VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
k HỌC XÃ HỘI
HỌC VIỆN KHOA
NGUYỄN THỊ HẬU PHƯỢNG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS. Hoàng Văn Nghĩa
Hà Nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào, các thông tin trích
dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
NGUYỄN THỊ HẬU PHƯỢNG
MỤC LỤC
3.2. Một số giải pháp tăng cường thực hiện pháp luật về người khuyết tật .................61
KẾT LUẬN .................................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN
: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CRPD
: Công ước quốc tế về các quyền của người khuyết tật
ESCAP
: Ủy ban Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc Khu vực châu Á- Thái Bình
Dương
HRBA
: Cách tiếp cận dựa trên quyền con người (a human rights based
approach)
ICCPR
: Công ước quyền dân sự và chính trị
ICESCR
Bảng 2.2. Các dạng khuyết tật .............................................................................. 42
Bảng 2.3. Mức độ khuyết tật................................................................................. 42
Bảng 2.4. NKT còn khả năng lao động ................................................................ 48
Bảng 2.5. Trình độ học vấn của NKT................................................................... 50
Bảng 2.6. NKT được cấp thẻ bảo hiểm ................................................................ 52
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia thành viên tích cực của các công ước quốc tế về
quyền con người, bao gồm hai Công ước quan trọng được Liên hợp quốc (LHQ)
thông qua vào năm 1966 và Việt Nam phê chuẩn năm 1982, đó là: Công ước quốc
tế về quyền dân sự, chính trị (ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa (ICESCR), đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về quyền của người
khuyết tật (năm 2007). Nhà nước Việt Nam luôn chăm lo, quan tâm đặc biệt đến
quyền của các nhóm DBTT, trong đó có NKT, thông qua việc ghi nhận, tôn trọng
và thực hiện tận tâm, hiệu quả và có trách nhiệm đối với các nghĩa vụ quốc tế và
các quy định về quyền con người. Sự thay đổi nhận thức từ NKT chỉ được coi là
những đối tượng chính sách, những người bệnh, hay nhóm xã hội, sang là chủ thể
thụ hưởng đầy đủ của các quyền con người, trong hệ thống luật, chính sách và thực
tiễn, đã và đang mang lại những chuyển biến lớn trong luật pháp quốc gia và quốc
tế và việc tôn trọng, bảo đảm và thực hiện các quyền con người của NKT.
Ở Việt Nam, người khuyết tật là một trong những nhóm đối tượng xã hội
được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm trong quá trình phát triển. Hỗ trợ người
khuyết tật khắc phục khó khăn, hòa nhập xã hội, góp phần vào công cuộc xây dựng
đất nước là trách nhiệm pháp lý của nhà nước, xã hội. Tinh thần đó thể hiện trong
Nghị quyết Đại hội Đảng; Sác lệnh; Nghị định; Hiến pháp các năm 1946,
1959,1980,1992, Hiến pháp 1992(sửa đổi 2001), Luật Người khuyết tật năm 2010...
Sự hiện diện của vấn đề người khuyết tật trong nội dung các Hiến pháp Việt Nam
đã cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này đối với xã hội Việt Nam. Hiến pháp đã
tiễn đời sống và các chính sách cho người khuyết tật được thực hiện hiệu quả giúp
cho người khuyết tật có được điều kiện tốt nhất để thể hòa nhập với cộng đồng.
