VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG VĂN ĐỀU
TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI NGƢỜI CÓ HIV/AIDS TRONG TIẾP CẬN
ĐIỀU TRỊ ARV TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG VĂN ĐỀU
TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI NGƢỜI CÓ HIV/AIDS TRONG TIẾP CẬN
ĐIỀU TRỊ ARV TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên nghành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
2.2 Hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với người có HIV/AIDS từ thực tiễn
thành phố Hà Nội ...................................................................................................31
2.3 Tác động của các hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với người có
HIV/AIDS từ thực tiễn thành phố Hà Nội .............................................................36
Chƣơng 3: TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƢỜI
CÓ HIV/AIDS TRONG TIẾP CẬN ĐIỀU TRỊ ARV TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...........................................................................................39
3.1 Ứng dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với người có HIV/AIDS trong
tiếp cận điều trị ARV từ thực tiễn thành phố Hà Nội ............................................39
3.2 Các giải pháp bảo đảm thực hiện tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với
người có HIV/AIDS trong tiếp cận điều trị ARV..................................................73
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Tiếng Anh
Tiếng Việt
AIDS (Acquired Immune Deficiency
Hội chứng Suy giảm Miễn dịch mắc
Syndrome):
phải
ARV (Anteretroviral):
Programme on HIV/AIDS):
quốc về HIV/AIDS
UNDP (United Nations Development
Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên
Programme):
hiệp quốc
NVCTXH:
Nhân viên công tác xã hội
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các nhóm đối tượng của cuộc nghiên cứu ..................................... 29
Bảng 2.2: Thông tin chung về nhóm NCH tham gia nghiên cứu ................... 30
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện “Tuyên bố cam kết về HIV/AIDS” của khóa họp đặc biệt, Liên hợp
quốc (New York, 25 – 27/06/2001) đã nhận định: “bệnh dịch toàn cầu HIV/AIDS,
với quy mô và sự tác động ở mức hủy hoại của nó, là một vấn đề khẩn cấp toàn cầu
và là một trong những thách thức to lớn nhất đối với cuộc sống và nhân phẩm của
lý luận – thực tiễn và các hình thức can thiệp được thể hiện trong đề tài này sẽ cho
thấy rõ những ưu điểm về cách tiếp cận, thực hiện các phương pháp hỗ trợ nâng cao
năng lực nhằm thay đổi nhận thức hành vi của NCH trong việc tiếp cận điều trị
ARV là rất cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một trong những khó khăn mà NCH gặp phải
nhiều nhất là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. Các nghiên cứu hiện có về vấn đề
chăm sóc sức khỏe đối với NCH ở Việt Nam thường tập trung vào một số mảng
sau: tư vấn và xét nghiệm HIV, dự phòng lây truyền từ mẹ sang con, điều trị, chăm
sóc và hỗ trợ.
Các hoạt động tư vấn và xét nghiệm HIV ở một số cơ sở y tế được chứng
minh là không hướng tới quyền và lợi ích của NCH. Kết quả nghiên cứu của Viện
Nghiên cứu Phát triển Xã hội (2006) cho thấy nhiều nhân viên bệnh viện đã không
thông báo kết quả xét nghiệm cho các trường hợp dương tính. Trong một số trường
hợp, kết quả xét nghiệm còn được thông báo cho người nhà mà không thông báo
cho bệnh nhân. Thậm chí, nhiều người trong cộng đồng biết kết quả xét nghiệm của
một người trước khi người được xét nghiệm trở về từ bệnh viện hoặc trung tâm cai
nghiện. Chính sự vi phạm quyền riêng tư này đã làm hạn chế việc tiếp cận các dịch
vụ xét nghiệm HIV của người dân.
