I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
V VN T
NGUYÊN TắC BảO ĐảM QUYềN BìNH ĐẳNG CủA MọI CÔNG DÂN
TRƯớC PHáP LUậT THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
V VN T
NGUYÊN TắC BảO ĐảM QUYềN BìNH ĐẳNG CủA MọI CÔNG DÂN
TRƯớC PHáP LUậT THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: GS. TS NGC QUANG
H NI - 2015
Những khái niệm có liên quan ...................................................... 5
1.1.1.
Khái niệm bình đẳng và quyền bình đẳng của mọi công dân
trước pháp luật ................................................................................ 5
1.1.2.
Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công
dân trước pháp luật .......................................................................... 9
1.2.
Cơ sở pháp lý và nội dung của nguyên tắc bảo đảm quyền
bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật trong tố tụng
hình sự.......................................................................................... 13
1.2.1.
Cơ sở pháp lý hình thành nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng
của mọi công dân trước pháp luật trong tố tụng hình sự ................ 13
1.2.2.
Nội dung của nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi
công dân trước pháp luật trong tố tụng hình sự .............................. 16
Chương 2: TÌNH HÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ THEO NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM
Những tồn tại trong thực thi pháp luật tố tụng hình sự có liên
quan đến bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật .... 46
2.2.3.
Những nguyên nhân gây nên những tồn tại trong thực hiện
nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước
pháp luật........................................................................................ 55
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÌNH ĐẲNG
CỦA MỌI CÔNG DÂN BÌNH ĐẲNG TRƯỚC PHÁP LUẬT .....59
3.1.
Quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước về thực hiện
nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân
trước pháp luật theo tinh thần cải cách tư pháp ....................... 59
3.2.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự liên quan
đến nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công
dân trước pháp luật..................................................................... 61
3.3.
Các giải pháp khác ...................................................................... 66
KẾT LUẬN ................................................................................................. 72
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Điều 14 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 (International
Covenant on Civil and Political Rights - ICCPR) đã ghi nhận:
Mọi người đều bình đẳng trước các tòa án và cơ quan tài
phán. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai
bởi một tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập
ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong
các vụ án hình sự, hoặc để xác định quyền và nghĩa vụ của người đó
trong các vụ kiện dân sự… [10].
Đây là cơ sở cao nhất về quyền bình đẳng trước pháp luật được ghi nhận
trong một trong những văn kiện quốc tế nền tảng về quyền con người. Trong
pháp luật Việt Nam, quyền bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động tố tụng
hình sự là một nội dung của quyền bình đẳng trước pháp luật - một quyền đã
được Hiến pháp Việt Nam ghi nhận tại Khoản 1 Điều 16 Hiến pháp năm
2013. Quyền bình đẳng trước pháp luật và cụ thể là bình đẳng trong hoạt động
xét xử và tố tụng hình sự được hiểu là quyền bình đẳng trong việc đưa ra các
chứng cứ, đưa ra các yêu cầu tranh luận trước tòa án và phải được tòa án tôn
trọng, tạo điều kiện. Điều 19 Bộ luật Tố tụng hình sự (Bộ luật TTHS) quy
định về bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án như sau:
Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi
của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ,
tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án.
Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó
nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án [17, Điều 19].
1
2
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi, phương pháp nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các khía cạnh lí luận về nguyên tắc bảo
đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật trong pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam thông qua quá trình phân tích, làm rõ nội dung nguyên
tắc trong từng giai đoạn tố tụng, áp dụng với từng đối tượng chủ thể tham gia
tố tụng, các quy định pháp luật cụ thể được áp dụng trong quy trình tố tụng.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu và tham khảo các ví dụ thực tiễn liên quan, các
trường hợp vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc “bảo vệ quyền bình đẳng của
mọi công dân trước pháp luật” trong quá trình tiến hành tố tụng cũng là một
mục đích của luận văn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, hệ thống hoá các công trình khoa học của các
tác giả đi trước có liên quan đến đề tài luận văn, tác giả kế thừa có chọn lọc và
phát triển ý tưởng khoa học, từ đó đưa ra những luận điểm của mình về vấn
đề nghiên cứu. Nhiệm vụ nghiên cứu mà luận án hướng tới cụ thể sau:
Một là, làm rõ những nội hàm lí luận của nguyên tắc “bảo vệ quyền bình
đẳng của mọi công dân trước pháp luật” trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Hai là, phân tích và làm rõ thực tiễn tố tụng áp dụng nguyên tắc “bảo
vệ quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật”.
