ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN VĂN THẢO
CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
(TRÊN CƠ SỞ CÁC SỐ LIỆU ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƢỚC)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS TRỊNH TIẾN VIỆT
HÀ NỘI - 2013 LỜI CAM ĐOAN
AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM 9
1.1.1. An toàn công cộng, trật tự công cộng - khách thể được bảo vệ bằng luật
hình sự Việt Nam 9
1.1.2. Sự cần thiết của việc quy định các tội xâm phạm an toàn giao thông
đường bộ trong luật hình sự Việt Nam 14
1.2. KHÁI NIỆM CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 17
1.3. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
NĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ
NĂM 1999 VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ 21
1.3.1. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa
lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 21
1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi
pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 28
Chƣơng 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG
BỘ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI 35
2.1. CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 35
2.1.1. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
(Điều 202 Bộ luật hình sự) 35
2.1.2. Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 203 Bộ luật hình sự) 42
2.1.3. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông không bảo đảm an
toàn giao thông đường bộ (Điều 204 Bộ luật hình sự) 44
2.1.4. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các
phương tiện giao thông đường bộ (Điều 205 Bộ luật hình sự) 47
2.1.5. Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 206 Bộ luật hình sự) 50
3.2.1. Nhận xét chung 96
3.2.2. Nội dung kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ 100
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 105
3.3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
giao thông đường bộ, cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật
hình sự về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ 105
3.3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng
cao ý thức pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ 108
3.3.3. Tổ chức có hệ thống điều khiển hoạt động giao thông đường bộ, quản
lý phương tiện giao thông, đăng ký phương tiện giao thông đường bộ,
cấp giấy phép lái xe 109
3.3.4. Tăng cường công tác tuần tra, giám sát và xử lý kịp thời mọi vi phạm
an toàn giao thông đường bộ, xét xử nghiêm minh và kịp thời các vụ án
trong lĩnh vực này 111
KẾT LUẬN 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ và tội đua xe trái phép 56
Bảng 2.2: Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ và tội cản trở giao thông 58
Bảng 2.3: Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ và tội vô ý làm chết người 59
Bảng 2.4: Sự khác nhau giữa tội đua xe trái phép và tội tổ chức đua xe trái phép 60
Bảng 2.5: Sự khác nhau giữa tội gây rối trật tự công cộng và tội đua xe trái phép 61
Bảng 3.1: Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân
hình các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nói riêng và tình hình tai
nạn giao thông đường bộ nói chung gần đây cũng tăng rất nhanh về cả số
lượng vụ việc và mức độ nghiêm trọng đã gây ra những hậu quả lớn về người
và tài sản, làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Theo
thống kê của ủy ban An toàn giao thông Quốc gia những năm gần đây tình
hình các vụ tai nạn giao thông xảy ra nhiều đột biến trên cả ba tiêu chí (số vụ,
số người chết và số người bị thương). Ví dụ: Trong năm 2009, cả nước đã xảy
ra 12.492 vụ tai nạn giao thông, làm chết 11.516 người, bị thương 7.914
người. Trung bình mỗi ngày vẫn có 31 người chết do tai nạn giao thông.
Trong 6 tháng đầu năm 2010 cả nước đã xảy ra hơn 6.500 vụ tai nạn giao
thông, làm chết hơn 5.600 người và bị thương hơn 4.800 người. Điều rất đáng
chú ý là ngoài những con số thống kê trên còn có hơn 18.000 vụ va chạm giao
thông khiến 23.000 người bị thương. Ngoài những thiệt hại rất lớn về tính
2
mạng, xã hội và mỗi gia đình còn phải gánh chịu hậu quả nặng nề do tai nạn
giao thông gây ra Còn nửa tháng đầu năm 2013, cả nước vẫn xảy ra trên 450
vụ tai nạn giao thông, cướp đi sinh mạng của 380 người, làm bị thương 325
người. Bình quân mỗi ngày vẫn xảy ra 30 vụ tai nạn, làm chết 25 người, bị
thương 21 người. Đặc biệt, trong các ngày mùng 3, 7, 8/1, mỗi ngày xảy ra từ
40 - 45 vụ tai nạn, làm chết từ 30 - 40 người và bị thương từ 20 - 43 người.
Vẫn có nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra làm nhiều người chết và bị
thương. Đơn cử như ngày 13/1, tại km 68+560 Quốc lộ 48C thuộc xã Yên
Hòa, huyện Tương Dương (Nghệ An), đã xảy ra vụ tai nạn làm 3 người chết,
2 xe mô tô hư hỏng nặng. Cùng ngày, tại địa phận xã Kỳ Thịnh, huyện Kỳ
Sơn (Hà Tĩnh) đã xảy ra vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng làm 3 người chết
tại chỗ. Vụ tai nạn ngày 14/1, tại Quốc lộ 9D, thuộc địa bàn phường Đông
Lương, Thành phố Đông Hà (Quảng Trị) khiến 2 người chết tại chỗ [64].
Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu á thì Việt Nam mất tới
885 triệu USD/năm cho chi phí tổn thất về người và vật chất do tai nạn giao
ninh trật tự, an toàn xã hội, an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của
công dân, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ khái niệm và những dấu hiệu pháp
lý hình sự của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, nghiên cứu so
sánh với Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới và đánh giá thực tiễn xét
xử các tội phạm này trong thời gian 06 năm (2007 - 2012) trên địa bàn tỉnh
Bình Phước để thực hiện mục đích trên có ý nghĩa chính trị - xã hội và lý
luận - thực tiễn quan trọng. Đây cũng là lý do để tác giả quyết định lựa chọn
đề tài: "Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo luật hình sự
Việt Nam (trên cơ sở số liệu địa bàn tỉnh Bình Phước)" làm đề tài luận văn
thạc sĩ luật học của mình.
4
2. Tình hình nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu về
các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ ở các mức độ khác nhau,
trực tiếp và gián tiếp đã có một số công trình nghiên cứu được công bố, đồng
thời thể hiện trên ba bình diện - luận văn, luận án, sách chuyên khảo, tham
khảo, bình luận, cũng như giáo trình dành cho hệ đại học và một số bài viết
bình luận án như:
* Nhóm thứ nhất (các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học) bao
gồm: 1) Bùi Kiến Quốc, Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm
quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Thủ đô Hà Nội,
Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001; 2) Ngô Huy
Ngọc, Những biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm phạm trật tự an toàn
giao thông đường bộ tại thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, 1996; 3) Phan Huy Thái, Điều tra các vụ án vi
phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ trên địa bàn
thành phố Hà Nội - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ
luật học, Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1998; 4) Nguyễn Đắc Dũng,
Tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2010; v.v
Ngoài ra, năm 2004 có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường (Đại học
Luật Hà Nội) của TS. Trương Quang Vinh (chủ trì): Tội tổ chức đua xe trái
phép, tội đua xe trái phép và đấu tranh phòng, chống các tội này trên địa bàn
thành phố Hà Nội. Tiếp đến là một số bài viết đi sâu vào tranh luận tội danh
cụ thể, xác định lỗi của tội phạm này như: 1) ThS. Lê Văn Luật, Xác định lỗi
trong các vụ án tai nạn giao thông, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2005; 2)
ThS. Huỳnh Quốc Hùng, Một số vấn đề về định tội và định khung tăng nặng
6
trong các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2007; v.v
Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình trên cho thấy một số công
trình có phạm vi nghiên cứu rộng, các tội xâm phạm an toàn giao thông
đường bộ chỉ được đề cập riêng rẽ từng tội bằng bình luận những dấu hiệu
pháp lý hình sự và hình phạt hoặc chỉ xem xét dưới góc độ tội phạm học -
phòng ngừa cả nhóm tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công
cộng trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, trong khi đó, chưa có công
trình khoa học nào ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học đề cập đến cả nhóm
tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trên một địa bàn cụ thể là tỉnh
Bình Phước. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của
Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ,
cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng luôn có ý nghĩa về
lý luận và thực tiễn, đặc biệt phục vụ trực tiếp yêu cầu chính trị - xã hội và
đấu tranh phòng, chống các tội phạm đã nêu trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
3. Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu có hệ thống về những vấn đề pháp lý cơ bản của
các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ như: khái niệm và những dấu
hiệu pháp lý hình sự, phân biệt các tội xâm phạm an toàn giao thông đường
các tội phạm này từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, phân biệt
với một số tội khác hay có sự nhầm lẫn trong thực tiễn; làm sáng tỏ những quy
định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm an toàn giao thông
đường bộ và nghiên cứu so sánh với Bộ luật hình sự một số nước; phân tích
thông qua nghiên cứu thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bình Phước trong thời
gian 06 năm (2007 - 2012), qua đó chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập của các
8
quy định hiện hành; các sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó, cũng
như đưa ra nguyên nhân để tìm giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả áp
dụng những quy định của Bộ luật hình sự về các tội phạm này ở khía cạnh lập
pháp và việc áp dụng trong thực tiễn, đặc biệt một số giải pháp gắn liền với
việc phòng, chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Bên cạnh đó, luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục
vụ nghiên cứu và học tập môn học Luật hình sự. Một số đề xuất, kiến nghị
của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập
pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến
các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, qua đó góp phần nâng cao
hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội này hiện nay và sắp tới ở địa
bàn tỉnh Bình Phước nói riêng và cả nước nói chung.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về các tội xâm phạm an toàn giao
thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo quy định
của Bộ luật hình sự Việt Nam và Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới.
