Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn t - Pdf 33

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN DUY PHNG

những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự
theo luật tố tụng hình sự việt nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN DUY PHNG

những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự
theo luật tố tụng hình sự việt nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. TRNH TIN VIT

H NI - 2015



PHÂN BIỆT NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ
VỤ ÁN HÌNH SỰ VỚI NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN
QUAN KHÁC TRONG LUẬT HÌNH SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM..................................................................... 12

1.2.1. Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với
căn cứ khởi tố vụ án hình sự ............................................................ 12
1.2.2. Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với
chế định miễn trách nhiệm hình sự .................................................. 16
1.2.3. Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với
loại trừ trách nhiệm hình sự ............................................................. 17
1.2.4. Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với
với các trường hợp không xử lý hình sự ........................................... 19


1.3.

KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM
1945 ĐẾN NAY .............................................................................. 20

1.3.1.

Giai đoạn từ Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước pháp
điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 1988 ..... 20

1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm

chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác ....................... 48
2.2.

CÁC QUY ĐỊNH KHÁC CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG CĂN CỨ
KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ ............................... 48

2.3.

THỰC TIỄN ÁP DỤNG NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK .... 52

2.3.1. Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… trên địa bàn tỉnh
Đắk Lắk ........................................................................................... 52
2.3.2. Thực tiễn áp dụng chế định những căn cứ không được khởi tố vụ
án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ............................................... 54
2.3.3. Một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản .......................... 56
Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG
ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ ... 65
3.1.

SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ NHỮNG
CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ .................. 65

3.1.1. Về phương diện thực tiễn................................................................. 65
3.1.2. Về phương diện lý luận.................................................................... 67
3.1.3. Về phương diện lập pháp ................................................................. 70
3.2.

Trang
41

Bảng 2.2: So sánh độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một
số nước

42

Bảng 2.3: Phân bố dân số trên địa bàn các huyện ở thành phố
Buôn Ma Thuột và một số thị trấn, huyện lỵ ở tỉnh
Đắk Lắk

53

Bảng 2.4: Tổng hợp số vụ án được đưa ra khởi tố và số vụ án
không đưa ra khởi tố trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ
năm 2010 đến 2014

55


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta xác định một trong
những phương hướng trọng tâm của công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng
nhà nước pháp quyền XHCN là:
…Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù
hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân

việc áp dụng đúng đắn và chính xác các quy phạm của các quy định này sẽ
góp phần nâng cao hiệu quả của của việc thực hiện các quy định của luật tố
tụng hình sự, đấu tranh phòng và chống tội phạm có hiệu quả, củng cố và tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của
công dân bằng pháp luật tố tụng hình sự. Đặc biệt, hoàn thiện các quy định
định này còn góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày
02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự cũng là một vấn đề rất
rộng lớn và phức tạp. Cho đến nay, chưa có nhiều công trình nghiên cứu, các
bài viết về vấn đề này, vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất bởi lẽ chưa đi
sâu vào bản chất của nó, chưa nghiên cứu một cách toàn diện về riêng một
điều luật cụ thể và các điều luật có liên quan hay áp dụng trong thực tiễn điều
tra, truy tố, xét xử về vấn đề này. Hiện nay, trên địa bàn cả nước nói chung,
địa bàn tỉnh Đắk Lắk nói riêng, các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp nhiều
khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự,
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về những căn cứ không được khởi tố vụ án
hình sự như khái niệm, nội dung, những căn cứ để không được khởi tố vụ án
hình sự, v.v... Theo đó, hiện tượng oan, sai hay bỏ lọt tội phạm, nhầm lẫn giữa

2


những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự với loại trừ trách nhiệm hình
sự, với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự... để tránh oan, sai vẫn xảy ra...
Do đó, lợi ích của con người, của xã hội và của Nhà nước ở một góc độ nào
đó chưa kịp thời được bảo đảm, hiệu quả đấu tranh phòng và chống tội phạm
còn chưa cao. Nguyên nhân của tình hình trên là do có sự nhận thức về những
căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự chưa đúng và các cơ quan tiến hành
tố tụng không nghiên cứu kỹ các tình tiết của vụ án. Các quy định của Bộ luật
hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự về những căn cứ không được khởi tố vụ án

Duy Hiệp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 8(269)/2014).
Tuy nhiên, đến nay thời điểm hiện nay, vẫn chưa có tác giả nào tiếp tục
trực tiếp nghiên cứu về vấn đề này dưới góc độ một luận văn thạc sĩ luật học,
đặc biệt từ khi Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đang xin ý kiến góp ý sửa đổi,
bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, cũng như đánh giá thực tiễn áp
dụng trên địa bàn một tỉnh cụ thể có tình hình an ninh, trật tự rất cần sự ổn
định là địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, việc học viên lựa chọn đề tài: “Những
căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt
Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk)” làm luận văn
thạc sĩ luật học của mình là có tính cấp bách.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích làm sáng tỏ về mặt lý luận các trường hợp không
được khởi tố vụ án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam và việc áp
dụng vào thực tiễn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn
thiện Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta, cũng như kiến nghị giải pháp nâng
cao hiệu quả áp dụng, qua đó, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đã nêu, luận văn có phạm vi nghiên
cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn về những căn cứ không được khởi tố vụ

4


án hình sự theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, đồng thời đánh giá thực tiễn áp
dụng những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắk
Lắk, từ đó chỉ ra một số tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản để đề xuất
kiến nghị hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự, đồng thời có những kiến nghị
khác nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm.

Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta trong đấu tranh phòng và chống tội phạm,… Đồng thời dựa trên
những thành tựu của khoa học như: Triết học, Luật hình sự, Luật tố tụng hình
sự, Tội phạm học...
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân
tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, hệ thống… để tổng hợp các tri thức khoa
học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng
được nghiên cứu. Ngoài ra, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào thực tiễn xét
xử các vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng trong những năm gần
đây trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chương với tên gọi như sau:
Chương 1: Các vấn đề chung về những căn cứ không được khởi tố vụ
án hình sự theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2: Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về
những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự và thực
tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3: Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt
Nam về những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự
và những kiến nghị.

6


Chương 1
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI
TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM


trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm
để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án.
Đây là giai đoạn tố tụng đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, có tính
chất độc lập bởi giai đoạn này có nhiệm vụ riêng mang đặc thù về chủ thể tố
tụng, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng [8, tr.293]. Chủ thể có quyền khởi tố
vụ án hình sự là những cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003. Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác
định có hay không có dấu hiệu tội phạm để từ đó ra quyết định khởi tố hay
không khởi tố vụ án hình sự - những văn bản tố tụng đặc trưng của giai đoạn
này. Tuy nhiên, tính độc lập của giai đoạn khởi tố vụ án cũng như các giai
đoạn khác trong quá trình tố tụng chỉ mang tính tương đối, giữa chúng có mối
quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau; giai đoạn trước là tiền đề cần thiết cho
việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn
trước. Quyết định khởi tố vụ án là cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện các hoạt
động điều tra. Khi chưa có quyết định khởi tố vụ án thì không được tiến hành
các hoạt động điều tra cũng như áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Quyết định
khởi tố vụ án làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự giữa cơ quan có
thẩm quyền, người tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng [8, tr.294].
Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, bắt
đầu từ việc tiếp nhận thông tin về tội phạm hoặc phát hiện dấu hiệu tội phạm
và kết thúc bằng quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Kết
thúc giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có thể là sự khởi đầu cho các giai đoạn tố
tụng khác hoặc chấm dứt quá trình tố tụng. Vì thế, việc chứng minh khởi tố
vụ án hình sự là một giai đoạn vô cùng quan trọng trong hoạt động tố tụng
hình sự để quyết định việc đưa vụ án ra khởi tố hay không khởi tố.
8


Căn cứ để khởi tố vụ án hình sự có thể là sự hiện diện dấu hiệu của tội
phạm. Các dấu hiệu này có thể chưa phản ánh đầy đủ về tội phạm đã xảy ra

sự, nếu vụ án đã khởi tố thì phải hủy quyết định khởi tố đó.
Như vậy, những quy định về căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự
này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan khởi tố trong việc kết thúc giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự khi vụ án đó không có dấu hiệu phạm tội.
Đối ngược với những căn cứ khởi tố vụ án hình sự là sự hiện diện của
dấu hiệu phạm tội thì những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự là việc đưa
ra những căn cứ thể hiện những dấu hiệu không phạm tội trong vụ án. Việc
đưa ra những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự này tạo điều kiện thuận lợi
cho những cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở pháp lý để dừng việc điều tra,
khởi tố, xét xử một vụ án hình sự khi mà vụ án này không có sự hiện diện
của dấu hiệu phạm tội. Dấu hiệu phạm tội là dấu hiệu của hành vi gây nguy
hiểm cho xã hội và những kẻ có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thì được
coi là tội phạm. Vì vậy ở góc độ pháp lý ta có thể hiểu những căn cứ không
khởi tố vụ án hình sự là sự hiện diện của dấu hiệu không có tội phạm ở trong
một vụ án hình sự. Như chúng ta đã biết, theo quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999 thì:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định
trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị,
chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã
hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa [26].