Ba là, trên cơ sở lí luận và thực tiễn để khái quát các nội dung liên quan
và đề xuất các cơ chế để thực hiện nghiêm túc nguyên tắc “bảo vệ quyền bình
đẳng của mọi công dân trước pháp luật” trong pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam thời gian tới.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các lí luận về nguyên tắc “bảo vệ quyền
đẳng của mọi công dân trước pháp luật trong tố tụng hình sự.
Chương 2. Tình hình xây dựng và thực thi pháp luật tố tụng hình sự
theo nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công
dân trước pháp luật.
Chương 3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo
đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật
trong tố tụng hình sự.
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM
QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA MỌI CÔNG DÂN
TRƯỚC PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Những khái niệm có liên quan
1.1.1. Khái niệm bình đẳng và quyền bình đẳng của mọi công dân
trước pháp luật
Bình đẳng trước pháp luật là những nguyên lý của pháp luật được thể
hiện qua các quy phạm pháp luật về quyền được đối xử một cách như nhau,
công bằng giữa mọi công dân trước pháp luật, theo đó, mọi công dân thuộc
các dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội khác nhau trong
một quốc gia đều không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền, nghĩa vụ
và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật.
Lý tưởng bình đẳng dựa trên nguyên lý căn bản là con người sinh ra
đều như nhau, đều có chung dòng máu đỏ và nước mắt mặn và đều xứng đáng
được hưởng quyền lợi như nhau. Mọi ranh giới như: giai cấp, màu da, chủng
tộc, giới tính, trình độ, địa vị … không thể quyết định và thay đổi bản chất
bình đẳng giữa mọi người. Qua đó cho thấy “bình đẳng” là một nguyên lý căn
có thể hiểu, bình đẳng là sự ngang nhau về quyền và nghĩa vụ của mọi công
dân trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Khi nói đến quyền bình đẳng của mọi công dân là nói đến sự ghi nhận
quyền này trong pháp luật. Pháp luật trở thành thước đo mang tính chuẩn mực
cho sự bình đẳng bởi đỉnh cao nhất của các hệ thống lập pháp quy gọn vào hai
mục tiêu: Tự do và bình đẳng. Quyền bình đẳng là thành quả đấu tranh lâu dài
của nhân loại tiến bộ qua các thời kì lịch sử khác nhau, là một quyền cơ bản
của mọi công dân, cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản được thể chế
6
hóa trong nhiều văn kiện quốc tế và quốc gia. Điều 6 và Điều 7 Tuyên ngôn
nhân quyền năm 1948 tuyên bố “Mọi người đều có quyền được công nhận tư
cách là con người trước pháp luật ở mọi nơi”. “Mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có
bất cứ sự phân biệt nào”. Điều 26 Công ước về quyền dân sự, chính trị năm
1966 của Liên Hợp quốc (Việt Nam gia nhập Công ước này ngày 24/9/1982)
cụ thể hóa hơn về cơ chế bảo vệ quyền bình đẳng trước pháp luật như sau:
Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được
pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân
biệt đối xử nào. Về mặt này, pháp luật phải nghiêm cấm mọi sự
phân biệt đối xử và đảm bảo cho mọi người sự bảo hộ bình đẳng và
có hiệu quả chống lại những phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da,
giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm
khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân
hoặc các địa vị khác [10, Điều 26].
Dưới góc độ pháp lý, quyền con người trong đó có quyền bình đẳng trước
pháp luật là một quan hệ pháp luật mà mỗi bên tham gia quan hệ đó đều có
quyền và nghĩa vụ pháp lý. Quan hệ về bình đẳng chỉ được xác lập trên cơ sở
định tại Điều 16 “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân
biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”.
