Phạm tội có tổ chức theo luật hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRƢƠNG CÔNG BÌNH
PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk) LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT


được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trƣơng Công Bình
MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHẠM TỘI CÓ TỔ CHỨC 9
1.1. Khái niệm và các đặc điểm của phạm tội có tổ chức 9
1.1.1. Khái niệm phạm tội có tổ chức 9
1.1.2. Các đặc điểm của phạm tội có tổ chức 25
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển những quy định về phạm
tội có tổ chức trong Luật hình sự Việt Nam 31
1.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 31
1.2.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 33
1.3. Phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự một số nƣớc trên
thế giới 34
1.3.1. Bộ luật hình sự Liên bang Nga 34
1.3.2. Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 39
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1:
Thống kê các mức độ phạm tội (nghiêm trọng, rất nghiêm
trọng, đặc biệt nghiêm trọng) trong các vụ án phạm tội có
tổ chức
58
Bảng 2.2:
Số lượng vụ án và bị cáo (từ năm 2009 đến 6/2014)
60
Bảng 2.3:
Số lượng vụ án có tình tiết “Phạm tội có tổ chức” từ năm
2009 đến 6/2014
60
Bảng 2.4:
Số lượng bị cáo trong các vụ án có tình tiết “Phạm tội có
tổ chức” giai đoạn từ năm 2009 đến 6/2014
61
Bảng 2.5:

cao bởi một nhóm người có sự câu kết chặt chẽ thông qua chính cơ cấu tổ
chức (băng, nhóm, tổ chức, liên minh …) và sự bàn bạc, tính toán, phân công,
lên kế hoạch nhằm thực hiện tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc
đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội có tổ chức đã xuất hiện từ khá lâu trong lịch
sử lập pháp hình sự của Việt Nam, được đề cập lần đầu tiên trong Thông tư số
442/TTG ngày 19/11/1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc trừng trị một số
tội phạm. Cho đến nay, phạm tội có tổ chức được ghi nhận trong Bộ luật hình
sự năm 1999 với tính chất là “hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ
giữa những người cùng thực hiện tội phạm”.
Về mặt lý luận luật hình sự, còn có nhiều ý kiến khác nhau về bản
chất pháp lý của khái niệm phạm tội có tổ chức. Còn nhiều luồng quan
điểm trái chiều liên quan đến cách hiểu về dạng đồng phạm đặc biệt này –
phạm tội có tổ chức.
Về mặt lập pháp hình sự, khó khăn gặp phải là hệ thống pháp luật hiện
nay chưa bảo đảm được công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm có
tổ chức, thiếu đồng bộ và việc sửa đổi bổ sung còn chậm, chưa bắt kịp với xu
thế đang diễn ra. Chính vì thế, pháp luật hình sự nước ta chưa có một cơ chế
thực sự để điều chỉnh trường hợp này
Trên phương diện thực tiễn, việc áp dụng những quy định về phạm tội

2
có tổ chức đã gặp phải những vướng mắc như thế nào là sự câu kết chặt chẽ.
Đối với công tác điều tra, phần lớn các báo cáo của cơ quan công an các tỉnh
thành, trong đó có tỉnh Đắk Lắk, thể hiện các trường hợp phạm tội có tổ chức
bằng cách diễn đạt khác, đó là tổ chức tội phạm, băng, ổ, phạm tội theo kiểu
“xã hội đen”… gây mất thống nhất với các báo cáo của các cơ quan tiến hành
tố tụng khác như Viện kiểm sát hay Tòa án. Về công tác xét xử, do nhận thức
về bản chất pháp lý của khái niệm phạm tội có tổ chức còn chưa thống nhất,
nên các Tòa án nói chung và các tòa tại tỉnh Đắk Lắk nói riêng, đã phạm sai
lầm khi kết luận đồng phạm có thông mưu trước thông thường là phạm tội có

