Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ theo luật hình sự Việt Nam - Pdf 58

Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông
đường bộ theo luật hình sự Việt Nam Bùi Quang Trung Khoa Luật
Luận văn ThS. ngành: Luật hình sự; Mã số: 60 38 40
Người hướng dẫn: TS. Hoàng Văn Hùng
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Làm sáng tỏ khái niệm và dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm trật tự
an toàn giao thông đường bộ, trách nhiệm hình sự của người phạm tội, quá trình phát
triển của pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay quy định về các tội xâm
phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Phân tích các quy định của Bộ luật hình
sự và các văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm làm sáng
tỏ các dấu hiệu pháp lý của các tội cụ thể xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường
bộ. Khái quát về tình hình vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, tình hình tội
phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ những năm gần đây và nguyên nhân của
thực trạng đó. Đánh giá về thực tiễn xét xử, những bất cập, vướng mắc trong thực
tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội xâm phạm trật tự an
toàn giao thông đường bộ và nguyên nhân của chúng. Trên cơ sở đó đề xuất một số
kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành về các tội xâm
phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Keywords. Luật hình sự; Tội xâm phạm; An toàn giao thông; Đường bộ; Pháp luật
Việt Nam
hình sự, đường lối xử lý cụ thể...; đối với các hành vi xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường
bộ. Nguyên nhân của tình trạng này một phần do các quy định của pháp luật hiện hành về các tội
phạm này (Bộ luật hình sự, Luật Giao thông đường bộ, Nghị định của Chính phủ) đã bộc lộ nhiều
điểm không còn phù hợp với thực tiễn. Mặt khác, các văn bản hướng dẫn của các cơ quan có
thẩm quyền về áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự cũng chưa đầy đủ, cụ thể và rõ ràng
dẫn đến sự nhận thức và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn giữa các cơ quan tiến hành
tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án.
Vì vậy, việc nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ về mặt lý luận các tội xâm phạm trật tự an
toàn giao thông đường bộ, đồng thời tìm ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng các quy định của pháp luật hiện hành về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông
đường bộ và nguyên nhân, trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện các
quy định pháp luật hiện hành có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý luận cũng như thực tiễn. Đây
chính là lý do mà tôi lựa chọn "Các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ theo
luật hình sự Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về các tội vi
phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam, thực tiễn điều tra, truy
tố, xét xử các tội phạm này và những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định
của Bộ luật hình sự hiện hành trong quá trình xử lý các hành vi xâm phạm trật tự an toàn giao
thông đường bộ. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy
định pháp luật hiện hành về các tội phạm này.
Với mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Làm sáng tỏ khái niệm và dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao
thông đường bộ, trách nhiệm hình sự của người phạm tội, quá trình phát triển của pháp luật
hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay quy định về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao
thông đường bộ;
- Phân tích các quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền nhằm làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý của các tội cụ thể xâm phạm trật
tự an toàn giao thông đường bộ;
- Khái quát về tình hình vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, tình hình tội phạm

Khái niệm trên bao gồm dấu hiệu của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường
bộ, là cơ sở pháp lý để xem xét và xác định hành vi nào là tội xâm phạm trật tự an toàn giao
thông đường bộ. Dấu hiệu cụ thể của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ bao
gồm:
Tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trước hết phải là hành vi nguy hiểm
cho xã hội. Hành vi xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ nguy hiểm cho xã hội là
hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho xã hội hoặc hành
vi tạo khả năng gây ra các thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Các thiệt
hại do hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây ra cho các quan hệ xã
hội bao gồm: tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Do vậy, trường hợp vi phạm các
quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho chính bản thân người vi phạm mà
không gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, thì không bị coi là tội
phạm.
Dấu hiệu thứ hai của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là "được quy
định trong Bộ luật hình sự". Tại Điều 2 Bộ luật hình sự quy định: "Chỉ người nào phạm một
tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự". Do vậy, chỉ người
nào phạm một trong các tội sau đây được quy định trong Bộ luật hình sự mới phải chịu trách
nhiệm hình sự về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ: Tội vi phạm quy
định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202); tội cản trở giao thông đường
bộ (Điều 203); tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an
toàn (Điều 204); tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các
phương tiện giao thông đường bộ (điều 2005). Tức là không thể có tội xâm phạm trật tự an
toàn giao thông đường bộ nếu như hành vi phạm tội đó chưa được mô tả tại một điều luật cụ
thể ở Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự.
Dấu hiệu thứ ba của tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ là "tội phạm… do
người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện". Người có năng lực trách nhiệm hình sự là
con người cụ thể đạt độ tuổi do pháp luật hình sự quy định, có khả năng nhận thức và điều
khiển hành vi của mình. Điều 12 Bộ luật hình sự quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
như sau: "Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người
từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất

gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.
1.1.2.3. Mặt chủ quan của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ
Mặt chủ quan của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ chỉ bao gồm một
yếu tố lỗi mà không bao gồm yếu tố động cơ, mục đích. Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm
tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình thực hiện và đối với hậu quả do hành vi
phạm tội gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.
1.1.2.4. Chủ thể của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ
Chủ thể của các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ sau đây là người đạt
độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự đối với các tội: tội vi
phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và tội cản trở giao thông
đường bộ.
Chủ thể của tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không đảm bảo an
toàn và tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện
giao thông đường bộ ngoài đạt độ tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự thì chủ thể của hai tội
này phải là người có trách nhiệm quyền hạn trực tiếp trong việc sử dụng phương tiện và điều
động lái xe.
1.2. Quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông
đường Bộ
1.2.1. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
1.2.1.1. Khái niệm
Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi của
người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao
thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe,
tài sản của người khác.
1.2.1.2. Dấu hiệu pháp lý
Khách thể của tội phạm là sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về
tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.
Mặt khách quan của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ bao gồm các yếu tố: hành vi khách quan; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.

trách nhiệm hình sự.
1.2.2.3. Hình phạt
Điều 203 Bộ luật hình sự quy định bốn khung hình phạt đối với người phạm tội cản trở
giao thông đường bộ.
1.2.3. Tội "đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an
toàn"
1.2.3.1. Khái niệm
Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn là
hành vi của người có trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật mà
cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường bộ rõ ràng không đảm bảo an toàn
kỹ thuật gây thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của
người khác.
1.2.3.2. Dấu hiệu pháp lý
Khách thể của tội phạm là sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn
về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Phương tiện giao thông đường bộ gồm
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ (xem phần
phân tích về khách thể của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ)
Mặt khách quan của tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không
bảo đảm an toàn gồm các yếu tố: hành vi khách quan; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra;
mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.
Về mặt chủ quan, tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo
đảm an toàn được thực hiện do lỗi vô ý do tự tin hoặc do cẩu thả.
Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông
đường bộ không bảo đảm an toàn quy định tại tất cả các khoản 1 và 2 Điều 204 Bộ luật hình
sự là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và là người chịu trách
nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật phương tiện giao thông đường
bộ.
1.2.3.3. Hình phạt
Điều 204 Bộ luật hình sự quy định hai khung hình phạt đối với người phạm tội đưa vào

1. Các tội xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ là tội phạm có tính lịch sử,
ra đời muộn hơn so với các loại tội phạm khác.
2. Bộ luật hình sự năm 1985, tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao
thông vận tải đã được quy định tại Điều 186 - Chương VIII - Các tội xâm phạm an toàn, trật
tự công cộng và quản lý hành chính đã phát huy tác dụng to lớn trong việc đấu tranh phòng,
chống loại tội phạm này. Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, cho đến Bộ luật hình sự năm 1999
cũng như Bộ luật hình sự hiện hành các tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải đã
được tách ra thành 4 tội độc lập và được quy định trong 4 điều luật khác nhau trong Bộ luật
hình sự.
3. Bộ luật hình sự hiện hành đã quy định rõ hơn các dấu hiệu định tội cũng như dấu hiệu
định khung tăng nặng hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao
thông đường bộ tại Điều 202. Chương 2
THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC TỘI XÂM PHẠM
TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN CÁC
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC XÉT XỬ CÁC TỘI PHẠM NÀY