Chương 3: Thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bình Phước, hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự
quan trọng, nó gắn liền với sự nghiệp đổi mới toàn bộ nền kinh tế - xã hội ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay. Do đó, ngay từ khi giành được chính quyền,
10
Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo vệ an toàn công
cộng, trật tự công cộng bằng việc ra một số văn bản như: Điều lệ tạm thời số
329-CP ngày 17/9/1954 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý các loại vũ
khí; Nghị định số 23-CP ngày 24/02/1973 của Hội đồng Chính phủ về việc
tàng trữ và sử dụng vật liệu nổ góp phần tạo ra môi trường xã hội lành mạnh,
ổn định, bảo đảm nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế - xã hội, ổn định
cuộc sống của nhân dân. Vì vậy, hiện nay, để tiếp tục bảo đảm tốt công tác giữ
gìn an toàn công cộng, trật tự công cộng ở nước ta, đòi hỏi Đảng và Nhà nước
ta phải không ngừng đầu tư cơ sở, vật chất kỹ thuật, đào tạo đội ngũ cán bộ
quản lý có trình độ cao, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Quá trình giữ gìn bảo
đảm an toàn công cộng, trật tự công cộng cũng chính là bảo vệ tính mạng, sức
khỏe, tài sản và nhiều quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân.
Tuy nhiên, không phải mọi hành vi xâm phạm an toàn công cộng, trật
tự công cộng đều bị xử lý hình sự, việc xử lý phải trên cơ sở giáo dục, thuyết
phục mọi công dân có ý thức chấp hành, nhắc nhở, cảnh cáo, xử lý hành
chính, chúng ta chỉ xử lý hình sự đối với những trường hợp hành vi nguy
hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể hay gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội.
Vì vậy, ranh giới xác định vấn đề trách nhiệm hình sự với các trách nhiệm
pháp lý khác (dân sự, hành chính ) được phân định rõ ràng trên cơ sở tính
chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả tác hại mối
quan hệ xã hội bị xâm hại, cũng như thái độ của người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội. Thực tế cho thấy các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật
tự công cộng đã gây ra những thiệt hại không nhỏ về tài sản và tính mạng, sức
khỏe của công dân, ảnh hưởng đến trật tự ở những nơi công cộng, đến hoạt
động chung của xã hội.
Do đó, khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ an toàn công cộng,
những tội phạm tương ứng của Bộ luật hình sự.
12
Do vậy, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm
các tội phạm đang đề cập có thể định nghĩa như sau:
Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng là những hành vi nguy
hiểm cho xã hội, do những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và
đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm đến các quy định của Nhà nước về an toàn công cộng, trật tự công
cộng, gây ra những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại
về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, cũng như qua đó xâm phạm
đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công cộng.
Từ khái niệm này, có thể chỉ ra những dấu hiệu pháp lý của các tội xâm
phạm an toàn, trật tự công cộng như sau:
* Khách thể của tội phạm: Cùng với việc xâm phạm vào những quy
định của Nhà nước về an toàn, trật tự công cộng, các tội phạm ở Chương này
còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân. Song đây
không phải là khách thể trực tiếp của các tội phạm này. Tùy theo từng tội
phạm cụ thể mà khách thể trực tiếp của tội phạm là xâm phạm đến an toàn
công cộng hay trật tự công cộng.
Căn cứ vào khách thể bị xâm hại và đặc điểm pháp lý của các tội quy
định trong Chương XIX Bộ luật hình sự, chúng ta có thể chia ra thành hai
nhóm sau:
- Nhóm 1: Các tội xâm phạm an toàn công cộng;
- Nhóm 2: Các tội xâm phạm trật tự công cộng.
Những quy định về an toàn công cộng rất đa dạng, phong phú trên
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm những quy định, điều lệ, nội
quy ở những nơi công cộng trên các lĩnh vực giao thông vận tải (đường
sắt, đường bộ, đường thủy, đường không), trong lao động sản xuất, trong
quản lý vũ khí, chất cháy, chất nổ, chất độc những quy định này nhằm
14
đã bị xử lý kỷ luật hoặc bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm thì xử lý về hình sự, ví dụ: Tội đua xe trái phép (Điều 207).
