I HC QUC GIA H NI
PHM TRANH TụNG TRONG XéT Xử
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(TRÊN CƠ Sở Số LIệU THựC TIễN ĐịA BàN TỉNH ĐắK NÔNG)
TRANH TụNG TRONG XéT Xử
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(TRÊN CƠ Sở Số LIệU THựC TIễN ĐịA BàN TỉNH ĐắK NÔNG)
Chuyờn nga
nh:
M s: 60 38 01 40
- 2015 L
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn chưa được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn
trong Luận văn đảm bảo tính chín xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa luật xem xét để
cho tôi có thể bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phm
MC LC
TRANH T A BNH
38
2.1. QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TRANH TỤNG TRONG
XÉT XỬ 38
2.1.1. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về tranh tụng trong xét xử
trước 2003 38
2.1.2. Qui định của Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về tranh tụng
trong xét xử 43
2.2. THỰC TIỄN TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ TẠI TỈNH
ĐẮK NÔNG 50
2.2.1. Một số đặc điểm tình hình kinh tế - Xã hội và tổ chức bộ máy
của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông 50
2.2.2. Tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông 53
2.2.3. Những ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, xã hội, tổ chức ảnh
hưởng đến chất lượng tranh tụng trong xét xử 54
2.2.4. Tình hình xét xử từ năm 2010 – 2014 trên địa bàn Tỉnh Đắk Nông 56
2.2.5. Tình hình tham gia tranh tụng của luật sư tại phiên tòa ở Đắc Nông 60
2.2.6. Một số phiên toà điển hình của việc xét xử theo hướng tranh
tụng tại Đắk Nông 62
2.3. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ 66
: NG GI
U QU TRANH T
V 70
3.1. SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRANH TỤNG
TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ 70
3.1.1. Bất cập qui định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về
nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử 70
DANH MNG
S hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1:
Thống kê số liệu Cán bộ Công chức TAND tỉnh Đắk
Nông tính đến ngày 10/07/2014
54
Bảng 2.2:
Số vụ án được xét xử
56
Bảng 2.3:
Số bị cáo được xét xử
57
Bảng 2.4:
Các đối tượng là người chưa thành niên và bị truy tố đến
khung hình phạt đến tử hình
60
Bảng 2.5:
Số vụ, việc do cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu
61
Bảng 2.6:
Số lượng tham gia của luật sư tại phiên tòa
61
toàn thể nhân dân ta đang hướng tới.
Trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, việc xét xử và ra các
bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật có ý nghĩa quyết định và góp
phần phát huy được vai trò tích cực là một bộ phận cấu thành không thể thiếu 2
trong hệ thống các biện pháp tác động của Nhà nước và xã hội đến tội phạm.
Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển toàn diện của đất nước trên các mặt
chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và qua thực tiễn áp dụng, nhiều quy định về
tranh tụng trong xét xử theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng của
BLTTHS năm 2003 vẫn còn một số bất cập và hạn chế như: chưa đưa ra định
nghĩa pháp lý của khái niệm tranh tụng tại phiên tòa, những quy định cụ thể
của tranh tụng tại phiên tòa đồng thời cần bổ sung quy định của BLTTHS
sự với nội dung tăng cường việc tranh tụng tại phiên tòa v.v
Một số tồn tại và hạn chế nêu trên đã gây ra những vướng mắc, lúng
túng và có không ít trường hợp áp dụng còn chưa thống nhất các quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự trong hoạt động xét xử của Tòa án các cấp nhất
là về tranh tụng trong xét xử vụ án hình sự. Mặt khác, trong thực tiễn khi xét
xử các vụ án Hình sự do chưa đánh giá hết vai trò, chức năng, công dụng
của việc tranh tụng tại phiên tòa, nên các Tòa án; những người tham gia tố
tụng còn ít quan tâm.
Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp
theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-
NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020;
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra yêu cầu "Nâng cao chất lượng hoạt động
của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét
TSKH Lê Cảm và TS Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên "Cải cách tư
pháp ở Việt Nam trong gia đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền", Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà nội, 2004. Tống Anh Hào "Về tranh tụng tại phiên
tòa Hình sự" trong tạp chí Tòa án số 5/2003; Hồ Nguyễn Quân "Một số giải 4
pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa" trong tạp chí Tòa
án số 1/2014; PGS-TS Trần Văn Độ "Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa"
Trong tạp chí khoa học pháp lý số 4/2004; Hồ Nguyễn Quân "Một số giải
pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa Hình sự" trong Tạp chí
Tòa án số 01/2004. Nguyễn Thị Tuyết "Kiểm sát viên tham gia tranh tụng
tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp" trong tạp chí Tòa án
số 04/2010; v.v
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta đã
có một số công trình nghiên cứu cơ bản về các giải pháp nâng cao chất lượng
về tranh tụng tại phiên tòa hình sự còn đối với việc nghiên cứu một cách toàn
diện về tranh tụng trong xét xử theo luật Tố tụng Hình sự Việt Nam thì chưa
có công trình nào đề cập đến.
Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho phép khẳng
định việc nghiên cứu đề tài "Tranh tụng trong xét xử theo Luật t tụng
Hình sự Việt Nam (trên cơ sở s liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông)" là
đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn.
3. Mhim v u ca lu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về
tranh tụng trong xét xử dưới khía cạnh lập pháp tố tụng hình sự và áp dụng
chúng trong thực tiễn, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện
các quy định về tranh tụng trong xét xử theo luật tố tụng hình sự Việt Nam,
cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc tranh tụng trong
các vụ án Hình sự của các Tòa án nhân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp
tỉnh thuộc tỉnh Đắk Nông và những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả
tranh tụng tại phiên tòa Hình sự trong thực tiễn. 6
Luận văn cũng có tham khảo những bài học kinh nghiệm lập pháp một
số nước trong khi nghiên cứu tranh tụng trong xét xử.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn việc tranh tụng tại các
phiên tòa Hình sự trong 05 năm (2010-2014) thuộc Tòa án nhân dân hai cấp
trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.
u
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền, về vấn đề cải cách tư pháp.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp
phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh để tổng hợp các tri thức khoa
học và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
5. Nhm ma lu
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương
diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ
một luận văn thạc sĩ luật học về tranh tụng trong xét xử, mà trong đó giải
quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới tranh
tụng trong xét xử theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam. Những điểm mới cơ
bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học trong và ngoài nước về Tranh tụng
trong xét xử để xây dựng nên khái niệm tranh tụng, tranh tụng trong xét xử vụ
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả
tranh tụng trong xét xử vụ án hình sự. 8
Chương 1
1.1. KHÁI QUÁT VỀ MÔ HÌNH TỐ TỤNG TRANH TỤNG
1.1.1. a
Mô hình tố tụng hình sự của một Quốc gia được thể hiện trong Luật Tố
tụng hình sự của Quốc gia đó phản ánh cách thức giải quyết vụ án hình sự, từ
việc xác định, chứng minh tội phạm đến phán quyết về tội phạm và trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Mô hình tố tụng hình sự phụ thuộc vào
cơ sở kinh tế- chính trị- xã hội và nền pháp luật cũng như năng lực của các cơ
quan tiến hành tố tụng mỗi Quốc gia. Đối với những nước theo hệ thống pháp
luật Common Law thì việc tìm đến sự thật khách quan của vụ án được coi là
mục tiêu tối quan trọng và các Cơ quan tiến hành tố tụng có địa vị tích cực,
chủ động trong quá trình tìm kiếm sự thật đó. Tuy cũng hướng đến mục tiêu
tìm đến sự thật khách quan nhưng các nước theo dòng pháp luật Civil Law lại
đặc biệt coi trọng đến quyền con người và địa vị bình đẳng giữa các bên trong
quá trình tố tụng.
Khi nghiên cứu về luật so sánh cho mô hình tố tụng tranh tụng được
tìm thấy ở các nước thuộc hệ thống Common law, trong phần trình bày của
mình tại Nhà pháp luật Việt – Pháp, bà Elisabeth Pelsez cho rằng mô hình tố
tụng đầu tiên trong lịch sử phát triển của xã hội là tố tụng tranh tụng. Bà nhấn
mạnh rằng các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật đều nhận định tố tụng tranh
tụng đã được áp dụng tại Hy Lạp cổ đại và được đưa tới La Mã với tên gọi
“thủ tục hỏi đáp liên tục”. Anh quốc luôn được xem là quê hương của hệ
do nguyên đơn khởi xướng và thẩm phán không tự động điều tra hay xét xử
một vụ án nào vì tất cả các vụ kiện đều được coi là tranh chấp giữa những 10
người tranh tụng. Trong quá trình xét xử, cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ
ngang bằng nhau, hai bên tranh tụng trước toà và thẩm phán sẽ xem xét và
quyết định xem ai thắng kiện. Và dần dần khi xã hội phát triển đến một chừng
mực nào đó và nhà nước buộc phải phát huy vai trò của mình thì kể cả khi
không cần có sự khởi xướng của nguyên đơn, nhà nước vẫn có thể truy tố một
kẻ nào đó ra trước toà và giữa họ sẽ diễn ra một quá trình tranh luận để đi tìm
sự thật khách quan của vụ án, đó chính là hình ảnh của hệ tố tụng tranh tụng
ngày nay. Như vậy, để có được mô hình tố tụng hình sự tranh tụng như hiện
nay, lịch sử của tố tụng hình sự đã phải trải qua một thời gian khá dài với rất
nhiều thử thách, thăng trầm và người ta vẫn đang bàn luận về ưu, nhược điểm
của hệ tố tụng này nhưng đa số điều thừa nhận tính ưu việt của mô hình tố
tụng tranh tụng so với các mô hình tố tụng hình sự khác.