Đồng phạm cũng như phạm tội có tổ chức là những vấn đề có nội dung
phong phú và phức tạp được các luật gia và các nhà nghiên cứu luật quan tâm
chú ý và đề cập đến trong những công trình nghiên cứu của mình dưới góc độ
luật hình sự, tội phạm học hoặc xã hội học pháp luật.
Hiện nay, ở nước ta có rất nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu vấn đề đồng
phạm có tổ chức dưới các góc độ khác nhau ở mức chuyên sâu hoặc khái quát
hóa đã được công bố trên các sách, tạp chí, luận văn, luận án. Nhưng tựu
chung lại thì các nghiên cứu chủ yếu theo ba xu hướng đó là: tiếp cận dưới
góc độ tội phạm học, luật hình sự và theo sự xuất hiện các vấn đề mới của xã
hội. Dưới góc độ khoa học luật hình sự đã có khá nhiều các công trình nghiên
cứu về phạm tội có tổ chức, có thể kể ra đây một số công trình tiêu biểu của
các tác giả như: GS.TSKH Lê Cảm với tập sách “Các nghiên cứu chuyên
khảo về phần chung Bộ luật hình sự” (NXB Công an nhân dân, 2000) đã đề
cập đến chế định đồng phạm trong đó có nói đến phạm tội có tổ chức, sách
“Đồng phạm trong luật Hình sự Việt Nam” của TS. Trần Quang Tiệp (NXB
Tư Pháp, 2007) với nội dung trình bày về khái niệm đồng phạm, các loại
người đồng phạm, các hình thức đồng phạm và trách nhiệm hình sự trong

4
đồng phạm. Mặt khác, có một số bài viết, đề tài tập trung phân tích trường
hợp phạm tội có tổ chức theo luật hình sự Việt Nam, chẳng hạn như bài
“Phạm tội có tổ chức và trách nhiệm hình sự đối với bọn phạm tội có tổ
chức” của tác giả Nguyễn Vạn Nguyên, hay đề tài luận văn cao học của
Nguyễn Minh Đức “Hình thức phạm tội có tổ chức trong chế định đồng phạm
theo pháp luật Hình sự Việt Nam”. Tiếp cận vấn đề ở góc độ tội phạm học là
một số bài viết của các tác giả nói đến vấn đề đồng phạm có tổ chức với tư
cách là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội ở những khía cạnh khác nhau.
Đó là các bài viết như: “Vấn đề tội phạm có tổ chức và trách nhiệm hình sự
pháp nhân trong sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999” của GS.TS. Hồ Trọng
Ngũ đăng trên tạp chí Lập pháp số 6/2009, bài nghiên cứu “Đấu tranh phòng,

nhìn thống nhất, toàn diện, đầy đủ và đóng góp về mặt khoa học để góp phần
giải quyết những vướng mắc đang được đặt ra trong trường hợp đồng phạm
đặc biệt này. Từ việc phân tích những vấn đề lý luận, kết hợp với nghiên cứu
kinh nghiệm quốc tế, thực trạng pháp luật Việt nam và thực tiễn xét xử trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk, luận văn đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện những quy
định của Bộ luật hình sự về phạm tội có tổ chức.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích luận văn nghiên cứu những vấn đề sau:
a. Khái niệm, các đặc điểm và lịch sử hình thành và phát triển các quy
định về phạm tội có tổ chức trong luật hình sự Việt Nam
b. Phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự của một số quốc gia trong
đấu tranh chống phạm tội có tổ chức
c. Thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam về phạm tội có tổ chức
d. Thực tiễn và những nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong công tác xét
xử các vụ án phạm tội có tổ chức trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

