhất định trong khi thực hiện công vụ”.
Tuy nhiên, theo khái niệm này, căn cứ vào các quy định của Bộ luật
hình sự và thực tiễn xét xử cho thấy: Có những tội phạm không quy định tại
Chương XXI - Các tội phạm về chức vụ này nhưng lại là các tội phạm cũng
do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện. Ví dụ: Tội cố ý làm trái các quy 14
định Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165), tội vi
phạm các quy định về quản lý đất đai (Điều 174); v.v Ngoài ra, cũng có một
số tội phạm lại được quy định tại Chương XXI - Các tội phạm về chức vụ
này, nhưng lại do người không có chức vụ, quyền hạn thực hiện và thuộc
nhóm các tội phạm khác về chức vụ. Ví dụ: Tội đưa hối lộ (Điều 289), tội môi
giới hối lộ (Điều 290), tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ,
quyền hạn để trục lợi (Điều 291). Vì vậy, chúng tôi cho rằng, trong thời gian
tới, khái niệm tội phạm về chức vụ được quy định tại Điều 227 Bộ luật hình
sự trong Chương XXI - Các tội phạm về chức vụ nên có sự điều chỉnh cho
phù hợp hơn.
Như vậy, từ khái niệm lập pháp của các nhà làm luật Việt Nam (đã
nêu) cho thấy những đặc điểm pháp lý hình sự của các tội phạm về chức
vụ như sau:
Một là, khách thể của các tội phạm về chức vụ xâm phạm đến hoạt
động bình thường của cơ quan, tổ chức.
Hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức hay hoạt động đúng đắn của cán
bộ, công chức nhà nước là những hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và
pháp luật quy định, Nhà nước đã quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan, tổ chức và mỗi loại cán bộ, công
chức Nhà nước. Do đó, bảo đảm cho bộ máy Nhà nước và các cơ quan, tổ chức
nêu, dưới góc độ khoa học có thể định nghĩa:
Tội phạm về chức vụ theo pháp luật Việt Nam là hành vi vi phạm pháp
luật do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện trong khi đang thực hiện công
vụ của mình hoặc do người khác thực hiện nhưng có liên quan đến hoạt động
công vụ của người có chức vụ, quyền hạn, được thực hiện một cách cố ý hoặc
vô ý, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, xâm phạm lợi ích
của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 16
1.1.2. Phân biệt tội phạm về chức vụ với những hành vi vi phạm
pháp luật khác của người có chức vụ, quyền hạn
Khi xây dựng Bộ luật hình sự năm 1985, các nhà làm luật nước ta
không xếp tất cả các tội phạm do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện
trong khi thi hành công vụ vào một chương mà chỉ xếp một số tội thành một
chương riêng có tên gọi là “Các tội phạm về chức vụ”. Chương IX - “Các tội
phạm về chức vụ” được đặt ở vị trí thứ 9 giữa Chương VIII - “Các tội xâm
phạm an toàn công cộng và trật tự quản lý hành chính” và Chương X - “Các
tội xâm phạm hoạt động tư pháp”. Trong đó, các tội phạm khác về chức vụ
chưa được tách ra khỏi thành mục riêng.
Đến Bộ luật hình sự năm 1999, Chương XXI - “Các tội phạm về chức
vụ” được đặt ở vị trí giữa Chương XX - “Các tội xâm phạm trật tự quản lý
hành chính” và Chương XXII - “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp”.
Như vậy, việc xác định ranh giới giữa tội phạm về chức vụ và những
hành vi vi phạm pháp luật khác của người có chức vụ, quyền hạn có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Bởi lẽ, theo GS. TS. Võ Khánh Vinh, vì
tính chất của hai loại hành vi đó khác nhau, dẫn đến những biện pháp và thủ
tục xử lý hoàn toàn khác nhau. Trong công tác đấu tranh phòng, chống các tội
phạm về chức vụ, cần chú ý phân biệt ranh giới giữa chúng và một số vi phạm
pháp luật khác của người có chức vụ. Nếu xem thường những việc vi phạm
hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của người có chức vụ, quyền hạn gây
thiệt hại không đáng kể cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, thì hành vi đó chỉ là hành vi vi phạm pháp luật
hành chính và bị xử lý hành chính. Trường hợp nếu hành vi đó gây thiệt hại
đáng kể, thì nó được coi là tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự trên
những cơ sở chung.
Do đó, vấn đề quan trọng là cần đánh giá chính xác thiệt hại đáng kể,
điều này được xác định trên cơ sở xem xét, cân nhắc và phân tích tất cả những 18
tình tiết khác nhau của hành vi đã được thực hiện trong từng trường hợp cụ
thể. Thiệt hại đó có thể là thiệt hại về vật chất như: mất mát, hư hỏng, lãng phí
tài sản của Nhà nước, của các tổ chức xã hội, của tổ chức kinh tế, thất thu lợi
ích vật chất với số lượng lớn, giá trị lớn. Đối với những trường hợp khi hành
vi phạm tội của người có chức vụ, quyền hạn gây hậu quả phi vật chất, thì khi
phân biệt chúng với những hành vi vi phạm pháp luật khác, cần đánh giá tính
chất nghiêm trọng hoặc không nghiêm trọng dựa vào: Tính chất của lợi ích bị
xâm hại và số người chịu thiệt hại do việc vi phạm pháp luật gây ra [57]. Như
vậy, rõ ràng tính chất và mức độ nghiêm trọng của thiệt hại là cơ sở để phân
biệt các tội phạm về chức vụ với những hành vi vi phạm pháp luật khác do
người có chức vụ thực hiện.
Hai là, đối với tội phạm về chức vụ có cấu thành hình thức và hành vi
vi phạm pháp luật khác của người có chức vụ, quyền hạn thì dấu hiệu mức độ
nghiêm trọng của thiệt hại không thể là cơ sở để phân biệt chúng. Vì thế khi
phân biệt hai loại hành vi này cần chú ý đến những dấu hiệu đặc trưng cho
hành động (biện pháp, quy mô, tính liên tục; v.v ) và mặt chủ quan của tội
phạm (hình thức lỗi, động cơ và mục đích phạm tội) để có sự phân biệt rạch
ròi và đúng pháp luật, bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội,
tránh làm oan, sai người vô tội.
Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Như vậy, từ khái niệm này, có thể chỉ ra những đặc điểm cơ bản của
các tội phạm khác về chức vụ như sau:
Một là, các tội phạm khác về chức vụ cũng là nhóm các tội phạm về
chức vụ, đều là những hành vi xâm phạm đến đúng đắn của cơ quan, tổ chức.
Như đã đề cập, hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức hay hoạt động đúng
đắn của cán bộ, công chức nhà nước là những hoạt động trong khuôn khổ của
Hiến pháp và pháp luật quy định, Nhà nước đã quy định cụ thể về chức năng,