ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THANH THỦY
NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ
tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận
văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn Lê Thị Thanh Thủy
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
2.1. SỰ THỂ HIỆN NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC CÔNG
BẰNG TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 33
2.1.1. Sự thể hiện nội dung trong nguyên tắc xử lý tội phạm 33
2.1.2. Sự thể hiện nội dung trong việc phân loại, phân hóa tội phạm 35
2.1.3. Sự thể hiện nội dung trong các quy định về hình phạt, quyết
định hình phạt 43
2.1.4. Sự thể hiện nội dung trong quy định về các tội phạm cụ thể 52
2.2. SỰ THỂ HIỆN NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC CÔNG
BẰNG TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 59
2.2.1. Yêu cầu của pháp luật quốc tế về nguyên tắc công bằng trong
pháp luật hình sự 60
2.2.2. Sự thể hiện nội dung nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình
sự Liên bang Nga 62
2.2.3. Sự thể hiện nội dung nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình
sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 64
Chương 3: THỰC THI NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG TRONG
THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM 66
3.1. THỰC THI NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG TRONG THỰC
TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 66
3.1.1. Vài nét về tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh Đắk Lắk 66
3.1.2. Tình hình thực thi nguyên tắc công bằng trong thực tiễn xét xử
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 67
3.1.3. Một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thực thi nguyên tắc công
bằng và các nguyên nhân cơ bản 71
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM 86
3.2.1. Sự cần thiết của việc ghi nhận nguyên tắc công bằng trong Bộ
69
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công bằng xã hội là lý tưởng, khát vọng và nỗ lực chung của nhân loại
tiến bộ. Ở nước ta, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm
2011) cũng thể hiện lý tưởng này qua việc nhấn mạnh về mục tiêu của cách
mạng Việt Nam hiện nay là: “xây dựng Việt Nam trở thành một nước dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [6, tr.205]. Nghiên cứu
Hiến pháp năm 2013 và hệ thống các văn bản pháp luật của Nhà nước cho
thấy, cùng với nhân đạo, pháp chế, dân chủ thì công bằng “không chỉ là một
trong các giá trị xã hội liên quan chặt chẽ với pháp luật và các giá trị xã hội
khác, mà còn là định hướng cơ bản đối với hoạt động thực tiễn của các cơ
quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong Nhà nước pháp quyền vì mục đích
cao quý chung - lợi ích của toàn thể xã hội và nhân dân” [2, tr.50]. Đối với tư
pháp, công bằng là nền tảng để tồn tại như một nhà luật học danh tiếng
(A.M.Jekovev, GS. TS. Võ Khánh Vinh dẫn) đã viết: “Thiếu sự cưỡng chế tư
pháp hình sự sẽ không có sức mạnh, thiếu sự giáo dục tư pháp sẽ vô nhân
đạo. Nhưng thiếu công bằng tư pháp nói chung sẽ không tồn tại” [42, tr.47].
* Về phương diện thực tiễn, vì những lý do chủ quan và khách quan
khác nhau nên nguyên tắc công bằng ít nhiều vẫn chưa được thực thi triệt
để ở nhiều khía cạnh, điều đó dẫn đến còn có hiện tượng oan, sai, bất công
làm phát sinh tâm lý tiêu cực trong xã hội, đánh mất niềm tin của nhân dân
vào pháp luật của nhà nước, làm giảm hiệu quả công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm.
Vì vậy, việc nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt khoa
học những vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm, nội dung, ý nghĩa của nguyên
tắc công bằng; sự thể hiện của nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự 3
Việt Nam hiện hành, cũng như yêu cầu quốc tế và pháp luật hình sự một số
nước; thực tiễn thực thi để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm
thực thi nguyên tắc này không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn quan
trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết. Đây chính là lý do luận chứng
cho việc học viên quyết định lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ luật học với tên
gọi: “Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu
thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”.