6
e. Những cơ sở pháp lý và thực tiễn trong nước và quốc tế để hoàn
thiện các quy định về phạm tội có tổ chức, cũng như nâng cao hiệu quả đấu
tranh chống loại tội phạm nguy hiểm này
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài nêu trên là thành tựu từ các chuyên ngành khoa
học pháp lý như: lịch sử nhà nước và pháp luật, lý luận về pháp luật, xã hội
học pháp luật, pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, tội phạm học, lĩnh
vực triết học, thành tựu từ các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án, sách
chuyên khảo cũng như các bài đăng trên tạp chí và các báo của các nhà khoa
học – luật gia trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các
văn bản pháp luật của Nhà nước trong việc giải thích thống nhất các trường
hợp cụ thể trong thực tiễn xét xử có liên quan đến trường hợp trên trong các
văn bản thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự do các cơ quan bảo vệ pháp luật ban

và Liên Bang Nga để làm cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện;
c. Làm rõ thực tiễn xét xử các vụ án về phạm tội có tổ chức trên địa bàn
thành tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2009-2014;
d. Khảo sát thực tiễn các dạng phạm tội có tổ chức của một số quốc gia;
e. Đưa ra một số đề xuất hoàn thiện những quy định về phạm tội có tổ
chức trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành;
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn này gồm có phần mở đầu, các chương nội dung, phần kết
luận và danh mục tài liệu tham khảo. Cụ thể các chương nội dung bao gồm:
Chƣơng 1: Các vấn đề chung về phạm tội có tổ chức
1.1. Khái niệm và các đặc điểm của phạm tội có tổ chức
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển những quy định về phạm tội có tổ
chức trong luật hình sự Việt Nam
1.3. Phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới

8
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam về phạm tội có
tổ chức và thực tiễn xét xử
2.1. Thực trạng pháp luật hình sự Việt Nam về phạm tội có tổ chức
2.2. Thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Chƣơng 3: Những cơ sở và một số kiến nghị hoàn thiện các quy
định về phạm tội có tổ chức trong Bộ luật hình sự Việt Nam
3.1. Những cơ sở hoàn thiện các quy định về phạm tội có tổ chức trong
Bộ luật hình sự Việt Nam
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về phạm tội có tổ chức
trong Bộ luật hình sự Việt Nam
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống phạm tội
có tổ chức.
10
Loại quan điểm thứ hai cho rằng, ở hình thức phạm tội có tổ chức,
những người đồng phạm phải phạm nhiều tội hoặc phạm một tội, nhưng nhiều
lần và có sự câu kết chặt chẽ với nhau trong một thời gian dài. Theo quan
điểm này, phạm vi những vụ đồng phạm có được xác định là phạm tội có tổ
chức sẽ quá thu hẹp vì chỉ có một số ít các tổ chức chống chính quyền nhân
dân, tổ chức phạm tội khác mới thỏa mãn được điều kiện này. Nếu thực hiện
theo quan điểm này, công tác điều tra, truy tố, xét xử sẽ nương nhẹ nhiều
trường hợp phạm tội có đầy đủ căn cứ để xác định là hình thức đồng phạm
đặc biệt, có tính chất, mức độ nguy hiểm cao cho xã hội, vì vậy sẽ giảm hiệu
quả công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm
được thực hiện bằng đồng phạm nói riêng.
Loại quan điểm thứ ba đồng nhất khái niệm phạm tội có tổ chức với
đồng phạm có thông mưu trước. Loại quan điểm này sai lầm ở chỗ đã đồng
nhất giữa cái chung là đồng phạm có thông mưu trước với cái riêng là hình
thức phạm tội có tổ chức. Thực ra, đồng phạm có thông mưu trước và hình
thức phạm tội có tổ chức là hai khái niệm thống nhất nhưng không đồng nhất:
phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có thông mưu trước nhưng kèm
theo nó là những dấu hiệu đặc trưng khác. Theo logic hình thức thì ngoại diên
của khái niệm phạm tội có tổ chức nằm trong ngoại diên của khái niệm đồng
phạm có thông mưu trước. Xét về mức độ tính nguy hiểm cho xã hội, thì
phạm tội có tổ chức có mức độ tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn đồng phạm
có thông mưu trước. Bộ luật Hình sự Liên bang Nga cũng đã thể hiện quan
điểm này khi xác định đồng phạm có thông mưu trước và nhóm có tổ chức
đều là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của nhiều điều luật, nhưng
nhóm có tổ chức là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt cao hơn.
Ví dụ: Điều 203 - Tội bắt cóc con tin, quy định đồng phạm có thông
mưu trước là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của khoản 2 với mức

