Về tội phạm có dấu hiệu "Có tổ chức" trong Luật Hình sự Việt Nam - Pdf 28

Về tội phạm có dấu hiệu "Có tổ chức" trong Luật Hình sự Việt Nam
20:9' 9/12/2009
Bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng sử dụng luật hình sự như là công cụ hữu hiệu để đấu tranh chống và phòng ngừa tội
phạm nói chung cũng như tội phạm có dấu hiệu “có tổ chức” nói riêng. Tuy nhiên, luật hình sự các nước quy định về nhóm
tội phạm có dấu hiệu “có tổ chức” lại rất khác nhau. Luật hình sự Việt Nam quy định vấn đề này là xuất phát từ yêu cầu đấu
tranh chống và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam. Nhưng câu hỏi vẫn được đặt ra là quy định này đã đáp ứng được ở mức
độ nào yêu cầu của cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Điều này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu để làm rõ cơ sở
lí luận và thực tiễn của vấn đề, từ đó đưa ra kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm
có dấu hiệu “có tổ chức”.
1. Nghiên cứu BLHS hiện hành cho thấy ở một số tội phạm, dấu hiệu “có tổ chức” được quy định là dấu hiệu định tội
thuộc mặt khách quan của tội phạm. Cụ thể: Hành vi khách quan của một số tội phạm được quy định có đặc điểm là
có tổ chức. Vậy những tội phạm nào có hành vi khách quan mang đặc điểm có tổ chức? Theo quan điểm của chúng
tôi, các dạng hành vi khách quan sau đây mang đặc điểm có tổ chức:
Thứ nhất
, dấu hiệu “có tổ chức” được phản ánh qua quy định hành vi khách quan của tội phạm dưới dạng là hoạt
động chung có tổ chức của nhiều người. Các tội phạm thuộc loại này là một số tội xâm phạm an ninh quốc gia mà điển
hình là tội bạo loạn (Điều 82 BLHS). Đặc điểm có tổ chức ở tội này được phản ánh qua dấu hiệu hành vi khách quan là
hoạt động vũ trang có tổ chức hoặc hoạt động bạo lực có tổ chức của nhiều người. Những người tham gia hoạt động
vũ trang hoặc bạo lực có tổ chức dù với vai trò nào cũng là những người thực hiện tội phạm này. Việc xác định vai trò
của từng người thực hiện tội phạm trong hoạt động chung có tổ chức không phải là điều kiện để xác định có trách
nhiệm hình sự hay không mà để xác định khung hình phạt áp dụng đối với họ. Chính vì vậy mà điều luật quy định về
những tội phạm này bao giờ cũng có các khung hình phạt khác nhau cho các đối tượng người thực hiện tội phạm với
vai trò khác nhau. Khung hình phạt quy định cho người có vai trò có tổ chức, hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả
nghiêm trọng nghiêm khắc hơn khung hình phạt quy định cho những người khác (Điều 81 - Tội xâm phạm an ninh
lãnh thổ; Điều 82 - Tội bạo loạn; Điều 83 - Tội hoạt động phỉ; Điều 89 - Tội phá rối an ninh; Điều 91 - Tội trốn đi nước
ngoài hoặc ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền dân chủ nhân dân).
Thứ hai
, dấu hiệu có tổ chức được phản ánh qua quy định hành vi khách quan của tội hoạt động nhằm lật đổ chính
quyền dân chủ nhân dân (Điều 79 BLHS). Đặc điểm có tổ chức của hành vi khách quan của tội phạm này thể hiện ở
hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân. Điều luật không đòi hỏi hoạt
động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân nhất thiết phải là hoạt động do