2. Tình hình nghiên cứu
Như đã nêu trên, trong khoa học luật hình sự, nguyên tắc công bằng
còn ít được quan tâm nghiên cứu chuyên sâu. Vấn đề chủ yếu được đề cập
đến bởi các nghiên cứu chung về hệ thống các nguyên tắc của luật hình sự.
Tham khảo tình hình nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy liên quan đến nguyên
tắc công bằng trong luật hình sự có những công trình tiêu biểu sau đây:
* Dưới góc độ sách chuyên khảo, tham khảo, bài viết ở nước ngoài: 1)
Nhikifôrôv B.X, Về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Liên Xô,
Nxb. Sách pháp lý, Maxcơva, 1960; 2) Melesko Iu. B, Về khái niệm và bản
chất của các nguyên tắc của luật hình sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
6/1973; 3) Kêlina X. G. và V. N. Kudriaxev, Những nguyên tắc của luật hình
được nghiên cứu với tư cách là một trong các nguyên tắc cơ bản của luật hình
sự và được đề cập với tư cách là một mục nhỏ trong Chương, mục về các
nguyên tắc cơ bản chứ không phải đối tượng nghiên cứu riêng của tác phẩm.
Đặc biệt, cuốn sách chuyên khảo: “Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự
Việt Nam” của GS.TS. Võ Khánh Vinh, Nxb. Công an nhân dân năm 1994 đã
nghiên cứu chuyên sâu về nguyên tắc này nhưng thời gian xuất bản đã trên 20
năm, cơ sở thực tiễn trong nghiên cứu còn là nội dung quy định Bộ luật hình
sự năm 1985 và có ba chương tiếp cận như sau: Chương 1: Khái niệm nguyên
tắc công bằng trong luật hình sự; Chương 2: Nguyên tắc công bằng và việc 5
quy định tội phạm và hình phạt; Chương 3: Nguyên tắc công bằng và việc
quyết định hình sự [42, tr.206].
Như vậy, đến nay chưa có công trình nào tiếp tục nghiên cứu chuyên
sâu và có hệ thống về những vấn đề lý luận cơ bản của nguyên tắc công bằng,
đồng thời đánh giá sự thể hiện của nguyên tắc công bằng trong các quy định
Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực thi để làm cơ sở cho
việc đề xuất giải pháp bảo đảm nguyên tắc này. Nói một cách khác, các vấn
đề lý luận và thực tiễn xung quanh nguyên tắc công bằng của luật hình sự đòi
hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu hơn, đặc
biệt là trong bối cảnh sửa đổi toàn diện Bộ luật hình sự nước ta.
3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguyên tắc công bằng trong luật
hình sự Việt Nam và thực tiễn thực thi của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trên
cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về phương diện lý luận, luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ
bản như: khái niệm công bằng dưới các góc độ khác nhau (triết học, chính trị,
Việt Nam về nguyên tắc công bằng, cũng như các giải pháp khác bảo đảm
thực thi nguyên tắc này trong thực tiễn xét xử.
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu của luận văn
4.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nguyên tắc công
bằng trong xây dựng, tổ chức Nhà nước của dân, do dân và vì dân, trong đấu
tranh phòng và chống tội phạm; cũng như thành tựu của các chuyên ngành
khoa học pháp lý như: lịch sử Nhà nước và pháp luật, lý luận về Nhà nước và 7
pháp luật, luật hình sự, luật tố tụng hình sự; những luận điểm khoa học trong
các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí
của một số nhà hình sự học ở Việt Nam và nước ngoài.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để luận chứng về các vấn
đề khoa học của đề tài là: hệ thống, lịch sử, thống kê, so sánh, điều tra xã hội
học, phân tích số liệu thực tiễn, từ đó tổng hợp các tri thức khoa học luật hình
sự và giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu
5. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn
5.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã
làm rõ khái niệm, nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc công bằng trong luật hình
sự; khái quát quá trình phát triển của nguyên tắc công bằng trong lịch sử pháp
luật Việt Nam; phân tích, đánh giá sự thể hiện của nguyên tắc công bằng
trong quy định pháp luật hình sự nước ta hiện hành; đánh giá việc thực thi
nguyên tắc công bằng trong xét xử vụ án hình sự trên cơ sở số liệu thực tiễn
của tỉnh Đắk Lắk; từ đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật và những giải
pháp bảo đảm thực thi nguyên tắc công bằng trong thực tiễn xét xử.
