ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƢƠNG THỊ NGỌC LOAN
b¶o ®¶m quyÒn con ng-êi
trong giai ®o¹n khëi tè, ®iÒu tra
vô ¸n h×nh sù cña viÖn kiÓm s¸t nh©n d©n
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DƢƠNG THỊ NGỌC LOAN
b¶o ®¶m quyÒn con ng-êi
trong giai ®o¹n khëi tè, ®iÒu tra
vô ¸n h×nh sù cña viÖn kiÓm s¸t nh©n d©n
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. PHẠM MẠNH HÙNG
HÀ NỘI - 2015
con ngƣời trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự.................. 9
1.1.1. Khái niệm quyền con người ................................................................. 9
1.1.2.
Quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự......... 10
1.1.3. Bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ
án hình sự ........................................................................................... 23
1.2.
Vị trí, vai trò bảo đảm quyền con ngƣời của Viện kiểm sát
nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ..... 26
1.2.1. Vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát nhân dân
trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự................................................. 27
1.2.2. Vai trò bảo đảm quyền con người của Viện kiểm sát trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự ................................................................ 29
1.3.
Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đảm
quyền con ngƣời trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân qua các giai đoạn lịch sử trƣớc
khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.......................... 33
1.3.1. Giai đoạn trước khi ban hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 1960 ............................................................................................ 33
1.3.2. Giai đoạn từ 1960 đến trước khi BLTTHS 1988 ra đời..................... 35
Những hạn chế trong hoạt động bảo đảm quyền con người của Viện
kiểm sát nhân dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự............72
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON
NGƢỜI TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC
VỤ ÁN HÌNH SỰ ............................................................................. 77
3.1.
Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự................... 77
3.1.1. Hoàn thiện một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự ................ 77
3.1.2. Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự liên quan
đến nhiệm vụ, quyền hạn, và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân
dân trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo
đảm quyền con người ......................................................................... 83
3.2.
Một số giải pháp khác nhằm nâng cao vai trò của viện kiểm sát
nhân dân trong việc bảo đảm quyền con ngƣời trong giai đoạn
khởi tố, điều tra các vụ án hình sự ................................................. 89
3.2.1. Nâng cao nhận thức của dội ngũ cán bộ Kiểm sát viên về quyền
con người và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm
quyền con người ................................................................................. 89
3.2.2. Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cả về năng lực
trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp ................................... 91
khởi tố vụ án hình sự 05 năm 2010-2014
734
Bảng 2.4: Số vụ án Tòa án trả điều tra bổ sung 05 năm 2010-2014
74
Bảng 2.5: Số vụ án, bị can đình chỉ điều tra trong 05 năm 2010-2014
74
Bảng 2.6: Số người bị tạm giữ, tạm giam quá hạn trong 05 năm
2010-2014
75
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 08/12/1956, tại lớp Nghiên cứu Chính trị khóa hai trường Đại học
nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: "Trong bầu
trời không gì quý bằng nhân dân" [29, tr. 276]. Nhân dân là những con người
cụ thể có những quyền thiêng liêng, không ai có thể xâm phạm được. Kế thừa tư
tưởng ấy, trong việc thực hiện và hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hội, an ninh - quốc phòng những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã đặt
"Con người" là trung tâm - chủ thể của chiến lược, quá trình phát triển.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nêu rõ: "Con người là trung tâm của
chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ
quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất
bảo đảm quyền con người như: "Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự,
luật tố tụng hình sự Việt Nam" (Sách tham khảo), Nhà xuất bản chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2004, của TS. Trần Quang Tiệp; "Quyền con người, quyền công dân
trong Hiến pháp Việt Nam" (Sách chuyên khảo), Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội, 2005 của PGS. TS. Nguyễn Văn Động; "Quyền con người, quyền
công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Sách
chuyên khảo), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 của PGS.
TS. Trần Ngọc Đường; …
Đối với lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, tại Việt Nam đã có những
công trình nghiên cứu như: "Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự
và pháp luật tố tụng hình sự", Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, do
GS. TSKH. Lê Văn Cảm; PGS. TS Nguyễn Ngọc Chí và PGS. TS. Trịnh Quốc
Toản đồng chủ trì, năm 2006; Luận án tiến sĩ "Đảm bảo quyền con
3
người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam" của Nguyễn Huy Hoàng, Hà Nội,
bảo vệ năm 2005; Luận án tiến sĩ "Bảo đảm quyền con người của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam" của Lại Văn Trình, TP.
Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2011; Luận văn thạc sĩ "Kiểm sát hoạt động tư pháp
trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự của Viện kiểm sát" của
Trần Công Hòa, Hà Nội, bảo vệ năm 2004; Luận văn thạc sĩ "Gắn công tố với
hoạt động điều tra trong tố tung h ình sự theo tinh thần Nghị quyết Đ ại hội
Đảng lần thứ X - Một số vấn đề lý lu ận và thực tiễn", của Bùi Mạnh Cường,
Hà Nội, bảo vệ năm 2012; Luận văn thạc sĩ "Vai trò của Viện kiểm sát nhân
dân ở tỉnh Bắc Giang trong việc bảo đảm quyền con người của người chưa
thành niên là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự" của
Nguyễn Xuân Hùng, Hà Nội, bảo vệ năm 2013; Luận văn thạc sĩ "Vai trò của
Viện kiểm sát trong việc khởi tố vụ án hình sự", của Nguyễn Khắc Quang, Hà
nhằm phát huy vai trò Viện kiểm sát nhân dân, như là một cơ quan có trách
nhiệm đảm bảo tối ưu quyền con người trong giai đoạn khởi tố,điều tra các vụ án
hình sự được thực hiện trên thực tế và hạn chế đến mức thấp nhất việc xâm
phạm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra, tránh oan, sai, bỏ lọt
tội phạm. Để thực hiện luận văn, tác giả đã lựa chọn, kế thừa và phát triển các kết
quả nghiên cứu của các công trình khoa học nêu trên.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận, trên cơ sở khảo sát thực tiễn, làm rõ những vướng
mắc, khó khăn và những hạn chế để đề xuất các giải pháp khắc phục nhằm
nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con
người trong tố tụng hình sự, đặc biệt là trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án
hình sự.
5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận văn thực hiện những nhiệm vụ
chủ yếu sau:
+ Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài như khái
niệm quyền con người, quyền con người và bảo đảm quyền con người trong tố
tụng hình sự; những quy định của pháp luật tố tụng hình sự bảo đảm quyền con
người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự; cơ sở xác định vai trò
của Viện kiểm sát nhân dân và các điều kiện bảo đảm vai trò của Viện kiểm sát
nhân dân trong việc đảm bảo quyền con người trong giai đoạn khởi tố - điều tra
các vụ án hình sự.
+ Phân tích thực trạng, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc
bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự
theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Từ đó rút ra những hạn chế, bất cập
cứu trong luận văn.
5. Những điểm mới và đóng góp khoa học của Luận văn
Luận văn đề cập một số vấn đề lý luận về quyền con người, bảo đảm
quyền con người trong tố tụng hình sự, đặc biệt là luận giải vai trò của Viện
kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người. Làm rõ cơ sở xác
định nhiệm vụ, quyền hạn Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm quyền
con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự. Phân tích và
đánh giá thực trạng vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo đảm
quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự. Thông
qua đó, Luận văn đưa ra được số giải pháp, kiến nghị sửa đổi, bổ sung
BLTTHS và một số các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát
nhân dân trong việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra
các vụ án hình sự.
7
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vị trí, vai trò bảo đảm quyền con
người của Viện kiểm sát nhân dân trong trong giai đoạn
khởi tố, điều tra các vụ án hình sự.
Chương 2: Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và thực
trạng
hoạt động bảo đảm quyền con người trong giai đoạn khởi tố,
điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân.
Chương 3. Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của
"Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [2]. Quyền con người là một
phạm trù tổng hợp, vừa là "chuẩn mực tuyệt đối" mang tính phổ biến, vừa là "sản
9
phẩm tổng hợp của một quá trình lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát triển".
Quyền con người "không thể tách rời", đồng thời cũng không hoàn toàn phụ thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội… [31].
Ở Việt Nam, đã có nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu đưa ra những định
nghĩa, các tiếp cận khác nhau về vấn đề quyền con người. Theo GS.TSKH Lê
Văn Cảm:
Quyền con người là một phạm trù lịch sử cụ thể, là giá trị xã
hội cáo quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và
là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước
đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng
thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia thành viên
Liên hợp quốc, cũng như bởi cộng đồng quốc tế [5, tr. 11].
Còn theo TS Trần Quang Tiệp:
Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ có
con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội nhất định [51, tr. 14].