Tiếp cận điều trị ARV là một nhu cầu rất cần thiết của NCH. Các nghiên cứu
đã ghi nhận những khó khăn và rào cản mà NCH gặp phải trong việc tiếp cận điều
trị. Mặc dù tiếp cận ARV ngày càng trở nên sẵn có, số lượng được tiếp cận trên
thực tế vẫn còn hạn chế so với số người cần được điều trị. Đối với những người
không thuộc đối tượng được xét điều trị, họ phải tự chi trả các chi phí xét nghiệm và
nhiều khi cả chi phí đi lại. Những chi phí này có thể tương đương với vài tháng thu
nhập của họ. Ngay cả đối với những người được cung cấp miễn phí điều trị ARV,
họ vẫn phải tự chi trả cho một số khoản chi phí y tế như xét nghiệm CD4, chẩn
đoán và điều trị nhiễm trùng cơ hội, tác dụng phụ, kháng thuốc và nhiễm độc trong
2
HIV, cũng cho thấy những kết quả tương tự với những nghiên cứu về trải nghiệm
của chính những người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS nêu trên. Một khảo sát về kiến
3
thức, thái độ và thực hành của 151 bác sỹ ở một bệnh viện ở tỉnh Quảng Ninh năm
2005 cho thấy có tới gần ¾ các bác sỹ lo sợ lây nhiễm HIV từ bệnh nhân của họ,
gần ½ cảm nhận khác biệt về bệnh nhân có HIV so với các bệnh nhân khác, gần
40% cảm thấy không thoải mái khi chạm vào các bệnh nhân có HIV trong lúc khám
chữa bệnh cho họ. Khảo sát này cũng chỉ ra rằng hơn 2/3 số người tham gia nghiên
cứu đồng ý rằng nên có một khoa hay bệnh viện dành riêng cho bệnh nhân AIDS và
35% đồng ý với nhận định rằng các nhân viên y tế có quyền từ chối chăm sóc cho
các bệnh nhân có HIV. Nguyên nhân của những thái độ và hành động tiêu cực này
là do những lầm tưởng về cách thức lây truyền HIV và sự thiếu hiểu biết về HIV
sinh học của một bộ phận bác sỹ được khảo sát.
Những kết quả tương tự cũng được tìm thấy trong một nghiên cứu can thiệp
được thực hiện với gần như toàn bộ cán bộ và nhân viên của hai bệnh viện ở Hải
Phòng và Quảng Ninh (phía Bắc) và hai bệnh viện ở Cần Thơ (phía Nam) (Khuất
Thị Hải Oanh và đồng nghiệp, 2008). Một trong những phát hiện quan trọng mới
mà nghiên cứu đầu vào đã chỉ ra đó là, ngoài các nhân tố mang tính cá nhân bao
gồm những hiểu biết sai lầm về cách thức lây truyền, lo sợ lây nhiễm và do phán xét
về mặt đạo đức của NCH, một số nhân tố mang tính thể chế, như việc không có
hoặc có nhưng không hợp lý của các chính sách ở cả cấp quốc gia và cấp bệnh viện
nhằm đảm bảo sự công bằng trong khám chữa bệnh cho bệnh nhân có HIV cũng
như sự an toàn cho đội ngũ cán bộ và nhân viên của bệnh viện, đã tạo điều kiện cho
kỳ thị và PBĐX tại các bệnh viện này.
Không chỉ bị kỳ thị và PBĐX tại cơ sở y tế, kết quả của các nghiên cứu cho
thấy NCH còn phải chịu đựng sự kỳ thị và PBĐX ngay trong gia đình mình, nơi mà
luôn được coi là nơi đem lại tình yêu thương, sự chăm sóc và hỗ trợ cho các thành
khảo quan trọng và bổ ích để tôi có thể đi sâu nghiên cứu và thực hiện nghiên cứu
can thiệp đề tài “Tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với người có HIV/AIDS
trong tiếp cận điều trị ARV từ thực tiễn thành phố Hà Nội”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mô tả thực trạng tiếp cận điều trị ARV của người có HIV/AIDS tại thành
phố Hà Nội
- Xác định vấn đề và nhu cầu của người có HIV/AIDS trong việc tiếp cận điều
trị ARV
- Thực nghiệm tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với người có HIV/AIDS
trong tiếp cận điều trị ARV (nghiên cứu trường hợp tại thành phố Hà Nội).
5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với người có HIV/AIDS trong tiếp cận
điều trị ARV từ thực tiễn thành phố Hà Nội.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
-
Phạm vi khách thể nghiên cứu:
+ Nhân viên công tác xã hội: 1 người
+ Người có HIV/AIDS: 3 người
+ Trung tâm, mạng lưới, nhóm hỗ trợ người có HIV/AIDS
+ Các nguồn lực hỗ trợ khác…
-
Phạm vi về không gian nghiên cứu:
Nghiên cứu sẽ xác định khung lý thuyết nghiên cứu Tiến trình công các xã
hội cá nhân đối với người có HIV/AIDS trong việc tiếp cận điều trị ARV như: Các
khái niệm, các đặc điểm cơ bản của tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với người
có HIV/AIDS, các yếu tố chi phối công tác xã hội cá nhân với người có HIV/AIDS.