Tuy nhiên việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật trên Thành phố Hà Nội còn
nhiều khó khăn nhất là trong vấn đề huy động các nguồn lực từ xã hội trợ giúp họ
hoà nhập cộng đồng cũng như phát huy tiềm năng của chính người khuyết tật đo là
những khó khăn về: Nhận thức của xã hội về vấn đề người khuyết tật còn hạn chế;
Sự thiếu đồng bộ trong hệ thống chính sách khiến nhiều người khuyết tật gặp trở
ngại hoà nhập; các cơ chế để thực hiện pháp luật còn nhiều bất cập chưa có sự đồng
bộ và thiếu hiệu quả cao; huy động sự ủng hộ từ bản thân nội lực các cơ quan tổ
chức trong nước chưa nhiều; chưa biết sử dụng có hiệu quả nguồn ủng hộ từ các tổ
2
chức quốc tế mà nguyên nhân chính là do năng lực quản lý; điều kiện giao thông
chưa tiếp cận; các chính sách an sinh xã hội như giáo dục, y tế, việc làm còn chưa
đi vào chiều sâu và hiệu quả; bản thân nhiều người khuyết tật còn chưa khẳng định
được tiếng nói của chính mình trong xã hội do mặc cảm, tự ti…
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu: “Thực hiện pháp luật về người khuyết
tật từ thực tiễn Thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ của mình góp phần làm
rõ cả về lý luận và thực tiễn từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp đảm bảo
việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật tại Thành phố Hà Nội nói riêng và cả
nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật diễn ra ở rất nhiều lĩnh vực liên
quan tới nhiều Bộ, ngành, các cấp chính quyền vì vậy có rất nhiều những nghiên
cứu, đánh giá trong quá trình tổ chức và hoạt động thực hiện pháp luật về người
khuyết tật.
Quyền con người của các nhóm dễ bị tổn thương nói chung và quyền của
người khuyết tật nói riêng luôn là một đề tài được nghiên cứu, tiếp cận và phân tích
gia Hồ Chí Minh). Tác giả đã phân tích và làm rõ khái niệm, bản chất và nội dung
cơ bản của quyền NKT và hệ thống pháp luật về NKT ở Việt Nam hiện nay.
- Các công trình nghiên cứu khác có liên quan từ góc độ phân tích thành tựu
và thực trạng của hệ thống pháp luật về NKT, bao gồm: Phạm Thị Trang (2016),
“Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật – từ thực tiễn tại Thành phố
Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ (Đại học Quốc gia Hà Nội); Hồ Thị Trâm (2013),
“Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật”, Luận văn Thạc sĩ (Trường Đại học
Luật Hà Nội); và Trần Thị Thúy (2012), “Chế độ giáo dục đối với người khuyết tật
ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ (Trường Đại học Luật Hà Nội), …đã tiếp cận từ
nhiều góc độ và lĩnh vực khác nhau liên quan đến NKT ở Việt Nam hiện nay.
- An sinh xã hội đối với lao động là người khuyết tật “Dự án” nâng cao năng
lực của các cơ quan và tổ chức chính quyền Việt Nam trong việc triển khai Nghị
quyết 15/NQTW về một số chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020;
Một số công trình nghiên cứu khác có liên quan tiếp cận NKT từ thực tiễn bảo đảm,
chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về
NKT. Cụ thể: “Báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Luật người khuyết tật và Đề án
trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012- 2020 trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Sở
Thương binh lao động và xã hội thành phố Hà Nội; “Kế hoạch Thực hiện trợ giúp
4
người khuyết tật thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2020”, Sở Thương binh lao
động và xã hội thành phố Hà Nội; Tạo việc làm cho Người khuyết tật-kinh nghiệm
từ một dự án quốc tế;Thái Ninh Thắng , “Sự cần thiết đưa chuyên đề của Người
khuyết tật ở Việt Nam vào giảng dạy trong chương trình các chuyên đề tự chọn
thuộc môn Luật Hiến pháp”, bài trích số 5 tạp chí Luật học, 2008;- Th.S Đỗ Thị
Dung, “ Chế độ chăm sóc sức khỏe người khuyết tật và phương hướng hoàn thiện”,
Tạp chí Luật học số 10/2013; và Th.S Đinh Thị Cẩm Hà, “Hoàn thiện các quy định
của Hiến pháp bảo đảm quyền của người khuyết tật”, Tạp chí Nghiên cứu Lập
pháp số 9(217) 5/2012.