So với các quy định của các bản Hiến pháp trước đây thì quy định Hiến
pháp sửa đổi năm 2013 về quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện đầy
đủ, cụ thể hơn. Hiến pháp sửa đổi năm 2013 khẳng định bình đẳng trước pháp
luật là quyền con người theo hướng mở rộng đối tượng có quyền bình đẳng
trước pháp luật; khẳng định quyền bình đẳng trước pháp luật của mọi người
được công nhận trong tất cả lĩnh vực, bao gồm đời sống chính trị, dân sự, kinh
tế, văn hóa, xã hội. Pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, không phân biệt đối
xử đối với mọi người trong việc hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ
8
do “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác” (Điều 15 khoản
2). Công dân ở bất kỳ địa vị nào dù là cán bộ, công chức hay người lao động,
dù là người có chức, có quyền hay là một người dân bình thường đều phải
chịu trách nhiệm trước nhà nước, trước pháp luật về mỗi hành vi, mỗi việc
làm của mình. Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật. Công
dân có hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý bằng các chế tài theo quy định
của pháp luật không phân biệt chức vụ, nghề nghiệp, tuổi tác và địa vị xã hội.
Như vậy, quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật là bình
đẳng về quyền, nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật, bao hàm
cả việc bình đẳng về trách nhiệm pháp lý của công dân mà không có sự phân
biệt về giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, lứa
tuổi, chức vụ, nghề nghiệp.
1.1.2. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công
dân trước pháp luật
Nguyên tắc, theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là “những quy định,
không thể áp dụng được trong thực tế cuộc sống. Điều đó có nghĩa rằng, trước
khi xây dựng các quy phạm pháp luật trong một đạo luật nói chung, các nhà
làm luật phải đưa ra được những tiêu chí cần phải đạt được của văn bản luật
đó như: mục đích, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương châm, phương pháp điều
chỉnh v.v…, hay còn gọi là đưa ra những nguyên tắc để xây dựng quy phạm
pháp luật trong một văn bản pháp luật. Cho nên có thể hiểu, các nguyên tắc
cơ bản của tố tụng hình sự là sự thể hiện quan điểm, đường lối và chính sách
của Nhà nước ta; là những định hướng cơ bản trong xây dựng và áp dụng
pháp luật tố tụng hình sự nhằm hoàn thiện quá trình tố tụng hình sự từ khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, được vận hành một cách thống
nhất, đồng bộ trong phạm vi toàn quốc, đáp ứng yêu cầu bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; tổ chức, động viên
được các cơ quan khác của Nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và
đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào việc giải quyết vụ án hình sự nói
riêng và cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
11
Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật
là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được đưa ra làm
định hướng cho việc xây dựng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự và
thực thi các quy phạm pháp luật này trong thực tiễn liên quan đến quá trình
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Nguyên tắc này thể hiện sự bình đẳng về các
quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mọi công dân trước nhà nước, pháp luật,
là một trong những quyền tắc của nền dân chủ. Trong hoạt động tố tụng hình
sự, quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật được chi phối toàn bộ
quá trình tố tụng hình sự, từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử vụ án hình sự
liên quan đến các chủ thể tố tụng hình sự (cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng) khi phát sinh và giải quyết vụ án
1.2.1. Cơ sở pháp lý hình thành nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng
của mọi công dân trước pháp luật trong tố tụng hình sự
Cơ sở, theo Từ điển tiếng Việt, là nền tảng để tồn tại và phát triển. Cơ sở
pháp lý là nền tảng pháp lý để xây dựng các quy phạm pháp luật. Nguyên tắc
bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật trong tố tụng hình
sự cũng được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong
xây dựng các văn bản pháp luật nói chung và Luật tố tụng hình sự nói riêng.