Đồng thời bổ sung một số vấn đề lý luận cơ bản về tiến trình công tác xã hội cá
nhân đối với người có HIV/AIDS trong việc tiếp cận điều trị ARV.
Nghiên cứu làm rõ thêm về phương pháp trợ giúp các đối tượng yếu thế, dễ
bị tổn thương dưới cách tiếp cận của công tác xã hội nói chung và công tác xã hội
cá nhân nói riêng, đặc biệt là trong lĩnh vực trợ giúp người có HIV/AIDS trong việc
tiếp cận điều trị ARV
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo; nội
dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với
người có HIV/AIDS trong tiếp cận điều trị ARV.
Chương 2. Thực trạng công tác xã hội xá nhân đối với người có HIV/AIDS
trong tiếp cận điều trị ARV từ thực tiễn thành phố Hà Nội.
Chương 3. Tiến trình công tác xã hội cá nhân đối với người có HIV/AIDS
trong tiếp cận điều trị ARV từ thực tiễn thành phố Hà Nội
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIẾN TRÌNH
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƢỜI
CÓ HIV/AIDS TRONG TIẾP CẬN ĐIỀU TRỊ ARV
1.1 Khái niệm
1.1.1 HIV
HIV là tên viết tắt của từ Tiếng anh (HIV - Human Immuno Deficiency
truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp các cá nhân và các nhóm người trong việc
giải quyết các nan đề trong đời sống của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con người và
tiến bộ xã hội”
1.1.5 Công tác xã hội cá nhân
Công tác xã hội cá nhân được định nghĩa là “hệ thống giá trị và phương pháp
được các nhân viên xã hội chuyên nghiệp sử dụng, trong đó các khái niệm về tâm lý
xã hội, hành vi và hệ thống được chuyển thành các kỹ năng giúp đỡ cá nhân và gia
đình giải quyết những vấn đề về nội tâm lý, quan hệ giữa các cá nhân, kinh tế xã hội
và môi trường thông qua các mối quan hệ một – một” (Farley O, W, 2000, trang 61)
Tiến trình công tác xã hội cá nhân (gồm 7 bước) là một chuỗi các hoạt động
tương tác giữa nhân viên xã hội với thân chủ để cùng nhau giải quyết vấn đề. Trong
quá trình này, nhân viên xã hội dùng chính các quan điểm giá trị, kiến thức, kinh
nghiệm, kỹ năng của mình để tham gia vào việc giải quyết các vấn đề của đối tượng và
với hỗ trợ đó đối tượng cũng huy động hết khả năng, sức lực của mình để giải quyết
những khó khăn đang mắc phải. Tiến trình công tác xã hội cá nhân là hoạt động mà
trong đó bao gồm các bước chính như: Tiếp cận thân chủ, xác định vấn đề, thu thập dữ
liệu, chuẩn đoán, lên kế hoạch trị liệu, trị liệu, lượng giá. Các bước này có thể nối tiếp
nhau - nghĩa là kết thúc bước này thì mới được chuyển sang bước khác, song cũng có
thể đan xen giữa các bước dựa trên kết quả của hoạt động lượng giá.
- Bƣớc 1: Tiếp cận thân chủ là bước đầu tiên có thể thân chủ tự tìm đến với
nhân viên xã hội khi họ gặp vấn đề và cần sự giúp đỡ, song trong một chừng mực
nào đó cũng có thể chính nhân viên xã hội lại là người tìm đến với thân chủ trong
phạm vi hoạt động theo chức năng của mình. Ở bước tiếp cận này nếu nhân viên xã
hội tạo được ấn tượng tốt với thân chủ thì những bước sau sẽ thuận tiện hơn.
- Bƣớc 2: Xác định vấn đề sau khi tiếp cận với thân chủ nhân viên xã hội
phải xác định được vấn đề thân chủ đang gặp khó khăn trong việc tìm ra hướng giải
quyết. Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình công tác xã hội cá nhân, nó đóng vai
trò quan trọng trong cả quá trình và kết quả của nó là sự định hướng cho tất cả các
bước tiếp theo bởi nếu nhận diện đúng sẽ dẫn tới chuẩn đoán và cách trị liệu đúng.
nào của thân chủ, sự thẩm định mang tính chất tâm lý xã hội vì đây là trọng tâm của
công tác xã hội cá nhân. Khi hoàn thành cuộc thẩm định tình huống có vấn đề và cá
nhân liên quan trong đó, nhân viên xã hội làm ngay một kế hoạch trị liệu cho dù đây
mới chỉ là kế hoạch tạm thời.