2.1. Tình hình vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và thực tiễn xét xử các
tội này những năm gần đây
2.1.1. Tình hình vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ những năm gần đây
Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, trong những năm gần đây, tình hình tai nạn
giao thông đường bộ ở nước ta diễn biến hết sức phức tạp. Theo số liệu thống kê của Ủy ban
An toàn giao thông Quốc gia trong năm 2006 tính đến 18h30 phút ngày 29/12/2006, cả nước
đã xảy ra 14.533 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 12.609 người chết và bị thương 11.253
người..
Trong năm 2007, tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ diễn biến phức tạp, số
người chết vì tai nạn giao thông đường bộ vẫn tăng chóng mặt bất chấp sự vào cuộc ráo riết
của các ban ngành chức năng. Cụ thể, riêng trong tháng 2/2007 (tháng Tết Đinh Hợi), cả

và bị cáo
cấp sơ
thẩm thụ
lý giải
quyết
Số vụ/bị cáo bị xét xử sơ thẩm
về các tội xâm phạm trật tự giao thông đường
bộ
Tổng số
vụ/
bị cáo
Điều 202
Bộ luật
hình sự
Điều 203
Bộ luật
hình sự
Điều 204
Bộ luật
hình sự
Điều 205
Bộ luật
hình sự
200
5
55.237/91
.224
4.810/5.
044
4.784/5.

9
65.462/11
4.344
4.958/5.
184
4.929/5.
149
09/10 04/05 16/20
Cộn
g
290.477/4
94.489
25.608/2
6.819
25.382/2
6.562
97/107 23/29 106/121
Nguồn: Số liệu thông kê, Tòa án nhân dân tối cao.

Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao trong những năm từ 2005 đến 2009 (Bảng
2.1), tình hình tội phạm nói chung và các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ
có xu hướng gia tăng cả về số vụ và số bị cáo mà đỉnh điểm là năm 2007, sau đó các năm tiếp
theo tuy có chiều hướng giảm dần về số vụ nhưng số bị cáo vẫn tăng.
Bảng 2.2: Tỷ lệ % số vụ án, bị cáo phạm tội nói chung với số vụ án, bị cáo phạm các tội xâm
phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ nói riêng trong 5 năm từ 2005 đến 2009
Năm
Số vụ án/ bị cáo
phạm tội nói
chung
(1)

2007 53.177/91.541 5.538 5.817 10,42% 6,35%
2008 63.040/109.338 5.342 5.585 8,47% 5,10%
2009 65.462/114.344 4.958 5.184 7,57% 4,53%
Tổng 290.477/494.488 25.608 26.819 8,81% 5,42%
Nguồn: Số liệu thông kê, Tòa án nhân dân tối cao.

Tỷ lệ giữa các vụ án về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ (Điều 202,
203, 204 và Điều 205) chiếm tỷ lệ khoảng 8,81% về số vụ án và khoảng 5,42% về số bị cáo
trong tổng số các vụ án hình sự và số bị cáo mà Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm từ
năm 2005 đến 2009, trong đó tuyệt đại đa số là tội "vi phạm quy định về điều khiển phương
tiện giao thông đường bộ" quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự (chiếm khoảng 65% về số
vụ án và 71,2% về số bị cáo trong tổng số vụ án về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao
thông đường bộ mà Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm). Các hành vi khác xâm phạm
trật tự an toàn giao thông đường bộ như: Cản trở giao thông đường bộ; đưa vào sử dụng các
phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn; điều động hoặc giao cho người
không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định tại các điều 203, 204 và 205 Bộ luật hình sự chiếm tỷ lệ không đáng kể tổng
cả ba tội (khoảng 35% số vụ và 28,8% về số bị cáo).
2.1.2. Tình hình xét xử các tội vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ những
năm gần đây từ 2005 - 2009
Bảng 2.3. Số liệu thống kê về kết quả xét xử sơ thẩm đối với các bị cáo phạm các tội xâm
phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ
những năm 2005 - 2009

m
Tổn
g số
bị
cáo
bị

n
TN
HS,
hìn
h
phạ
t
Cả
nh
cáo
Phạ
t
tiền
Cải
tạo
khô
ng
gia
m
giữ
Hìn
h
phạ
t tù
cho