Thắng lợi của cuộc cách mạng dân chủ nhân dân vào Tháng Tám năm
1945 đưa đến việc hình thành Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là
Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) là Nhà nước Công nông
đầu tiên ở Đông Nam Á. Ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long
trọng đọc bản tuyên ngôn độc lập tuyên bố: “Hỡi đồng bào cả nước. Tất cả
mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên
ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất
cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền
13
sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và
bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền
lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được. Có thể nói bản tuyên ngôn
độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc vào ngày 2/9/1945, mặc dù
không phải là văn bản pháp luật, nhưng là lời tuyên bố chính thức của Nhà
nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa trước toàn thể thế giới rằng, nước Việt
Nam là một nước độc lập và mọi người dân Việt Nam được sinh ra đều có
quyền bình đẳng, ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ như người dân của các
nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội. Quyền và nghĩa vụ
của công dân do Hiến pháp và luật quy định. Mọi công dân đều
bình đẳng trước pháp luật [18].
Hiến pháp năm 2013 quy định:
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con
người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội
được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và
pháp luật. Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân. Mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử
trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội [21].
Như vậy, cơ sở pháp lý để xây dựng nguyên tắc bảo đảm quyền bình
đẳng của mọi công dân trước pháp luật trong tố tụng hình sự đều xuất phát
trên cơ sở những quy định Hiến pháp (Hiến định) với tư cách đạo luật cơ bản
của nhà nước ta trong các thời kỳ khác nhau để xây dựng những quy phạm
pháp luật tố tụng hình sự trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự mà điển
hình nhất là Bộ luật tố tụng hình sự.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 là Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của
Nhà nước ta được xây dựng trên cơ sở Hiến pháp năm 1980. Tại Điều 4 của Bộ
luật tố tụng hình sự này quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi
15
công dân trước pháp luật với nội dung: “Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên
tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân
tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội
đều bị xử lý theo pháp luật” [16]. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tiếp tục
quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp
luật cũng với nội dung, mặc dù câu chữ có được bổ sung, hoàn chỉnh: “Tố tụng
hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
quyết vụ án hình sự. Khác với các hình thức tố tụng khác, tố tụng hình sự là
hình thức tố tụng do cơ quan nhà nước, mà cụ thể là cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng tiến hành để truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người đã gây nên những thiệt hại cho quyền lợi của nhà nước, xã hội,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bằng việc điều tra, xử lý về hình sự
đối với bất kỳ hành vi phạm tội của cá nhân nào. Do vậy, tố tụng hình sự
được phát sinh khi có sự gây thiệt hại đến mức phải xử lý về hình sự đối với
người có hành vi xâm hại vào quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội
và công dân.
Đối với hình thức tố tụng khác (dân sự, kinh tế, hành chính…) được
phát sinh chỉ khi có những tranh chấp giữa các bên có lợi ích hợp pháp khác
nhau cần phải được phân giải. Các chủ thể những tranh chấp này không tự
mình giải quyết được mà cần thiết phải có sự can thiệp của cơ quan tài phán
(toà án). Trên cơ sở nội dung tranh chấp về lợi ích và quy định của pháp luật
hiện hành, hoạt động tố tụng hướng vào việc phân định đúng sai để đưa ra các
quyết định phù hợp với quy định của pháp luật. Thế nhưng, đối với tố tụng
hình sự, không chỉ đơn thuần là việc việc giải quyết tranh chấp, mà Nhà nước
có trách nhiệm đứng ra giải quyết trên cơ sở pháp luật về bảo vệ quyền lợi của
nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức khi có
hành vi xâm phạm vào quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, gây nên
những thiệt hại nhất định theo quy định của pháp luật hình sự. Cơ quan điều
17
tra được Nhà nước giao nhiệm vụ thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và
người phạm tội; Viện Kiểm sát được nhà nước giao nhiệm vụ thực hành
quyền công tố, buộc tội đối với người phạm tội và Toà án với tư cách là một
bộ phận của cơ quan quyền lực tư pháp đưa ra kết luận cuối cùng về tính chất,
mức độ nguy hiểm của hành vi, loại và mức hình phạt cần được áp dụng với