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Công bằng là một khái niệm đa chiều, tiếp cận dưới nhiều góc độ sẽ
cho ra những nội hàm khác nhau. Để có thể phân tích, đánh giá sự thể hiện
của nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự, nhất định phải làm rõ khái
niệm này ở bình diện pháp lý và chỉ ra những biểu hiện, ý nghĩa của nó trong
pháp luật hình sự.
1.1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC CÔNG BẰNG
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm công bằng dưới các góc độ triết học, xã hội, đạo
đức, kinh tế và pháp luật
Công bằng xã hội là lý tưởng, khát vọng và nỗ lực chung của nhân loại
tiến bộ. Ở nước ta, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (năm
2011) cũng thể hiện lý tưởng này qua việc nhấn mạnh về mục tiêu của cách
mạng Việt Nam hiện nay là: “xây dựng Việt Nam trở thành một nước dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [6, tr.205]. Công bằng là
một phạm trù, khái niệm đa chiều, tiếp cận và đứng trên lập trường khác nhau
về văn hóa hoặc xuất phát từ những phương diện, ở không gian và thời gian
khác nhau sẽ cho ra những quan niệm, đánh giá khác nhau về vấn đề này.
Dưới góc độ triết học, trong quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin:
Bản chất của công bằng là sự phù hợp giữa một loạt khía
cạnh thể hiện các phương diện khác nhau giữa cái mà cá nhân (hay
nhóm xã hội) làm và cái mà họ được hưởng từ xã hội. Cái mà cá
nhân làm cho xã hội có thể là điều tốt lành (lao động, cống hiến,
nghĩa vụ, công lao…), hoặc cũng có thể là điều xấu, có hại cho xã 10
hội (ví dụ: tội phạm). Còn cái mà cá nhân được hưởng từ xã hội có
thể là địa vị xã hội, quyền lợi, tiền công, phần thưởng, sự đánh giá,
góc độ này công bằng đòi hỏi rằng trong những điều kiện tương tự, mọi người
phải được đối xử như nhau.
Dưới góc độ kinh tế, “người ta phân biệt hai khái niệm khác nhau về
công bằng xã hội đó là: công bằng xã hội theo chiều ngang (horizontal
justice) nghĩa là đối xử như nhau đối với những người có đóng góp như nhau
và công bằng xã hội theo chiều dọc (vertical justice) theo nghĩa là đối xử khác
nhau với những người có những khác biệt bẩm sinh, trình độ, năng lực hoặc
có các điều kiện sống khác nhau” [32]. Cũng giống như quan niệm ở phương
diện đạo đức, quan niệm này nhìn nhận công bằng có nghĩa là đối xử như
nhau giữa những người có đóng góp như nhau. Tuy nhiên, theo quan niệm thể
hiện ở đây, công bằng không mang nghĩa cào bằng mà còn có khía cạnh phân
hóa, tức là đối xử tương xứng với khả năng, mức độ đóng góp.
Dưới góc độ pháp luật, nhà triết học pháp luật người Mỹ John Rawls
cho rằng “công bằng là ý nghĩa cơ bản của khái niệm công lý” [48, p.164].