Trên thế giới, hiện đang tồn tại nhiều loại mô hình tố tụng khác nhau,
trong đó có hai mô hình tố tụng chính là: Mô hình tố tụng thẩm vấn (xét hỏi)
và mô hình tố tụng tranh tụng. Mô hình tố tụng hình sự là khái niệm khoa học
với những tiêu chí nhất định để xác định Luật tố tụng hình sự một quốc gia
thuộc mô hình tố tụng hình sự nào. Những tiêu chí đó bao gồm: Thứ nhất, về
mục tiêu và phương pháp tố tụng sử dụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Các mô hình tố tụng đều có chung một mục đích là tìm ra sự thật khách quan
của vụ án. Tuy nhiên, mô hình tố tụng thẩm vấn chủ yếu áp dụng phương
pháp xét hỏi một chiều để tìm ra chân lý. Còn mô hình tố tụng tranh tụng lại
áp dụng phương pháp đối đáp hai chiều, một cách bình đẳng để tìm ra bên có
lý hơn; Thứ hai, về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng.
Đối với mô hình tố tụng hình sự tranh tụng, địa vị của người bị tạm giữ, bị
Ưu điểm của mô hình tố tụng tranh tụng thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Mô hình tố tụng tranh tụng có một quy trình tố tụng công bằng, nhất 12
là trong giai đoạn xét xử với vai trò bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào
chữa. Cả hai chủ thể này đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong suốt quá
trình tố tụng. Ở giai đoạn tiền xét xử, họ có quyền như nhau trong việc điều
tra, thu thập chứng cứ. Ở giai đoạn xét xử, chứng cứ của họ đều được đưa ra
để thẩm tra trước Tòa. Từ góc độ tố tụng, họ đều có quyền tác động như nhau
tới phiên xét xử, có quyền lựa chọn nhân chứng để thẩm tra Tố tụng tranh
tụng được biết đến khi tính ưu việt của nó là không chỉ đề cao quyền con
người mà còn phát huy tối đa tinh thần dân chủ. Tại các nước theo hệ tranh
tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng không bao giờ đứng trên và có ưu thế trội
hơn bên gỡ tội mà giữa họ có một vị thế ngang bằng nhau, nhà nước và công
dân đều có quyền và nghĩa vụ bình đẳng. Mô hình tố tụng tranh tụng đề cao
dân chủ, công dân mà cụ thể là bị cáo cũng có quyền điều tra, thu thập chứng
cứ để gỡ tội cho mình giống như là hoạt động của một công tố viên thu thập
chứng cứ để buộc tội họ. Tại phiên toà xét xử, công tố viên và luật sư bào
chữa tranh cãi với nhau một cách dân chủ cả về nội dung và hình thức. Đây
chính là ưu điểm nổi bật của hệ tranh tụng so với hệ thẩm vấn – nơi mà phiên
toà thường diễn ra một chiều theo hướng dành toàn bộ ưu thế cho viện công
tố khi kết tội bị cáo.
Với đặc điểm là toà án chỉ đóng vai trò trung gian như một trọng tài,
thẩm phán ở các nước theo hệ tranh tụng không được tiếp cận với hồ sơ vụ
án và không tham gia thẩm vấn. Do các bên được tự do trong việc thu thập
và xuất trình chứng cứ, tự do trong việc thẩm vấn và tranh tụng tại phiên toà
nên tố tụng tranh tụng đảm bảo được tính vô tư khách quan khi đưa ra phán
quyết [39, tr.26]. Người ta cũng cho rằng phán quyết mà các vị thẩm phán
của mô hình tố tụng tranh tụng đưa ra là một phán quyết rất công bằng. Xin
cảnh sát phải lập chứng cứ hay có một tuyên bố có tính chất thề thốt. Bị can
nhất thiết phải được thông báo chính xác về các trách nhiệm và tất cả các 14
quyền hiến định, cũng như các bảo đảm, trong đó quan trọng nhất là một số
quyền mà quyết định Miranda của toà án Warren đã tuyên năm 1966. ở một
vài tiểu bang của Mỹ còn đòi hỏi phải thông báo cho bị can về các quyền
được ghi trong đạo luật về nhân quyền như: quyền được xét xử nhanh chóng
và quyền được đối chất với người làm chứng chống lại bị can [10, tr.5-6]. Tại
phiên toà, bị cáo có quyền tự bào chữa cho mình hoặc thông qua luật sư bào
chữa để thực hiện việc tranh cãi với công tố viên và không ai bị coi là có tội
khi chưa có một phán quyết của toà án.
