Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình sự việt nam ( trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) luận văn ths luật - Pdf 30


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN ANH TUN
QUYếT ĐịNH HìNH PHạT TRONG TRƯờNG HợP CHUẩN Bị
PHạM TộI, PHạM TộI CHƯA ĐạT THEO LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUN VN THC S LUT HC


Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. TRNH TIN VIT
H NI - 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận
văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết
luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.


1.1.1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt 9
1.1.2. Khái niệm quyết định hình phạt và quyết định hình phạt trong
trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 16
1.2. CÁC ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUYẾT ĐỊNH HÌNH
PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM
TỘI CHƯA ĐẠT 20
1.2.1. Các đặc điểm của việc quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 20
1.2.2. Ý nghĩa của việc quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn
bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 22
1.3. NHỮNG NGUYÊN TẮC VÀ CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH
HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ PHẠM TỘI,
PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT 24
1.3.1. Những nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt 25
1.3.2. Các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt 29
Chương 2: QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC 34
2.1. QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CHUẨN BỊ
PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM 34
2.1.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước
pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 34
2.1.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam
năm 1999 39

chưa đạt 81
3.3. CÁC KIẾN NGHỊ KHÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA
VIỆC QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT 88
3.3.1. Kiện toàn và nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ làm
công tác xét xử 88
3.3.2. Một số giải pháp phối hợp khác 89
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1:
Hệ thống các đơn vị hành chính của tỉnh Đắk Lắk
67
Bảng 3.2:
Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án hình sự của Tòa án
nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 06 năm (2009 - 2014)
69
Bảng 3.3:
Kết quả khảo sát 200 vụ án hình sự của Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 06 năm (2009 - 2014)
70
Tính nguy hiểm cho xã hội là lý do khiến cho tội phạm phải bị trừng
phạt. Tội phạm luôn có tính nguy hiểm cho xã hội, bởi vì “tội phạm luôn
chứa đựng trong nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi
ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền,
tự do và các lợi ích hợp pháp của con người” [47, tr.63]. Mặc dù tất cả tội
phạm đều có tính nguy hiểm cho xã hội nhưng mức độ nguy hiểm của các
hành vi phạm tội là khác nhau. Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
tội phạm thể hiện qua nhiều dấu hiệu như: Tính chất, tầm quan trọng và giá trị
của quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại; tính chất và
mức độ hậu quả thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra; mức độ thực hiện tội
phạm; phương thức thực hiện tội phạm (riêng lẻ hay là đồng phạm, đồng
phạm giản đơn hay đồng phạm có tổ chức); công cụ, phương tiện phạm tội,
thủ đoạn, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh thực hiện tội phạm; hình thức lỗi,
mức độ lỗi, mục đích phạm tội và động cơ phạm tội, cũng như các đặc điểm
nhân thân của người phạm tội.
Như vậy, mức độ thực hiện tội phạm cũng là một trong các yếu tố thể
hiện mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Về phương diện lý luận, mức
độ thực hiện tội phạm được phân chia bởi các giai đoạn phạm tội là: chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành. Tương ứng với các giai
đoạn này, hành vi phạm tội mang tính nguy hiểm cho xã hội ở các mức độ
khác nhau. Với mức độ nguy hiểm khác nhau thì logic đương nhiên là trách
nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng phải nặng, nhẹ khác nhau mới bảo đảm
công bằng và được dư luận xã hội đồng tình, người phạm tội tâm phục, khẩu
phục. Chính vì lẽ đó, trong pháp luật hình sự phải đặt ra quy định riêng về 2
quyết định hình phạt trong các trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa
đạt và tội phạm hoàn thành.
Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội

phạt trong các trường hợp này của các cơ quan xét xử chưa có sự thành thục.
Do đó, việc quyết định hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt còn thiếu chính xác, đôi khi còn nặng quá hoặc nhẹ quá, thậm chí áp
dụng sai quy định làm mất đi tính công bằng và giảm đi hiệu quả của hình
phạt nói chung, yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói riêng.
Vì vậy, việc nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt khoa
học những vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nguyên
tắc và căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm
tội chưa đạt; thực trạng quy định pháp luật và áp dụng các quy định pháp luật
về vấn đề này để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng
quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn quan trọng, mà còn là vấn đề mang
tính cấp thiết. Đây chính là lý do luận chứng cho việc học viên quyết định lựa
chọn đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình với tên gọi: “Quyết định hình
phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt theo luật hình
sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”.
2. Tình hình nghiên cứu
Như đã nêu trên, trong khoa học luật hình sự, quyết định hình phạt
trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt còn ít được quan tâm
nghiên cứu. Vấn đề chủ yếu được đề cập đến bởi các nghiên cứu chung về
quyết định hình phạt hoặc giai đoạn thực hiện tội phạm, trong đó phải kể đến
các công trình ở những cấp độ khác nhau dưới đây:
* Ở cấp độ sách tham khảo, chuyên khảo, tạp chí nước ngoài: 1)
C.L.Ten, Tội phạm, lỗi và hình phạt, Oxford at the Clarendon Press, 1987; 2)
Sue Titus Reid, Tư pháp hình sự, Macmillan Publishing Company, 1990; 3) 4
Michael C. Braswell, Belinda R.McCathy, Berna J McCath, Công lý, tội phạm
và đạo đức, Anderson Publishing Co, 1991; 4) P.J.Fizgerald, Luật hình sự và

