Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật - Pdf 30


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

KIU HNG NHUNG

KIểM SáT VIệC TUÂN THEO PHáP LUậT
TRONG HOạT ĐộNG ĐIềU TRA CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất
kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn
đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả
các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định
của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN
KIỀU HỒNG NHUNG

MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC
TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU
TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự 8
1.1.1. Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự 8
1.1.2. Đặc điểm giai đoạn điều tra vụ án hình sự 10

trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 69
2.4. Những nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hạn chế công tác
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra
của Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 73
2.4.1. Quy định của pháp luật 73
2.4.2. Tổ chức thực hiện chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự 74
2.4.3. Công tác cán bộ 75
2.4.4. Cơ sở vật chất 76
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT
VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG
ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK 78
3.1. Cơ sở và định hướng nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 78
3.1.1. Cơ sở nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động điều tra của VKSND trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 78
3.1.2. Định hướng nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động điều tra của VKSND trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 84
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân
dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 85
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật 85
3.2.2. Các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong hoạt động điều tra của VKSND trên địa
bàn tỉnh Đắk Lắk 90
3.2.3. Nâng cao về cơ sở vật chất 94
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99

1. Tính cấp thiết đề tài
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa (XHCN),
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ,
quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân
(VKSND) là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước pháp quyền Việt
Nam, được tổ chức thành một hệ thống thống nhất, không phụ thuộc hành chính nhà
nước; chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Hội đồng nhân dân cùng cấp về việc thực
hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Trước yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập
quốc tế trong tình hình hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục khẳng định phải bảo
đảm tốt hơn các điều kiện để VKSND thực hiện tốt hơn chức năng của mình và nhất
quán xác định VKSND thực hiện hai chức năng: Thực hành quyền công tố và kiểm
sát các hoạt động tư pháp. Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính
trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác định:
Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Nghị quyết Đại hội
XI của Đảng một lần nữa khẳng định: Viện kiểm sát nhân dân tiếp tục
thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn
công tố với hoạt động điều tra. Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện
kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp [2].
Công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động điều tra của VKSND là một trong những nhiệm vụ quan trọng của
VKSND nhằm bảo đảm công tác điều tra được tiến hành một cách khách quan, toàn
diện, đầy đủ và theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm mọi hành vi phạm tội
đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm, người phạm
tội và không làm oan người vô tội.

2

3
thực hiện chưa đầy đủ, chưa làm hết trách nhiệm theo quy định của pháp luật dẫn
đến: Nhiều vụ án hình sự trong quá trình điều tra vi phạm nghiệm trọng về trình
tự, thủ tục tiến hành thu thập chứng cứ, việc xây dựng hồ sơ chưa bảo đảm tính
khách quan, hợp pháp, thậm chí còn có những vi phạm nghiêm trọng các quy định
của BLTTHS; không xác định được người thực hiện hành vi phạm tội. Từ đó đã
gây hậu quả là nhiều vụ án không đảm bảo căn cứ để truy tố, bị Tòa án cấp sơ
thẩm tuyên vô tội hoặc bị cấp phúc thẩm cải sửa, hủy án để điều tra lại. Số lượng
các vụ án hình sự hàng năm không giảm, tính chất của tội phạm ngày càng phức
tạp, thủ đoạn gây án càng manh động, trắng trợn, xuất hiện các nhóm tội phạm có
tổ chức làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
gây hoang mang và giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự quản lý của Nhà
nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy cần phải làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận và thực tiễn để nhận thức đúng đắn, đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ của
VKSND, mối quan hệ giữa VKSND với CQĐT trong hoạt động điều tra, tìm ra và
thực hiện được những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra. Đó là lý do cơ bản làm cơ sở cho tác
giả chọn đề tài “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của
Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)” làm
luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu một số công trình khoa học ở trong nước có liên quan đến đề
tài, phần lớn các tài liệu tập trung nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ chung của
Viện kiểm sát nhân dân; mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân với Cơ quan điều
tra trong hoạt động điều tra các vụ án hình sự; một số hoạt động đấu tranh phòng,
chống tội phạm; vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra các vụ án
hình sự. Có thể, khái quát một số nội dung của các công trình khoa học đã nghiên
cứu có liên quan đến đề tài luận văn như sau:
GS,TS. Lê Cảm (2011), bài viết về “Viện kiểm sát Việt Nam”, đã đề cập một

hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra”,

5
Nhà xuất bản Tư pháp, đã đề cập các quan điểm và lý luận chung về chức năng,
nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đối tượng, phạm
vi quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra.
Trong đó, mối quan hệ giữa quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là hai chức năng độc lập nhau, nhưng có quan
hệ mật thiết với nhau.
Đối với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra,
chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt ở bậc cao học. Đề tài
“Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân
dân trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk” là một nghiên cứu chuyên
sâu ở bậc cao học trong bối cảnh kinh tế, xã hội của tỉnh Đắk Lắk thời gian qua.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận
về chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện
kiểm sát nhân dân. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoạt động kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân. Kiến nghị
với các cơ quan có thẩm quyền trong việc xây dựng, thực thi pháp luật nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của VKSND và hoạt động điều tra của Lực lượng Cảnh sát điều tra các vụ án
hình sự được khách quan, chính xác, toàn diện và theo đúng quy định của pháp luật.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Tập hợp hóa, nghiên cứu, phân tích, làm rõ, bổ sung
để hoàn thiện những vấn đề lý luận về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của
VKSND, để xác định cơ sở pháp lý cùng với thực trạng hiện nay của hoạt động
kiểm sát này. Trên cơ sở đó, tìm ra giải pháp khắc phục nhược điểm, phát huy ưu
điểm, góp phần nâng cao chất lượng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt
động điều tra của VKSND.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

hoạt động điều tra. Những đề xuất trong luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động của Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong đấu tranh, phòng ngừa tội
phạm hình sự trong những năm tới.

7
7. Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân.
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân
dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN
THEO PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1. Khái niệm, đặc điểm của giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Khi có tội phạm xảy ra thì việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn

trường hợp vụ án bị đình chỉ điều tra thì cũng được coi là thời điểm chấm dứt
giai đoạn điều tra vụ án.
Thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra được Luật tố
tụng hình sự quy định khá cụ thể, theo đó thời hạn điều tra (kể cả các lần gia hạn điều
tra) đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 4 tháng, đối với tội nghiêm trọng
không quá 8 tháng, đối với tội rất nghiêm trọng không quá 12 tháng, đối với tội đặc
biệt nghiêm trọng không quá 20 tháng kể từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra
quyết định khởi tố vụ án hình sự. Riêng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia ngoài
các thời hạn điều tra nêu trên thì Viện trưởng VKSNDTC có quyền gia hạn thêm khi
thấy cần thiết, thời hạn gia hạn thêm không quy định cụ thể mà tùy vào tính chất phức
tạp của vụ án mà Viện trưởng VKSNDTC ấn định thời gian gia hạn.
Giai đoạn điều tra có nhiệm vụ quan trọng, bởi vì trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự thì kết quả của hoạt động điều tra là để phục vụ cho việc xét xử của Tòa
án, mọi quyết định của Tòa án về sự việc phạm tội và người thực hiện tội phạm đều
phải dựa trên cơ sở các chứng cứ đã thu thập được ở giai đoạn điều tra. Vì vậy, nhiệm
vụ của giai đoạn điều tra là cơ quan tiến hành tố tụng có quyền áp dụng mọi biện
pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để chứng minh tội phạm và người thực hiện tội
phạm, các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, xác định nguyên nhân và điều kiện
phạm tội để kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội
phạm. Nhiệm vụ trên được thực hiện bởi các chủ thể là CQĐT và các cơ quan khác
được giao tiến hành một số hoạt động điều tra. Tất cả các hoạt động tố tụng được
thực hiện bởi chủ thể của giai đoạn điều tra đều phải tuân theo đúng các quy định của

10
Luật tố tụng hình sự góp phần giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, khách
quan và đúng pháp luật.
Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là: Một giai đoạn của tố
tụng hình sự trong đó Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao một số hoạt
động điều tra được sử dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để thu
thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên

đúng quy định của Luật tố tụng hình sự.
1.2. Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát
Vấn đề phân biệt giữa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều
tra với thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, cũng như mối quan hệ giữa
chúng với nhau cần phải được làm rõ nhằm tạo cơ sở cho việc áp dụng vào hoạt
động thực tiễn các quy định của BLTTHS và Luật tổ chức VKSND năm 2002.
Thực tế “Quyền công tố” là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất
Nhà nước và pháp luật, nó ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà
nước, do đó quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất Nhà nước. Trong đời
sống xã hội cũng như trong lịch sử hình thành và phát triển của mình thì quyền công
tố chủ yếu được phát sinh trong quan hệ pháp luật giữa một bên là Nhà nước (với tư
cách là chủ thể quyền lực) và bên kia là người thực hiện hành vi phạm tội (với tư
cách là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt). Trong quan
hệ đó Nhà nước muốn trừng trị được người phạm tội để bảo vệ quyền lợi của Nhà
nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì trước hết Nhà nước phải
buộc tội được người phạm tội. Nên theo tôi quyền công tố là việc Nhà nước sử dụng
quyền lực nhà nước (nhân danh quyền lực công) truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, quyền công tố có nội dung là sự
buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm,
với nội dung đó có thể khẳng định quyền công tố chỉ được thực hiện trong lĩnh vực
hình sự, còn trong lĩnh lực tố tụng dân sự, hành chính, kinh tế thì VKS tham gia để
thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết các
vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc
khác theo quy định của pháp luật. Với việc xác định quyền công tố chỉ có trong tố

12
tụng hình sự đã tạo cơ sở cho việc xác định rõ đối tượng của quyền công tố chỉ là
tội phạm và người phạm tội. Tuy nhiên, phạm vi quyền công tố không phải có trong
mọi giai đoạn của tố tụng hình sự, điều này đã được thể hiện rõ trong Luật tổ chức
VKSND năm 2002, thi hành án là một giai đoạn tố tụng hình sự nhưng ở giai đoạn

CQĐT và Tòa án các cấp cũng khởi tố vụ án hình sự, thậm chí số án do CQĐT khởi
tố chiếm khoản 95% và theo như quy định mới của BLTTHS năm 2003 thì việc
khởi tố vụ án hình sự được tập trung vào một đầu mối là CQĐT. Như vậy, số vụ án
mà VKS khởi tố và yêu cầu khởi tố chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng số án mà
CQĐT khởi tố, hơn nữa CQĐT có quyền bắt người, tiến hành các hoạt động điều tra
thu thập chứng cứ Chính vấn đề thực tiễn nói trên là sự thể hiện nguyên tắc công
tố trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta, tức là trách nhiệm và nghĩa vụ phát hiện,
chứng minh tội phạm và người phạm tội thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng bao
gồm: Cơ quan Cảnh sát điều tra, VKS và Tòa án.
Từ những nội dung nêu trên, có thể hiểu: Thực hành quyền công tố là việc sử
dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người đã có hành vi bị coi là tội phạm trong các giai
đoạn khởi tố - điều tra, truy tố và xét xử. Nội dung này được thể hiện cụ thể tại các
Điều 13 và Điều 17 Luật tổ chức VKS năm 2002.
Từ nội dung khái niệm nói trên và trên cơ sở các quy định của BLTTHS có
thể nêu lên nội dung của thực hành quyền công tố bao gồm:
Thứ nhất, những hoạt động phát động công tố, đó là khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Thứ hai, trong giai đoạn điều tra, VKS tiếp tục thực hành quyền công tố với
những nội dung: Yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án,
khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các
biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; hủy
bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT; quyết định việc truy tố; đình chỉ hoặc
tạm đình chỉ vụ án.
Từ những nội dung nêu trên chúng ta đi vào phân tích mối quan hệ giữa kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của Viện kiểm sát với thực
hành quyền công tố trong tố tụng hình sự.