11

thì bị phát hiện, bị bắt và bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng có thể thời
gian câu kết để chuẩn bị phạm tội đã diễn ra trong thời gian tương đối dài.
Phạm tội có tổ chức dạng này thông thường xuất hiện ở các tội xâm phạm an
ninh quốc gia, khủng bố, bạo loạn, phá hoại cơ sở vật chất kĩ thuật, trốn khỏi
trại giam, thậm chí xâm hại đến đối tượng được bảo vệ nghiêm ngặt hoặc
đặc biệt nghiêm ngặt chẳng hạn như tài sản có giá trị lớn, rất lớn hay những
nhân vật giữ vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước.
Để tiếp cận khái niệm phạm tội có tổ chức với tính chất là một hình
thức phạm tội có tính nguy hiểm cao, trước hết cần làm rõ đến khái niệm tội
phạm có tổ chức bởi tội phạm có tổ chức chính là hiện tượng tiêu cực mà
trong đó những hoạt động phạm tội có tổ chức (hay còn gọi là đồng phạm có
tổ chức) được thực hiện bởi một nhóm người có cơ cấu nhất định (câu kết với
nhau) nhằm mục đích lợi nhuận hay các mục đích khác.
Không giống như những người phạm tội ở đường phố hay thậm chí
người phạm tội chuyên nghiệp, những người phạm tội có tổ chức làm việc với
nhau trên cơ sở có tính liên tục trong các lớp vỏ bọc khá đa dạng với những
hoạt động bất hợp pháp. Có một nhóm tội phạm nòng cốt và một nhóm lớn hơn
nhiều là các cá nhân vệ tinh làm việc với họ, thực hiện nhiệm vụ cụ thể và cung
cấp dịch vụ cụ thể, nhưng những cá nhân này chủ yếu là những tác nhân kinh tế
và chính trị hợp pháp. Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, các chuyên gia máy tính
và tư vấn tài chính là những nhân tố quan trọng đối các nhóm tội phạm có tổ
chức không kém những người bán ma túy, môi giới cá cược hay chăn dắt gái
mại dâm. Những cá nhân này được đưa vào một mạng lưới tội phạm bởi những
dịch vụ của họ là cần thiết. Sự kết hợp này rất tiện dụng. Nó làm cho việc thực
thi pháp luật trở nên hết sức khó khăn để theo dõi và truy ngược lại các hoạt
động cụ thể của những người nòng cốt của nhóm tội phạm.

13
Một vấn đề dai dẳng và kéo dài liên quan đến cấu trúc của nhóm tội
phạm là việc sử dụng cấu trúc tương tự như của công ty để mô tả cấu trúc ra