Quyết định hình phạt trong đồng phạm, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009; 3) Hoàng Đức Ngọc, Những vấn đề
lý luận và thực tiễn về phạm tội chưa đạt theo luật hình sự Việt Nam, Luận
văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010; 4) Hồ
Thanh Vinh, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội phạm chưa hoàn
thành theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; v.v
* Ở cấp độ bài viết, đề tài khoa học trong nước: 1) GS. TSKH. Lê Văn
Cảm, Chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm và mô hình lý luận của nó
trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/2002; 2)
PGS. TS. Trịnh Quốc Toản, Một số vấn đề về giai đoạn phạm tội chưa đạt,
Tạp chí Khoa học, chuyên san Kinh tế - Luật, số 4/2002; 3) PGS. TS. Lê Thị
Sơn, Về trách nhiệm hình sự của hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa
đạt, Tạp chí Luật học, số 4/2002; 4) PGS. TS. Dương Tuyết Miên, Quyết định
hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, Tạp chí
Luật học, số 4/2002; 5) TS. Trịnh Tiến Việt, Về phạm tội chưa đạt và một số
hình thức phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm, Tạp chí Khoa
học, chuyên san Kinh tế - Luật, số 2/2009; 6) Nguyễn Thị Mai, Chuẩn bị
phạm tội hay phạm tội chưa đạt, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3/1993; v.v
Như vậy, nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên mới chỉ đề cập
đến quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt với tư cách một
trường hợp của quyết định hình phạt nói chung hoặc là một trong các vấn đề
về trách nhiệm hình sự ở các giai đoạn phạm tội. Có thể nói rằng, hiện nay
chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống nào về các vấn đề lý 6
luận cơ bản đồng thời đánh giá toàn diện các quy định pháp luật hình sự Việt
Nam hiện hành về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt và thực tiễn áp dụng của các quy định đó trên một địa bàn

- Đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn 06 năm
(2009 - 2014), từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản;
- Luận chứng và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt và các giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng của việc
quyết định hình phạt trong hai trường hợp này.
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy
vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng
Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được
thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng X, XI và các Nghị quyết số 08-
NQ/TW ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới”, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về “Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa
học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn và điểm mới về khoa học của luận văn
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả đã
làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và các căn cứ, những nguyên tắc của quyết
định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; phân 8
tích, đánh giá nội dung quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về
quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt,
đồng thời đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy định này ở khía cạnh lập

Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt là hai trường hợp quyết định hình phạt đặc biệt bởi được đặt ra đối
với hành vi phạm tội chưa hoàn thành trong khi các quy định về tội phạm cụ
thể và hình phạt tương ứng của Bộ luật hình sự là quy định về tội phạm hoàn
thành. Do đó, về phương diện lý luận, quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chứa đựng nhiều yếu tố đặc thù, phức
tạp hơn so với quyết định hình phạt trong trường hợp tội phạm hoàn thành. Vì
vậy, để có thể xây dựng, hoàn thiện và áp dụng thống nhất các quy định của
pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt trong hai trường hợp của
tội phạm chưa hoàn thành này đòi hỏi phải làm rõ các vấn đề cơ bản như: khái
niệm, các đặc điểm, yêu cầu (nguyên tắc) và ý nghĩa của nó.
1.1. KHÁI NIỆM QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP
CHUẨN BỊ PHẠM TỘI, PHẠM TỘI CHƯA ĐẠT
1.1.1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt
Trong khoa học pháp lý thế giới, chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa
đạt được gọi chung với những tên như “tội phạm chớm nở” (inchoate crime)
hoặc “tội phạm sơ bộ” (preliminary crime) và được hiểu là “hành vi bị coi là
tội phạm nhưng không gây ra thiệt hại thực tế, với điều kiện thiệt hại nó có
thể gây ra là thiệt hại mà pháp luật muốn ngăn chặn” [58, p.56]. Hiện nay,
việc phân định rạch ròi giữa chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt được đặt
ra trong lý luận về các giai đoạn phạm tội. 10
Ở các nước theo truyền thống pháp luật Anh - Mỹ, việc thực hiện tội
phạm thông thường về lý thuyết được chia làm bốn giai đoạn như sau: 1) Ý
định phạm tội (Intention), 2) Chuẩn bị phạm tội (Preparation), 3) Thực hiện
tội phạm (Implementation), 4) Tội phạm hoàn thành (Accomplishment). Trong
giai đoạn thực hiện tội phạm có thể diễn ra ngoại lệ là “nỗ lực bất thành”