14
Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức VKS năm 2002, trong
lĩnh vực tư pháp hình sự VKS có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm

Khi VKS quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, các
quyết định tố tụng khác của CQĐT, tức là VKS trực tiếp sử dụng quyền công tố.
Nhưng hoạt động thực hành quyền công tố của VKS cũng phải tuân theo quy định
của pháp luật, muốn vậy trước khi quyết định các vấn đề trên, VKS phải tiến hành
kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp
ngăn chặn hoặc trong việc khởi tố bị can của CQĐT, tức là VKS tiến hành thực hiện
kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Để thực hiện tốt quyền công tố, có nghĩa là đảm bảo việc phê chuẩn hoặc
không phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê
chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác của CQĐT được chính
xác, đúng pháp luật thì đòi hỏi phải kiểm tra chặt chẽ tính có căn cứ và tính hợp
pháp của các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự mà CQĐT quyết định áp dụng,
mà hoạt động kiểm tra này chính là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư
pháp. Trên cơ sở kết quả của hoạt động kiểm sát thấy rằng quyết định áp dụng các
biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự là có căn cứ và hợp pháp thì VKS sẽ quyết
định phê chuẩn để thi hành, ngược lại nếu xét thấy quyết định áp dụng các biện
pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự của CQĐT là không có căn cứ và hợp pháp VKS
sẽ quyết định không phê chuẩn hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định tố tụng trái pháp
luật của CQĐT, đồng thời yêu cầu CQĐT chấm dứt ngay các hoạt động tố tụng. Ví
dụ, theo quy định mới của BLTTHS năm 2003, quyết định khởi tố bị can của
CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải
được VKS cùng cấp phê chuẩn. Do vậy, để phê chuẩn hay hủy bỏ quyết định khởi
tố bị can của CQĐT thì VKS phải tiến hành hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong khởi tố bị can nhằm bảo đảm quyết định khởi tố bị can là có căn cứ và
hợp pháp, nếu qua hoạt động kiểm sát xét thấy quyết định khởi tố bị can có căn cứ
và hợp pháp thì VKS quyết định phê chuẩn để CQĐT tiến hành hoạt động điều tra,
ngược lại quyết định khởi tố bị can không có căn cứ thì VKS quyết định hủy bỏ
quyết định khởi tố của CQĐT.
Với việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động điều tra sẽ làm tiền đề



17
bắt đầu từ khi tội phạm được phát hiện, khởi tố điều tra cho đến khi bản án có hiệu
lực pháp luật, không bị kháng nghị.
1.3. Khái niệm, đặc điểm của kiểm sát hoạt động điều tra
* Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã được sửa đổi bổ sung quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát điều tra các vụ án hình sự; đó là
thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Với chức năng trên,
Nhà nước ta đảm bảo cho VKSND tăng cường chức năng giám sát trong hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự được khách quan, toàn diện, tránh oan sai,
không để lọt tội phạm.
* Theo Hiến pháp năm 2013, chế định Viện kiểm sát nhân dân cũng có một
số điểm mới cơ bản như sau:
Một là, hệ thống VKSND được sửa đổi phù hợp với chủ trương cải cách tư
pháp: "Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện
kiểm sát khác do Luật định” (khoản 2 Điều 107).
Hai là, theo quy định của Điều 107 Hiến pháp năm 2013, nhiệm vụ của
VKSND được quy định một cách đầy đủ hơn, phạm vi rộng hơn. Cụ thể là:
"Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phần bảo đảm pháp luật được
chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” [12, Khoản 3, Điều 107].
Nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân của VKSND được đặt ra
là hết sức cần thiết. Bởi lẽ, để xây dựng Nhà nước pháp quyền thực sự là của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân, Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi, bổ sung
quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đặc biệt
trong lĩnh vực tư pháp Hiến pháp đã có những điều chỉnh quan trọng nhằm bảo đảm
một cách tối đa quyền con người, quyền công dân.
Ba là, nguyên tắc hoạt động của Viện kiểm sát cũng được sửa đổi, bổ sung
để bảo đảm tính độc lập trong tổ chức và hoạt động của VKSND. Trên cơ sở tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status