Với sự công bằng của quy trình tố tụng, mô hình tố tụng tranh tụng thể
hiện ở mức độ cao hơn sự tôn trọng các quyền con người, quyền cơ bản của
công dân. Vai trò của Luật sư giúp giảm đi sự lạm quyền của các cơ quan tiến
hành tố tụng. Điều này hết sức quan trọng bởi vì quá trình tố tụng hình sự là
một quá trình hết sức nhạy cảm mà ở đó quyền cơ bản của công dân rất dễ bị
vi phạm. Cũng chính vì vậy, các học giả có nhận định chung là trong mô hình
tố tụng tranh tụng, quyền được suy đoán vụ tội của người dân được tôn trọng
hơn so với mụ hình tố tụng hình sự khác.
- Mô hình tố tụng tranh tụng hạn chế tối đa việc làm oan người vô tội
Xuất phát từ tính chất dân chủ, khách quan, công bằng mô hình tố tụng
tranh tụng luôn mở ra cơ hội cho các bên và kết quả tranh tụng tại toà án là
căn cứ để tòa án ra phán quyết nên nó hạn chế đến mức tối đa các trường hợp
kết án oan người không phạm tội. Hệ quả này bắt nguồn từ việc tố tụng tranh
tụng đề cao quyền tự bào chữa của bị can, bị cáo và không có sự phân biệt đối
xử giữa công tố viên và luật sư. Mặt khác, giai đoạn điều tra chỉ thực sự bắt
đầu khi phiên toà tuyên bố khai mạc nên các bên còn rất nhiều cơ hội để bảo
vệ quan điểm của mình đặc biệt là cơ hội sẽ rất rộng mở đối với bên bị buộc
tranh tụng là hạn chế đến mức tối đa việc kết án oan người vô tội nhưng mặt
trái của ưu điểm này lại là một nhược điểm rất lớn của nó là việc dễ bỏ lọt tội 16
phạm. Cáo trạng do viện công tố thiết lập để truy tố một kẻ nào đó không bao
giờ được bảo vệ một cách dễ dàng tại mỗi phiên toà cho nên nếu như cáo
trạng đó truy tố kẻ phạm tội là chính xác thì cũng có nhiều khi các cơ quan tư
pháp phải bó tay nhìn kẻ phạm tội nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.
- Mô hình tố tụng tốn kém
Người ta thường nói “một nền tư pháp mạnh là một nền tư pháp tốn
kém”, với đòi hỏi nội tại của mô hình tố tụng tranh tụng nó tốn kém không chỉ
về sức lực, tiền bạc mà còn cả về thời gian. Do khi mở phiên tòa mới bắt đầu
là giai đoạn điều tra nên kể từ khi phiên toà khai mạc cho đến khi kết thúc,
các bên đều sẽ phải bỏ ra không ít thời gian và công sức để tham dự phiên tòa.
Sự tốn kém về thời gian sẽ kéo theo rất nhiều sự tốn kém khác của các bên
trong tiến trình xét xử vụ án. Hệ tố tụng tranh tụng không chỉ rút của ngân
sách nhà nước một khoản chi phí không nhỏ mà còn là một hệ tố tụng –
không phải là chỗ dựa cho người nghèo. Bởi ở hệ tố tụng này, mỗi một vụ án
hình sự hầu như đều có luật sư tham gia và chi phí thuê luật sư ở các nước
này rất đắt đỏ vì thế sẽ là một bất lợi rất lớn cho người nghèo không có tiền
thuê luật sư giỏi.
- Vai trò của thẩm phán và hội thẩm ít được phát huy
Do người có nhiệm vụ xét xử tham gia một cách thụ động vào phiên tòa
và lại là người không chuyên nghiệp, không có kiến thức pháp luật (Bồi thẩm
đoàn) nên vô hình chung gây ra phản tác dụng đối với chính những ưu điểm
của mô hình tố tụng này. Công tố viên và Luật sư là người chi phối hoàn toàn
quá trình tố tụng tranh tụng. Thực tế là họ không có nghĩa vụ tìm ra sự thật
khách quan mà chủ yếu thực hiện chức năng, trách nhiệm tố tụng của mình.
Trách nhiệm của bên công tố là buộc tội, còn trách nhiệm của bên bào chữa là
oan người vô tội, đảm bảo công lý, công bằng là trách nhiệm không chỉ thuộc
về các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mà còn là quyền của