* Mặt chủ quan của các tội phạm: Với các tội xâm phạm an toàn công
cộng thì đa số các tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý. Người
phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho
xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa
được; hoặc người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra
hậu quả cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
Trong khi đó hầu hết các tội xâm phạm trật tự công cộng lại được
thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức được tính chất
nguy hiểm của hành vi nhưng mong muốn hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu
quả xảy ra. Ngoài ra, động cơ phạm tội của các tội phạm được quy định
trong Chương này rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong
cấu thành tội phạm.
* Chủ thể của các tội phạm: Chủ thể của các tội phạm này là những
người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, có một số tội phạm đòi hỏi người thực hiện tội phạm phải có dấu
hiệu chủ thể đặc biệt, ví dụ: người điều khiển phương tiện giao thông; tội điều
động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông; v.v
1.1.2. Sự cần thiết của việc quy định các tội xâm phạm an toàn giao
thông đƣờng bộ trong luật hình sự Việt Nam
Giao thông vận tải đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, từ
việc giúp cho các quá trình sản xuất diễn ra liên tục và bình thường; phục vụ
nhu cầu đi lại của nhân dân được thuận lợi hơn, cũng như là nhân tố quan
trọng trong phân bố sản xuất và dân cư. Đặc biệt, giao thông vận tải còn bảo
đảm các mối liên hệ kinh tế, xã hội giữa các địa phương, từ đó thúc đẩy hoạt
động kinh tế, văn hóa, đặc biệt là tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh
15
những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong công tác lãnh đạo, quản lý; tổ chức
quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản này.
Việc xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông
nói chung và các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nói riêng theo
quy định của Bộ luật hình sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra
đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm góp phần ngăn chặn, phòng ngừa
và kiềm chế tai nạn giao thông, xử lý các vi phạm ở mức độ nguy hiểm cao
cho xã hội, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, tính mạng, sức khỏe của
công dân và các thiệt hại vật chất cho xã hội và công dân.
Thực tiễn xét xử các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trong
thời gian vừa qua cho thấy mặc dù đã được sửa đổi và đã có văn bản hướng
dẫn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng trong quá trình điều tra,
truy tố và xét xử các vụ án này, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn thường gặp
những vướng mắc, lúng túng trong việc xác định tội danh; áp dụng các tình
tiết định khung tăng nặng hình phạt; đường lối xử lý cụ thể, đặc biệt là tội
phạm hay xảy ra trên địa bàn cả nước nói chung, địa bàn tỉnh Bình Phước nói
riêng là tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ;
v.v Nguyên nhân của tình trạng này một phần do các quy định của pháp luật
hiện hành về các tội phạm này (Bộ luật hình sự và một số văn bản pháp luật
khác có liên quan) đã bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp với thực tiễn.
Mặt khác, các văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền về áp dụng
các quy định của Bộ luật hình sự cũng chưa đầy đủ, rõ ràng dẫn đến sự nhận
thức và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn giữa các cơ quan tiến hành
tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án, trong khi đó, việc bảo đảm an
toàn công cộng, trật tự công cộng luôn luôn được đặt ra trong mọi điều kiện,
hoàn cảnh vì sự yên bình của xã hội, sự an toàn của tính mạng, sức khỏe và
tài sản của công dân.
17
Như vậy, trên cơ sở này, các nhà làm luật Việt Nam đã quy định thành
quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an
ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích
hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp
luật xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, có thể coi quy định về tội phạm nêu trên là quy định "có tính
khoa học thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm"[14].
Tuy nhiên, khái niệm tội phạm trong định nghĩa lập pháp mới chỉ ghi nhận bốn
đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản trong nội hàm khái niệm của Điều 8 Bộ luật hình sự
bao gồm: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ
luật hình sự; tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện; tội
phạm được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và tội phạm xâm phạm đến các
khách thể được Bộ luật hình sự xác lập và bảo vệ. Do đó, nếu nghiên cứu một
cách sâu sắc những đặc điểm cụ thể thuộc nội dung của khái niệm tội phạm
cũng như xem xét mối liên hệ giữa chúng thì thấy rằng, theo GS. TSKH. Lê
Văn Cảm, khái niệm này còn thiếu một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản là tội phạm
do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện[4] thì mới phù hợp với lý
luận và bao quát xử lý các trường hợp trong thực tiễn.
Còn về khái niệm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ cụ thể
- bao gồm sáu tội - tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ, tội cản trở giao thông đường bộ, tội đưa vào sử dụng các phương
tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn, tội điều động hoặc giao cho
người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ,
tội tổ chức đua xe trái phép và tội đua xe trái phép chính là sự cụ thể hóa khái
niệm tội phạm (chung).
19
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, chỉ có định nghĩa
riêng rẽ về từng tội phạm hoặc có tác giả chỉ liệt kê và phân tích sáu tội phạm
này và quan niệm đó là thuộc nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thông