Từ những phân tích trên cho thấy luật hình sự Việt Nam đã quy định hai loại tội phạm mang đặc điểm có tổ chức. Đó
là loại tội có dấu hiệu có tổ chức là dấu hiệu định tội và loại tội phạm có dấu hiệu có tổ chức là dấu hiệu tăng nặng
định khung hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hai loại tội phạm này có thể được gọi chung là tội phạm có tổ chức.
Việc quan niệm tội phạm có tổ chức như vậy là hoàn toàn dựa trên cơ sở quy định của BLHS hiện hành. Thuộc về tội
phạm có tổ chức không bao gồm những hành vi mà luật hình sự Việt Nam chưa quy định là tội phạm như hành vi
thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm thực hiện một hoặc nhiều tội phạm nhất định, tuy những hành vi đó đã được
luật hình sự một số nước quy định là tội phạm. Như vậy, có thể định nghĩa tội phạm có tổ chức như sau: Tội phạm có
tổ chức là tội phạm mà việc thực hiện hành vi khách quan đòi hỏi phải có sự cấu kết với nhiều người hoặc hành vi
khách quan được thực hiện với sự cấu kết chặt chẽ của nhiều người.
3. Tình hình tội phạm có tổ chức ở Việt Nam trong những năm gần đây đang đặt ra đòi hỏi phải hoàn thiện quy định
của BLHS về tội phạm có dấu hiệu “có tổ chức”. Các nhận định của nhiều tác giả cũng như các số liệu thống kê phản
ánh tình hình tội phạm có tổ chức trong những năm gần đây của Tổng cục cảnh sát nhân dân Bộ công an đã được
công bố ở nhiều bài viết, công trình khác nhau,(1) cho thấy tình hình là ngày càng nhiều tổ chức được thành lập nhằm
mục đích thực hiện tội phạm mà hiện nay được tạm gọi là băng, ổ, nhóm tội phạm hoặc tổ chức tội phạm theo kiểu xã
hội đen. Trong khi đó số tội phạm có tổ chức do các có tổ chức tội phạm đó thực hiện bị phát hiện lại có xu hướng
giảm.
Ví dụ
, nếu như năm 1992 phát hiện được 67.742 vụ phạm tội hình sự (không kể các vụ phạm các tội xâm phạm
an ninh quốc gia) do 2.365 băng, nhóm tội phạm thực hiện thì đến năm 2001 phát hiện được 45. 962 vụ phạm tội hình
sự do 2.972 băng, nhóm tội phạm thực hiện.(2) Trong khoảng thời gian 6 năm (từ năm 1992 đến năm 1997) chúng ta
đã phát hiện được 13.134 băng, ổ, nhóm tội phạm.(3) Nhưng trong khoảng thời gian chỉ 4 năm tiếp đó (từ năm 1998
đến 2001) chúng ta cũng đã phát hiện được số băng, ổ, nhóm tội phạm tương đương là 13.068.
(4)
Đặc biệt trong vài
năm gần đây đã xuất hiện nhiều tổ chức tội phạm theo kiểu xã hội đen, chuyên hoạt động phạm tội trên nhiều lĩnh
vực, thậm chí cấu kết với cả với các có tổ chức tội phạm nước ngoài, dùng bạo lực hoặc nhiều thủ đoạn nguy hiểm để
mở rộng và tăng mức độ ảnh hưởng của tổ chức... Điển hình là tổ chức tội phạm theo kiểu xã hội đen Phúc Bồ, Khánh
Trắng ở Hà Nội và Trương Văn Cam ở thành phố Hồ Chí Minh. Hậu quả của việc hình thành, tồn tại và phát triển các tổ
chức tội phạm nêu trên không chỉ thể hiện ở các tội phạm do các tổ chức tội phạm đó gây ra mà còn thể hiện ở sự gây
nguy hại nghiêm trọng cho trật tự, an toàn công cộng. Ngay sự thành lập những tập hợp người có cùng mục đích

hợp phạm tội thành lập hiệp hội thông thường và trường hợp phạm tội thành lập hiệp hội khủng bố.
BLHS của Cộng hoà Pháp có cách quy định đơn giản hơn về tội “tham gia tổ chức tội phạm”. Theo Điều 450-1 tổ chức
tội phạm là nhóm người được tập hợp lại nhằm thực hiện một hay nhiều trọng tội hay khinh tội có mức phạt tù là 10
năm. Người tham gia vào tổ chức tội phạm này sẽ bị phạt tù 10 năm và phạt tiền 1.000.000 frăng. Khi quy định về cấu
thành tội phạm của tội phạm này, BLHS của Cộng hoà Pháp không phân biệt hành vi thành lập tổ chức với hành vi
tham gia tổ chức mà quy định chung cho hai loại hành vi đó là hành vi tham gia tổ chức tội phạm.
Những đánh giá về thực trạng quy định các tội phạm có dấu hiệu “có tổ chức” trong BLHS Việt Nam hiện hành cùng
những nhận thức đúng về yêu cầu đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm có tổ chức ở Việt Nam cũng như sự tham
khảo có chọn lọc những kinh nghiệm lập pháp hình sự của một số nước trên thế giới về loại tội tổ chức tội phạm là
những cơ sở thuyết phục cho phương hướng hoàn thiện quy định của BLHS Việt Nam về tội phạm có dấu hiệu “có tổ
chức”./.
TS Lê Thị Sơn
Nguồn: Tạp chí Luật học số 1/2003

(1)

.Xem: Phạm Thường Khanh, Về khái niệm “tội phạm có tổ chức”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/1997, tr. 42;
TS. Trần Hữu ứng, Nhận dạng về tội phạm có tổ chức ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí toà án nhân dân số 1/1998tr. 24-
27; Nhận diện về tội phạm có tổ chức và đấu tranh với những có tổ chức tội phạm ở Việt Nam, Báo An ninh thế giới
ngày 27/6/2002, tr.1, 2; Nguyễn Trung Thành, Phạm tội có tổ chức trong luật hình sự Việt Nam và việc đấu tranh
phòng chống (Luận án tiến sĩ luật học), năm 2002…
(

2), (4).Xem: Nguyễn Trung Thành, Phạm tội có tổ chức trong luật hình sự Việt Nam và việc đấu tranh phòng, chống (Luận án
tiến sĩ luật học), năm 2002, tr. 212.
(3)

.Xem: Nhận diện tội phạm có tổ chức và đấu tranh với những có tổ chức tội phạm ở Việt Nam, Báo An ninh thế
giới,ngày 27/6/2002, tr.2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status