hiện tội phạm cố ý trong đó người phạm tội tìm kiếm công cụ,
phương tiện phạm tội vạch kế hoạch thực hiện tội phạm, rủ rê
người khác cùng phạm tội hoặc có những hành vi khác nhằm tạo
ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng
chưa bắt đầu thực hiện được hành vi khách quan được quy định
cấu thành tội phạm [25, tr.161].
Hay có quan điểm chỉ ra lý do của việc dừng lại, theo đó: “chuẩn bị
phạm tội là (hành vi) tạo ra điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm cụ
thể được quy định trong Bộ luật hình sự nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội
phạm đó thì phải dừng lại vì nguyên nhân ngoài ý muốn” [15, tr.47].
Đặc biệt, có quan điểm mở rộng không chỉ nêu hành vi, mà còn cả việc
tìm kiếm những người đồng phạm, cấu kết với nhau, cũng như nguyên nhân
của việc dừng lại. Theo đó,
Chuẩn bị phạm tội là hành vi tìm kiếm hoặc sửa soạn công
cụ, phương tiện thực hiện tội phạm, cũng như tìm kiếm những
người đồng phạm, cấu kết với nhau hoặc cố ý tạo ra những điều
kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm, nhưng tội phạm đã không
được thực hiện đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của
người phạm tội [6, tr.443]; v.v
Như vậy, chuẩn bị phạm tội là hành vi tiền đề của tội phạm, là bước
thể hiện đầu tiên ra ngoài thế giới khách quan của ý định phạm tội. Trong
giai đoạn này người phạm mới chỉ chuẩn bị các điều kiện để tội phạm được
tiến hành thuận lợi chứ chưa thực hiện hành vi khách quan của tội phạm. Tuy 12
mới “chớm nở” nhưng chuẩn bị phạm tội lại nguy hiểm ở chỗ thể hiện mong
muốn, sự cố ý cao độ đến mức “rắp tâm” thực hiện tội phạm.
Trong khi đó, phạm tội chưa đạt được các từ điển pháp lý định nghĩa
như sau: “Phạm tội chưa đạt là (chủ thể) đã cố ý thực hiện tội phạm nhưng vì

hiện những mức độ khác nhau trong việc thực hiện ý định phạm tội. Tuy
nhiên, chúng có chung một đặc điểm là các dạng tội phạm chưa hoàn thành.
Được gọi chung là các giai đoạn của việc thực hiện tội phạm nhưng
thực tế chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chỉ có ở các trường hợp phạm
tội do cố ý. Sở dĩ như vậy là bởi vì trong tội phạm vô ý, người phạm tội
không nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội, không lường trước được
hậu quả nguy hiểm của hành vi và cũng không mong muốn cho hậu đó xảy ra
nên không thể có sự chuẩn bị hay nỗ lực tiến hành hành vi nguy hiểm cho xã
hội. Chỉ trường hợp phạm tội do cố ý thì người phạm tội mới nhận thức rõ
ràng về tính nguy hiểm của hành vi, mong muốn đạt được hậu quả của tội
phạm nên mới có sự chuẩn bị và nỗ lực thực hiện tội phạm.
Trong khoa học pháp lý, các nhà khoa học - luật gia luật hình sự Việt
Nam cũng đều thừa nhận rằng chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chỉ có
trong trường hợp phạm tội do cố ý. GS.TSKH. Lê Văn Cảm đã nhận định:
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước phát triển theo
một trình tự nhất định mà tội phạm trải qua, được thể hiện bằng
việc thực hiện các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội
phạm tương ứng và bằng mức độ khác nhau của việc thể hiện sự cố
ý phạm tội của chủ thể [6, tr.441].
GS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa lại cho rằng: “Các giai đoạn thực hiện tội
phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ý, bao gồm chuẩn bị phạm tội,
phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành”[12, tr.66]. Tương tự, cùng quan
điểm như vậy, TS. Trịnh Tiến Việt định nghĩa: “Các giai đoạn phạm tội là 14
những bước trong quá trình thực hiện tội phạm do cố ý và bao gồm chuẩn bị
phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành” [46, tr.126]; v.v…
Do đó, tính chất cố ý trong mặt chủ quan của tội phạm ở giai đoạn
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt còn thể hiện ở nguyên nhân khiến tội