Hoặc cụ thể hơn, Ambrose Bierce cho rằng công bằng là sự phản ánh mối
quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân (nhóm xã hội) qua tính tương ứng giữa cái
mà nhà nước trả lại cho công dân so với cái mà anh ta (họ) làm cho nhà nước
[47, p.116]. Theo cách hiểu này, sự công bằng trong pháp luật thể hiện ở hai
khía cạnh: sự ghi nhận, quyền lợi Nhà nước trao cho chủ thể thực hiện tốt các
nghĩa vụ đối với Nhà nước; sự trừng phạt, lên án của Nhà nước dành cho chủ
thể vi phạm nghĩa vụ đối với Nhà nước. Xử sự của Nhà nước đối với các chủ
thể thông qua quy định pháp luật dù theo hướng tích cực (ghi nhận) hay tiêu
cực (trừng phạt) cũng phải đảm bảo tương xứng với cách ứng xử tốt hay xấu
mà chủ thể đã thể hiện mới công bằng.
Như vậy, dưới những khía cạnh nghiên cứu khác nhau, công bằng có ý
nghĩa và tiêu chí đánh giá rất khác nhau. Tuy nhiên, có hai điểm chung phải
thừa nhận ở khái niệm công bằng trong mọi góc độ đánh giá là: 12
nguyên tắc của luật hình sự là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng xuyên suốt
quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự. Theo đó, có thể suy ra bằng
phương pháp logic rằng nguyên tắc công bằng trong luật hình sự là sự thể
hiện xuyên suốt của tư tưởng công bằng trong quá trình xây dựng và áp dụng
pháp luật hình sự.
Nội hàm của khái niệm công bằng dưới góc độ chung như đã nêu ở
trên, là yêu cầu về cách đối xử mà con người trong xã hội được hưởng, trong
đó đòi hỏi việc được đối xử bình đẳng giữa mọi người trong điều kiện tương
tự và đối xử với mỗi người một cách tương xứng với xử sự của bản thân họ.
Do đó, đặt trong mối tương quan với pháp luật hình sự - lĩnh vực điều chỉnh
mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội phát sinh khi tội phạm được
thực hiện [3, tr.6], nguyên tắc công bằng thể hiện thông qua “đối xử” của Nhà
nước đối với người phạm tội như thế nào. Rõ ràng, việc đối xử của Nhà nước
đối với người phạm tội chỉ công bằng khi thể hiện đầy đủ các khía cạnh: Một
là, đối xử công bằng giữa những người phạm tội và hai là, đối xử với mỗi
người phạm tội tương xứng với hành vi phạm tội của họ. Những khía cạnh
này cũng được các nhà khoa học luật hình sự Việt Nam thừa nhận khi đề cập
đến nội dung của nguyên tắc công bằng trong luật hình sự.
Trong nghiên cứu chuyên sâu về nguyên tắc công bằng của luật hình
sự, GS.TS. Võ Khánh Vinh cho rằng: trong pháp luật hình sự, công bằng
được khai thác trên hai khía cạnh công bằng ngang nhau và công bằng phân
phối [42, tr.48]. Công bằng ngang nhau được hiểu là việc xây dựng những
quy định về cơ sở trách nhiệm hình sự, tội phạm và hình phạt bảo đảm sự
bình đẳng của mọi người trước pháp luật, có nghĩa là Nhà nước sẽ quy định
đạo luật hình sự thống nhất và những người có hành vi xâm phạm các khách
thể mà luật hình sự bảo vệ đều phải chịu sự điều chỉnh bởi các quy phạm của
đạo luật này mà không có bất cứ sự thiên vị nào. Đối với công bằng phân 14
công minh, tức là phải phù hợp với tính chất, mức độ nghiêm trọng
của hậu quả tội phạm được thực hiện, động cơ và mục đích phạm
tội, mức độ lỗi cũng như tính chất nguy hiểm cho xã hội của nhân
thân người phạm tội; 2) Trong Bộ luật hình sự có các quy định để
đảm bảo cho Tòa án có thể (hoặc phải) lựa chọn loại và mức hình
phạt phù hợp hơn cả đối với người phạm tội căn cứ vào các tình tiết
cụ thể của việc thực hiện tội phạm (ví dụ: danh mục các hình phạt
từ nặng đến nhẹ, các chế tài lực chọn, các chế tài xác định tương
đối, danh mục các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình
sự, v.v…; 3) Không người phạm tội nào có thể phải chịu trách
nhiệm hình sự hai lần về cùng một tội phạm [4, tr.206-207].