bất hợp pháp để nâng cao quyền lực và lợi nhuận. Trong khi nhiều học giả cho
rằng sự khác biệt này ngày nay ít quan trọng hơn so với trong quá khứ, thì việc
sử dụng các phương thức phạm tội để đạt được mục tiêu lợi nhuận vẫn là một
thuộc tính quan trọng của định nghĩa tội phạm có tổ chức. Các phương thức
phạm tội có thể từ tống tiền và tham nhũng tới các hành vi bạo lực.
Doanh nghiệp vì lợi nhuận của tội phạm có tổ chức. Kinh tế toàn cầu
đã thay đổi tội phạm có tổ chức sâu sắc nhất ở chỗ nó đã làm tăng rất mạnh số
lượng và loại hình doanh nghiệp mà tổ chức tội phạm có thể khai thác lợi nhuận.
Theo truyền thống, khi nghĩ đến các nhóm tội phạm có tổ chức là hình dung đến
việc cung cấp những dịch vụ bất hợp pháp liên quan đến tệ nạn xã hội hay bảo
kê cho nó ở vùng đó. Sản xuất và phân phối các ấn phẩm khiêu dâm và ma túy,
các cung cấp các dịch vụ mại dâm, cờ bạc, cho vay nặng lãi, và các dịch vụ bảo
vệ truyền thống được xem là cốt lõi của hoạt động phạm tội có tổ chức.
Toàn cầu hóa đã thay đổi tất cả. Trong một thị trường quốc tế rộng lớn,
tội phạm có tổ chức có thể thẩm thấu vào bất kỳ doanh nghiệp nào. Tất nhiên,
các tổ chức tội phạm vẫn thống trị ngành công nghiệp tình dục và buôn bán ma
túy. Dân nhập cư được đưa trái phép qua biên giới để làm việc trong các nhà
thổ, câu lạc bộ thoát y và quán massage thuộc sở hữu của đám ma cô, nhưng họ
cũng bị buôn bán để làm việc trong các ngành sản xuất, nông nghiệp và công
nghiệp. Sự đa dạng trong việc buôn bán ma túy đã trở nên dễ dàng hơn với sự
hỗ trợ hiệu quả của giao thông và tài chính. Buôn bán vũ khí bất hợp pháp cùng
với buôn bán ma túy là nguồn cung tài chính trên diện toàn cầu cho tội phạm có
tổ chức. Xe ô tô sang trọng đang bị đánh cắp và vận chuyển trên toàn thế giới
để bán lại. Ngà voi, đá quý, thực vật quý hiếm, động vật hoang dã được bán
trên thị trường toàn cầu. Thậm chí những hình thức doanh nghiệp đơn giản của

15
tội phạm có tổ chức, chẳng hạn như tống tiền và bảo kê, chiếm một tầm quan
trọng mới trong nền kinh tế toàn cầu. Thay vì tống tiền các quán bar và nhà
hàng của khu phố, tổ chức tội phạm thời nay được thuê bởi các doanh nghiệp

TỘI PHẠM CÓ TỔ CHỨC
CƠ CẤU
HOẠT ĐỘNG
PHẠM TỘI
MỤC ĐÍCH
SỰ LIÊN KẾT
CỦA CÁC CÁ NHÂN
(TÍNH CÓ TỔ CHỨC)

- Kinh tế
- Chính trị
- Tôn giáo
- Mục đích khác
- Buôn bán ma túy
- Buôn bán vũ khí
- Buôn bán người
- Khủng bố
- Rửa tiền
- Trốn thuế
- Chiếm đoạt tài sản
- Cá độ
- Hối lộ
- Các hoạt động khác