10


Do đó, những hành vi của cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự

xuất hiện những căn cứ này thì nó sẽ là cơ sở pháp lý để cơ quan tiến hành tố
tụng dừng ngay việc khởi tố vụ án hình sự.
Việc ban hành quy định về những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
đã tạo nên một cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng đưa
ra các căn cứ pháp lý để giải quyết các vụ án hình sự không có sự hiện diện
dấu hiệu phạm tội, nhanh chóng kép hồ sơ của những vụ án mà không có tội
phạm hay không còn tội phạm. Những căn cứ này không chỉ giúp cho các cơ
quan tố tụng dễ dàng hơn khi đưa ra kết luận có khởi tố vụ án hình sự hay
không mà nó còn giúp cho Nhà nước tiết kiệm được kinh phí, thời gian mà
vẫn đảm bảo sự quản lý của Nhà nước với xã hội.
1.2. PHÂN BIỆT NHỮNG CĂN CỨ KHÔNG ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ
ÁN HÌNH SỰ VỚI NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN KHÁC TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VÀ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.2.1. Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự
với căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Căn cứ để khởi tố vụ vụ án hình sự và căn cứ không được khởi tố vụ
án hình sự đều là sự hiện diện của dấu hiệu để từ đó cơ quan tiến hành tố
tụng và kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án. Tuy nhiên kết quả của những căn
cứ để không khởi tố vụ án hình sự là việc chấm dứt quá trình tố tụng và kết
quả của những căn cứ khởi tố vụ án hình sự là sự khởi đầu cho các giai
đoạn tố tụng khác.
Vụ án hình sự chỉ có thể được khởi tố khi có căn cứ theo luật định.
Theo đó, căn cứ vào Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định
các căn cứ để khởi tố vụ án hình sự như sau:
Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu
của tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở
sau đây:

12




định tại khoản 1 của các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122,
131, 171 của Bộ luật hình sự). Điều này không xuất phát từ sự khác biệt nào
về bản chất của thông tin ban đầu làm cơ sở để xác định căn cứ khởi tố vụ án
so với sợ tố giác của công dân. Trường hợp đó, cơ sở để xác định căn cứ khởi
tố được coi như là sự tố giác về tội phạm của công dân. Yêu cầu của người bị
hại được hiểu như nguồn tin “tố giác của công dân”. Như vậy, những quy
định đã nêu trên là những căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.
Stt

Tiêu chí

Quy định
1

trong Bộ
luật tố tụng
hình sự

Căn cứ khởi tố

Những căn cứ không được

vụ án hình sự

khởi tố vụ án hình sự

Quy định tại Điều 100, Bộ Quy định tại Điều 107 Bộ luật
luật tố tụng hình sự năm tố tụng hình sự 2003, gồm 7


hình sự cần xác định: Có sự
việc xảy ra; và sự việc đó
có dấu hiệu tội phạm.
Căn cứ khởi tố vụ án hình
sự cũng là cơ sở để cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền
dựa vào đó mà ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự.
Không bỏ lọt người, lọt tội; Phòng ngừa việc khởi tố vụ
Phát hiện và xử lý kịp thời án hình sự một cách thiếu

3

Vai trò, ý

những hành vi vi phạm pháp chính xác, không đúng căn cứ

nghĩa

luật, bảo đảm công lý được pháp luật mang lại những hậu
thực thi, duy trì trật tự, an toàn quả xấu cho công dân và xã
xã hội đồng thời bảo vệ quyền hội.
và lợi ích của công dân.
Khi xác định có dấu hiệu tội Khi có một trong những căn cứ
phạm theo quy định tại Điều quy định tại Điều 107 Bộ luật
100 Bộ luật tố tụng hình sự tố tụng hình sự thì cơ quan có
thì cơ quan có thẩm quyền thẩm quyền ra quyết định
ra quyết định khởi tố vụ án không khởi tố vụ án hình sự;
hình sự theo quy định của hoặc nếu đã khởi tố thì phải

Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý mà bản thân người phạm tội
phải gánh chịu trước Nhà nước do việc thực hiện hành vi phạm tội. Nhà nước
có quyền áp dụng chế tài hình sự đối với người phạm tội. Hậu quả là người
phạm tội bị áp dụng biện pháp cưỡng chế (hình phạt, biện pháp tư pháp) của
Luật hình sự.
Miễn trách nhiệm hình sự là không buộc một người đáp ứng những điều
kiện nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc người đó đã thực
hiện hành vi phạm tội, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội
phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội [50, tr.97]. Bản chất
pháp lý của chế định miễn trách nhiệm hình sự là hủy bỏ hậu quả pháp lý của
việc thực hiện tội phạm khi có các căn cứ do pháp luật hình sự quy định, tức
là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của nhà nước (cơ quan Điều
tra, Viện kiểm sát, Toà án) căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ
thể để miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.
Khác với căn cứ không khởi tố vụ án là khi có dấu hiệu không phạm tội
và khi có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự thì cơ
quan khởi tố không được khởi tố vụ án hình sự, hậu quả pháp lý của nó là vụ
án hình sự sẽ làm chấm dứt giai đoạn khởi tố. Còn miễn trách nhiệm hình sự
là khi vụ án hình sự đã được đưa ra xét xử và đã có hành vi phạm tội nhưng
được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự trong những trường hợp nhất định
chứ không phải người không phạm tội. Việc miễn trách nhiệm hình sự có thể
do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng.

16


1.2.3. Phân biệt những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự
với loại trừ trách nhiệm hình sự
Nghiên cứu Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành cho thấy, thuật ngữ
“loại trừ trách nhiệm hình sự” duy nhất được sử dụng tại đoạn 2 Điều 53 Bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status