Những nội dung của nguyên tắc công minh ở đây tập trung ở hai khía
cạnh: một là, nội dung quy định cũng như việc áp dụng các chế tài của luật
hình sự phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội,
nhân thân người phạm tội; hai là, người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm
hình sự một lần về tội mình đã phạm. Do đó, có thể đánh giá rằng, hai khía
cạnh này đã được tác giả mô tả rất cụ thể, tuy nhiên tác giả mới tập trung đề
cập đến tính tương xứng giữa tội phạm với trách nhiệm hình sự nhưng yêu
cầu của nguyên tắc công bằng còn đòi hỏi phải đề cập đến yêu cầu được đối
xử công bằng giữa những người phạm tội. Bởi lẽ, yêu cầu không ai phải chịu
trách nhiệm hai lần về một tội phạm cũng nhằm bảo đảm sự công bằng giữa
những người phạm tội nhưng chưa thật đầy đủ. Sự công bằng giữa những
người phạm tội còn đòi hỏi mọi tội phạm phải bị xử lý và mọi người phạm tội
bình đẳng trước pháp luật hình sự. Rõ ràng, sẽ không thể có công bằng nếu
hành vi phạm tội này bị xử lý và hành vi phạm tội khác được bỏ qua hay nội
dung quy định pháp luật hình sự cũng như việc áp dụng quy định đó dựa trên
cơ sở sự phân biệt đối xử. 16
17
* Nguyên tắc công bằng là một trong những nguyên tắc tiến bộ, văn
minh của nhân loại nói chung và của pháp luật hình sự Việt Nam nói riêng
Nguyên tắc công bằng phù hợp và phản ánh tư tưởng pháp lý tiến bộ của
nhân loại đã được thừa nhận chung: pháp luật là nghệ thuật của sự thật và công
lý - “Jus est ars borny aequi” [4, tr.207]. Tư tưởng “pháp luật là nghệ thuật
của sự thật và công lý” này cũng đã được pháp luật quốc tế ghi nhận thông
quan các quyền con người cơ bản là quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền
được xét xử không bằng, quyền không bị buộc tội hay chịu trách nhiệm hai lần
về một tội phạm trong các đạo luật nhân quyền như Tuyên ngôn toàn thế giới
về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của Liên
Hợp quốc năm 1966. Hay ngay cả Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng đã thừa
nhận những quyền cơ bản này ở các Điều 16 và 31. Do vậy, sự thể hiện của
nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam không chỉ phản ánh tư
tưởng pháp lý tiến bộ mà còn đáp ứng yêu cầu của pháp luật quốc tế và bảo
đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật cùng vị trí tối cao của Hiến pháp.
* Nguyên tắc công bằng có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực
hiện hiệu quả các nhiệm vụ của luật hình sự Việt Nam
Ba nhiệm vụ chính của luật hình sự tương ứng với ba chức năng của
luật hình sự - chức năng bảo vệ, phòng ngừa (tội phạm) và giáo dục (giáo dục
người phạm tội và những người khác trong xã hội). Ba chức năng hay ba
nhiệm vụ này có mối liên hệ chặt chẽ và hữu cơ với nhau. Trong các nhiệm
vụ trên thì nhiệm vụ bảo vệ là nhiệm vụ quan trọng trước tiên. Bởi lẽ,
Là một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống tư pháp
hình sự, luật hình sự được coi là công cụ phản xạ tự vệ của xã hội
chống lại tội phạm - những hành vi nguy hiểm cho xã hội, cho Nhà
nước, cho con người. Chính vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên của luật hình
sự là nhiệm vụ bảo vệ. Ở thời đại nào và quốc gia nào, luật hình sự
cũng có nhiệm vụ ấy [34, tr.90].
công bằng trong luật hình sự.