ởng
án
tre
o

5.18
9
0 0 01 01 0 37 25
2.2
08
2.878 39
20
07
5.81
7
05 03 02 04 05 35 132
2.5
52
3.008 71
20
08
5.58
5
01 0 06 01 0 41 33
2.5
58
2.912 33
20 5.18 0 06 03 0 01 43 49 2.4 2.651 22
09 4 09
Cộ
ng
26.8
19
06 09 13 08 11 184 326
11.

xe điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ
2.1.2.6. Về đường lối xử lý đối với bị cáo trong các vụ án giao thông đường bộ.
2.2. Hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông
đường bộ
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến việc truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ một
mặt phải được tiến hành đồng bộ, toàn diện đồng thời với việc hoàn thiện toàn bộ hệ thống
pháp luật Việt Nam nói chung theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW "Về hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020" ngày 02/6/2003 của Bộ Chính trị.
Đối với các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự
đối với các hành vi xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, chúng tôi xin đề xuất sửa
đổi bổ sung một số nội dung cụ thể như sau:
2.2.1. Về Điều 202 Bộ luật hình sự
2.2.2. Về khoản 2 Điều 37 nay là điểm d khoản 1 Điều 39 của Luật Giao thông đường
bộ
2.2.3. Về Điều 205 Bộ luật hình sự
2.2.4. Về Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự
2.2.5. Về các quy định pháp luật khác có liên quan đến việc xử lý các vụ án giao thông
đường bộ.
Ngoài việc hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự về các tội xâm phạm trật tự an toàn
giao thông đường bộ như đã nêu trên, chúng tôi cho rằng cũng cần tiến hành đồng thời việc
sửa đổi bổ sung các quy định pháp luật khác có liên quan đến việc xử lý các vụ án giao thông
đường bộ.

Tiểu kết chương 2
Qua nghiên cứu chương 2, tôi rút ra một số kết luận sau:
1. Tình hình vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ là một vấn đề phức tạp,
nhức nhối trong phạm vi cả nước. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm trật tự an
toàn giao thông thông đường bộ có hiệu quả là điều kiện quan trọng đảm bảo an toàn giao

toàn giao thông đường bộ có bốn yếu tố cấu thành tội phạm là: khách thể, chủ thể, mặt khách
quan và mặt chủ quan. Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm về một trong
các tội quy định tại các điều từ Điều 202 đến Điều 205 Bộ luật hình sự, cần xác định đầy đủ
bốn yếu tố này.
3. Trong những năm qua, mặc dù Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp đã nỗ lực cố
gắng và đề ra nhiều giải pháp để kiềm chế giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông,
nhưng tai nạn giao thông vẫn xảy ra ngày một nghiêm trọng ở mức cao, gây nhiều thiệt hại to
lớn về người, tài sản của Nhà nước và của nhân dân và trở thành vấn đề mà xã hội hết sức
bức xúc, trong đó dẫn đầu là các vụ tai nạn giao thông đường bộ. Trong những năm 2005 -
2009 các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ có xu hướng gia tăng cả về số vụ
và số bị cáo nhất là năm 2007, những năm tiếp theo có giảm nhưng không đáng kể nhưng số
bị cáo lại tăng, trong đó tội "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ được quy định tại Điều 202" chiếm 65% về số vụ án và 71,2% về số bị cáo xét xử trong
thời gian 5 năm từ năm 2005 đến năm 2009.
4. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ những năm
gần đây cho thấy mặc dù Bộ luật hình sự quy định nhiều loại hình phạt khác nhau (như: cảnh
cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn) nhưng các Tòa án áp dụng chủ yếu
(khoảng 97,09% số bị cáo trong tổng số các bị cáo bị xét xử) là phạt tù có thời hạn từ 03
tháng đến dưới 15 năm (trong đó gần 1/2 số bị cáo cho hưởng án treo, số còn lại là buộc
người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam một thời hạn nhất định).
Thực tiễn áp dụng các quy định Bộ luật hình sự hiện hành trong quá trình giải quyết các vụ
án xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ những năm qua cho thấy còn một số bất cập,
vướng mắc về các vấn đề cụ thể sau đây:
- Xác định nguyên nhân và lỗi trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ;
- Căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp xe máy chuyên
dùng gây tai nạn hoặc phương tiện tham gia giao thông gây tai nạn ở những nơi không thuộc
mạng lưới giao thông đường bộ;
- Xác định thiệt hại (hậu quả) do hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ gây ra trong các trường hợp lỗi hỗn hợp, do một phần lỗi của người bị
hại hoặc của người thứ ba; thiệt hại về tài sản của hành khách đi trên phương tiện giao thông

kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;
...".
b) Quy định tại điểm d khoản 1 Điều 39 của Luật Giao thông đường bộ về mạng lưới
đường bộ cũng cần được sửa đổi bổ sung như sau: "d) Đường xã là đường lối trung tâm hành
chính của xã với các thôn, làng, ấp, bản, các đường và khu đất thuộc xã và đơn vị tương
đương hoặc nối với các xã lân cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội của xã".
c) Quy định Điều 205 Bộ luật hình sự cần được sửa đổi bổ sung theo hướng tách thành
hai điều luật quy định về hai tội độc lập và nội dung quy định tại khoản 1 của hai điều luật
này sẽ như sau:
"Điều 205a. Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương giao thông
đường bộ
1. Người nào điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương giao thông đường
bộ gây thiệt hại…, thì…";
"Điều 205b. Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương giao thông đường
bộ
1. Người nào giao cho người không có năng lực hoặc bị hạn chế năng lực hành vi điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại…, thì…"
d) Mục 4 Phần I của Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao cần được sửa đổi, bổ sung nội dung hướng dẫn theo hướng xác
định "thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, tài sản
của người khác" không bao gồm các thiệt hại sau:
- Thiệt hại mà mỗi bên phải chịu trong trường hợp cả hai bên đều có lỗi (lỗi hỗn hợp) và
gây thiệt hại cho nhau;
- Thiệt hại về tài sản mà người lái xe ôtô thuê gây ra cho chủ phương tiện;
- Thiệt hại về tài sản của hành khách đi trên phương tiện giao thông đường bộ bị hư hỏng,
mất mát, thất thoát sau khi tai nạn xảy ra.
7. Trong quá trình nghiên cứu và có được số liệu thống kê thực tế xét xử ở cấp sơ thẩm
nói chung và các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ nói riêng với số liệu trên
toàn quốc từ năm 2005 - 2009 để hoàn thiện luận văn này, bản thân tôi được sự chỉ bảo của các

Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
11. Nguyễn Quốc Nhật và Hoàng Đình Ban (2003), Tìm hiểu luật các tội xâm phạm lĩnh vực
trật tự an toàn giao thông đường bộ trong Bộ luật hình sự năm 1999, Nxb Giao thông
vận tải, Hà Nội.
12. Quốc hội (1985), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
13. Quốc hội (1999), Bộ luật hình sự, Hà Nội.
14. Quốc hội (2001), Luật Giao thông đường bộ, Hà Nội.
15. Quốc hội (2008), Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội
16. Quốc hội (2009), Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
17. Tai nạn giao thông, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa (1997), Nxb Giao thông vận tải,
Hà Nội.
18. Tòa án nhân dân tối cao (1975), Tập hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập I, Hà Nội.
19. Tòa án nhân dân tối cao (1979), Tập hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập II, Hà Nội.
20. Tòa án nhân dân tối cao (1998), Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành
chính và tố tụng, Hà Nội.
21. Tòa án nhân dân tối cao (2005) Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành
chính và tố tụng, Hà Nội.
22. Tòa án nhân dân tối cao (2005 - 2009), Số liệu thống kê các vụ án hình sự xét xử các
năm 2005-2009, Hà Nội.
23. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội.
24. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập 2, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội.
25. Ủy ban An toàn giao thông quốc gia (2005-2010), Báo cáo tổng kết về tai nạn giao
thông từ năm 2005 đến 2010, Hà Nội.
26. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1993), Pháp lệnh thi hành án phạt tù, Hà Nội.
27. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2001), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
28. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2008), Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ
sung), Hà Nội.
29. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007), Pháp lệnh thi hành án phạt tù (sửa đổi, bổ sung),


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status