1. Nhóm hệ thống phân
cấp tiêu chuẩn
2. Nhóm hệ thống phân
cấp khu vực
3. Nhóm hệ thống phân
cấp liên minh

sách. Tội phạm có tổ chức luôn hướng tới những hành vi phạm tội mang lại

17
lợi nhuận cao với ít rủi ro. Do vậy có thể liệt kê hầu hết các hành vi phạm tội,
được quy định trong Bộ luật hình sự của các quốc gia khác nhau, thực hiện
“công việc” của những tên tội phạm có tổ chức: một mặt (buôn bán ma túy,
vũ khí…) được coi là những hoạt động chính, mặt khác (giết người, khủng
bố…) được coi là cách thức để loại bỏ đối thủ, tiếp đến (đút lót, hối lộ…) là
xây dựng hệ thống phòng thủ và bảo vệ, rồi đến (trốn thuế, rửa tiền…) cách
thức tích lũy quỹ tội phạm, và rồi (thành lập các doanh nghiệp giả…) hợp
pháp hóa những hoạt động của mình.
Tất cả những hoạt động phạm tội có tổ chức đều có tính chất và mức độ
nguy hiểm cao cho xã hội. Những tội phạm được thực hiện dưới cách thức có
tổ chức – phạm tội có tổ chức – đều được coi là những tội phạm nghiêm
trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng tùy theo quy định trong
pháp luật của từng quốc gia. Trong Công ước của Liên hợp quốc về chống tội
phạm có tổ chức xuyên quốc gia, những tội phạm được thực hiện bởi nhóm
tội phạm có tổ chức đều được coi là tội phạm nghiêm trọng. Khoản a Điều 2
của Công ước quy định:
Nhóm tội phạm có tổ chức là một nhóm có cơ cấu gồm từ ba
người trở nên, tồn tại trong một thời gian và hoạt động có phối hợp
nhằm mục đích thực hiện một hay nhiều tội phạm nghiêm trọng hoặc
các hành vi phạm tội được quy định trong Công ước này, nhằm đạt
được, trực tiếp hoặc gián tiếp, lợi ích về tài chính hay vật chất khác.
Nhóm cơ cấu nghĩa là một nhóm không phải được hình thành một
cách ngẫu nhiên để thực hiện một hành vi phạm tội tức thời và không
nhất thiết vai trò của các thành viên trong nhóm phải được xác định
một cách rõ ràng, quan hệ giữa các thành viên phải được duy trì hoặc
cơ cấu của nhóm phải được phát triển (khoản c, Điều 2).
Tội phạm nghiêm trọng theo khoản 2 Điều 2 của Công ước quy định:

19
hầu như tất cả các tầng lớp xã hội. Nó khác với các loại hoạt động tội phạm
khác. Các loại hành vi phổ biến nhất liên quan đến hoạt động phạm tội có
tổ chức bao gồm việc cung cấp các dịch vụ bất hợp pháp và hàng hóa bất
hợp pháp, âm mưu phạm tội, sự xâm nhập vào kinh doanh hợp pháp, tống
tiền và tham nhũng.
Cung cấp các dịch vụ bất hợp pháp
Việc cung cấp các dịch vụ bất hợp pháp là một trong những công việc
kinh doanh chính của các tổ chức tội phạm. Dịch vụ bất hợp pháp là những
dịch vụ mà kinh doanh hợp pháp không cung cấp và bị pháp luật cấm. Những
dịch vụ bất hợp pháp bao gồm: (1) hoạt động cờ bạc được tiến hành ngoài
vòng pháp luật, (2) bảo kê - một hình thức tống tiền mà theo đó các thành
viên tổ chức tội phạm tiếp cận chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhỏ và đề
nghị cung cấp cho họ sự bảo vệ cho các doanh nghiệp trong trường hợp không
may mắn “bất ngờ” xảy ra, chẳng hạn như cháy hoặc bị phá hoại, (3) cho vay
nặng lãi, cho vay tiền bất hợp pháp ở mức giá lấy lãi cắt cổ, mà việc trả nợ bị
ép thông qua bạo lực và đe dọa, và (4) kinh doanh mại dâm là một trong
những dịch vụ mang lại lợi nhuận lớn cho các tổ chức tội phạm.
Việc cung cấp các dịch vụ bất hợp pháp là một dạng hoạt động phạm
tội tạo ra tiền để giúp cho tổ chức đạt được mục đích. Ngoài ra, trong nhiều
trường hợp các dịch vụ bất hợp pháp được cung cấp cùng với hàng hóa bất
hợp pháp.
Cung cấp hàng hoá bất hợp pháp
Giống như dịch vụ bất hợp pháp, một dấu hiệu thứ hai của tổ chức tội
phạm là việc cung cấp các hàng hóa bất hợp pháp, thứ không có từ các doanh
nghiệp hợp pháp. Đặc biệt là các loại ma túy bất hợp pháp chính là cho một
sản phẩm chính trong nhu cầu đáng kể trên thị trường chợ đen. Các loại ma
túy bất hợp pháp bao gồm cần sa, cocaine và heroin, các loại ma túy tổng hợp

Trích đoạn Tình hình công tác xét xử Cơ sở pháp lý Kiến nghị tại phần chung của Bộ luật hình sự
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status