mỗi quốc gia, trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm
tội chưa đạt có thể được xác định theo quy định về các tội phạm tương ứng
hoặc quy định riêng.
* Chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chỉ có trong các tội phạm do cố ý
Như đã phân tích ở trên, chỉ khi cố ý phạm tội thì người phạm tội mới
có sự chuẩn bị, cố gắng để việc thực hiện tội phạm được diễn ra thuận lợi;
cũng chỉ khi cố ý phạm tội thì mới có mong muốn, mục đích phạm tội và thực
tế xảy ra trường hợp không đạt được mục đích, mong muốn đó.
* Trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, hậu quả của
tội phạm chưa xảy ra
Như vậy, mặc dù hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thể hiện
sự hiện thực hóa ý định phạm tội ở những mức độ khác nhau nhưng chúng đều
chưa hoàn thành tội phạm đó. Người phạm tội có thể tích cực chuẩn bị, cố gắng
tiến hành tội phạm nhưng đều không thực hiện được đến cùng, mục đích của
việc phạm tội không đạt được. Hậu quả của tội phạm chưa xảy ra chính là đặc
thù để phân biệt chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt với tội phạm hoàn thành.
* Sự “dang dở” của chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt đã do
nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội
Như đã đề cập ở trên, lỗi cố ý thể hiện ở chuẩn bị phạm tội, phạm tội
chưa đạt bởi việc người phạm tội mong muốn thực hiện tội phạm đó. Bởi vì
hậu quả của tội phạm chưa xảy ra nên chính mong muốn chủ quan đó của
người phạm tội mới thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Nếu
như người phạm tội không còn mong muốn thực hiện tội phạm nữa thì tính 16
nguy hiểm cho xã hội của hành vi bị triệt tiêu. Do đó, chỉ trường hợp tội phạm
chưa hoàn thành được vì lý do khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội
rõ ràng thực sự nguy hiểm cho xã hội và cần xử lý về hình sự ngay cả khi
không gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội.

phạt không được đặt ra về mặt lập pháp mà chỉ là sự thừa nhận về mặt thực
tiễn và trong các nghiên cứu lý luận. Theo nhận thức thông thường, quyết
định hình phạt được hiểu là việc Tòa án lựa chọn, áp dụng đối với người bị
kết án loại và mức chế tài hình sự tương ứng hành vi phạm tội của họ theo
quy định của pháp luật hình sự. Đó cũng là nhận thức về cốt lõi của khái niệm
quyết định hình phạt trong khoa học luật hình sự. Tuy nhiên, về nội hàm,
ngoại diên của khái niệm này một cách chính xác thì giữa các nhà khoa học
Việt Nam vẫn còn một số điểm chưa thống nhất. Cơ bản các quan điểm hiện
nay theo hai trường phái:
Trường phái thứ nhất cho rằng quyết định hình phạt bao gồm việc
quyết định hình phạt chính, quyết định hình phạt bổ sung, quyết định biện
pháp chấp hành hình phạt và quyết định các biện pháp tư pháp (với mục đích
thay thế hoặc hỗ trợ cho hình phạt). Thậm chí, có quan điểm còn cho rằng
quyết định hình phạt là quyết định biện pháp xử lý đối với người phạm tội,
nghĩa là bao gồm cả việc quyết định lựa chọn hình phạt, mức hình phạt,
quyết định biện pháp tư pháp hoặc quyết định các biện pháp tha miễn trong
luật hình sự. Các quan điểm theo trường phái này thể hiện trong các nghiên
cứu như: Sách tham khảo “Trách nhiệm hình sự và hình phạt” do GS.TS.
Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Hà Nội, 2001; Luận án tiến sĩ luật học “Quyết
định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Dương Tuyết Miên,
Hà Nội, 2003, sau đó là sách chuyên khảo năm 2007; Giáo trình “Kỹ năng
xét xử vụ án hình sự” của PGS.TS. Nguyễn Văn Huyên chủ biên, Hà Nội,
2006; v.v [13, tr.65].

Trích đoạn Một số tồn tại, hạn chế của việc quyết định hỡnh phạt trong Yờu cầu của việc hoàn thiện quy định của Bộ luật hỡnh sự Việt Nội dung hoàn thiện quy định của Bộ luật hỡnh sự Việt Nam về
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status