Như vậy, dù tiếp cận hay nghiên cứu quyền con người ở góc độ nào, thì
khái niệm về quyền con người vẫn cần đảm bảo thể hiện được những thuộc
tính thuộc về quyền tự nhiên và quyền pháp lý của con người. Theo đó:
Quyền con người là những giá trị tự nhiên mà con người được hưởng,
phù hợp với những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định,
được Nhà nước đảm bảo thực hiện. bao gồm các quyền về dân sự, chính trị
như quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền
tự do, quyền bình đẳng trước pháp luật…
phạm, là góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân [11, tr. 13]. Thứ
hai, những hoạt động tố tụng hình sự rất dễ xâm phạm đến quyền con người
của những người bị tình nghi thực hiện tội phạm - "những người bị đưa vào
vòng quay tố tụng". Bởi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
11
tụng là những chủ thể được Nhà nước trao quyền, đại diện cho nhà nước, thể
hiện tính chủ động, độc lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khi mà
khả năng truy nguyên dấu vết, đánh giá chứng cứ còn hạn chế thì khả năng các
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân có thể bị xâm phạm và khả năng xảy ra
việc làm oan sai, bỏ lọt tội phạm là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, khi giải quyết
vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có trách
nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền con người, không được lợi dụng việc tiến
hành giải quyết vụ án xâm phạm đến quyền con người.
Theo các Công ước quốc tế về quyền con người thì quyền con người
trong tố tụng hình sự bao gồm:
* Quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm… của cá nhân hoặc
quyền không bị giam giữ một cách tùy tiện, được quy định tại Điều 9 (1) Công
ước quốc tề về các quyền dân sự và chính trị, 1996 (viết tắt là ICCPR). Cụ
thể: "Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt
hoặc bị giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước
quyền tự do đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy
định" [28].
Trên cơ sở của Điều 9 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm
1948, thì Hiến chương Châu Phi về quyền con người và quyền dân tộc; Công
ước Châu Mỹ về quyền con người hay Công ước châu Âu về bảo vệ quyền
con người và tự do cơ bản nhấn mạnh yếu tố "không ai bị bắt, giam giữ hay
lưu đày một cách tùy tiện". Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị
phải được thông báo ngay về quyền được liên lạc, bằng các phương tiện thích
hợp, với lãnh sự quán hoặc ngoại giao đoàn của quốc gia mà người đó là công
dân, hoặc nếu không, của quốc gia được quyền nhận những thông tin như vậy
theo pháp luật quốc tế, hoặc được liên lạc với đại diện của tổ chức quốc tế có
thẩm quyền, nếu người đó là người tị nạn hoặc là người được một tổ chức liên
chính phủ bảo vệ.
- Người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt.
Điều 14 (4) ICCPR quy định: "Tố tụng áp dụng đối với những người
15
chưa thành niên phải xem xét tới độ tuổi của họ và mục đích thức đẩy sự phục
hồi nhân cách của họ". Theo Quy tắc 20 (a), (b), 21 (a), (b), 22 (a), (b), 27, 31
của Các tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc đối xử với tù nhân, 1995,
quy tắc 13 Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về tư pháp người
chưa thành niên, Quy tắc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự
do: Những tù nhân bị bắt giữ hay đang chờ xét xử phải được giam giữ riêng
với tù nhân đã tuyên án. Những tù nhân trẻ tuổi chưa xét xử phải được giam
giữ riêng với những người lớn tuổi và về nguyên tắc phải được giam giữ trong
những nhà tù riêng… Việc nơi ăn, chốn ở đặc biệt là nơi ngủ phải đáp ứng các yêu
cầu về y tế, có chú ý đến các điều kiện không khí, diện tích sàn tối thiểu, ánh
sáng, sưởi ấm và thông hơi. Ngay cả nơi vệ sinh cũng phải được thỏa đáng để
có thể đáp ứng nhu cầu tự nhiên khi cần thiết.
- Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm. Quyền không bị kết tội
hai lần về cùng 1 hành vi. Quyền được nhanh chóng minh oan và yêu cầu được
bồi thường nếu bị kết án oan… được quy định tại Điều 14 (5), (6), (7) ICCPR.
- Các quyền con người trong thi hành án hình sự và sau xét xử.
Ở Việt Nam, về đối tượng của quyền con người trong tố tụng hình sự
có hai quan điểm khác nhau, dẫn đến định nghĩa khác nhau về quyền con
án, để có căn cứ áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, giải quyết
vụ án một cách chính xác, khách quan, đúng pháp luật, góp phần củng
cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Ở Việt Nam, tố tụng hình sự được chia thành bốn giai đoạn, gồm: Giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự; Giai đoạn điều tra và truy tố; Giai đoạn xét xử; Và
giai đoạn thi hành bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Các
giai đoạn tố tụng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Giai đoạn đầu làm cơ
sở pháp lý, tạo tiền đề cho hoạt động của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra
tính có căn cứ, đúng pháp luật trong hoạt động của giai đoạn trước.
Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự. Trong giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền
18