10
- Bƣớc 5: Lên kế hoạch trị liệu Trong giai đoạn này nhân viên xã hội sẽ xác
định mục đích trị liệu và các mục tiêu cụ thể để đạt được mục đích. Nhiệm vụ của
hoạt hoạt động này:
+ Xác định nội dung và mục tiêu phải đạt được: phải làm gì, đi đến đâu, phải
đạt được gì, tạo được sự thay đổi gì và đích gì.
+ Xác định hoạt động này cho ai, nhóm nào và ở đâu.
+ Xác định cách thức, phương sách để đi đến mục tiêu: làm như thế nào.
+ Xác định rõ vai trò người thực hiện: ai là người thực hiện nhân viên xã hội
nhân viên hoặc thân chủ.
+ Xác định thời gian, lịch trình thực hiện bằng khi nào? bao lâu?
Một số điều chú ý:
+ Kế hoạch phải xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu cho đối tượng.
+ Kế hoạch phải được đối tượng bàn bạc và chấp thuận.
+ Luôn có sự đánh giá lại, xem xét lại vấn đề trong quá trình xây dựng kế
hoạch để có những phương án thích hợp.
+ Cần chú ý tới đặc điểm môi trường cộng đồng, nền văn hóa, phong tục tập
quán, nơi nhân viên xã hội thực hiện kế hoạch.
+ Xem xét đặc điểm cấu trúc tổ chức, chức năng cơ quan tổ chức thực hiện.
+ Ghi chép lại những kế hoạch hành động để có thể lượng giá sự hữu hiệu
của kế hoạch trong quá trình thực hiện.
+ Đòi hỏi nhân viên xã hội có những hiểu biết và kỹ năng chuyên môn như:
kỹ năng xác định nội dung và mục tiêu hành động, kỹ năng lựa chọn nhưng phương
những nhân tố, điều kiện giúp tiến trình trị liệu diễn ra tốt hơn.
- Bƣớc 7: Lƣợng giá là việc xem xét lại toàn bộ những bộ phận trong tiến
trình công tác xã hội cá nhân để thẩm định kết quả. Lượng giá là một hoạt động liên
tục, đồng thời, dù nó là một bộ phận của tiến trình của công tác xã hội cá nhân, và
chỉ tìm được mục tiêu và biểu hiện đầy đủ sau một khoảng thời gian hoạt động.
Khi các cuộc lượng giá định kì cho thấy có sự tiến bộ hoặc không thay đổi
thì tiếp tục điều trị và ngược lại thì phải thay đổi phương pháp trị liệu.
Kết thúc quá trình trị liệu là khi vấn đề của thân chủ đã được giải quyết hoặc
sự hiện diện của nhân viên xã hội không còn cần thiết hoặc không thay đổi được
vấn đề.
Trong những trưòng hợp can thiệp trong cơn khủng hoảng thì không cần kéo
dài thời gian, ngược lại những vấn đề liên quan đến tâm lí xã hội thì cần nhiều thời
gian hơn.
12
Sau khi lượng giá phải nhìn về tương lai gần để phục vụ cho việc hình thành
một số kế hoạch sâu hơn giúp đỡ của công tác xã hội trong tiến trình công tác xã hội
cá nhân.
1.1.6 Công tác xã hội cá nhân đối với người có HIV/AIDS
Trên cơ sở phân tích những khái niệm về HIV, AIDS, người có HIV/AIDS,
công tác xã hội và công tác xã hội cá nhân, tôi đưa ra khái niệm về công tác xã hội
cá nhân đối với người có HIV như sau:
Công tác xã hội cá nhân đối với người có HIV/AIDS là phương pháp can
thiệp để giúp cá nhân đó thoát khỏi những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh
thần và chữa trị, phục hồi các chức năng xã hội thông qua tiến trình 7 bước.
Tiến trình 7 bước:
-
NVCTXH thống nhất với thân chủ về cách thức trị liệu nào hiệu quả nhất.
Xác định mục đích trị liệu là giúp thân chủ tự định hướng, thích nghi với xã hội và
đóng góp cho xã hội hay nói cách khác là giúp cho thân chủ hòa nhập với cộng
đồng. Kế hoạch được đưa ra là giúp đỡ có hệ thống, để NVCTXH tác động vào thân
chủ cũng như hoàn cảnh của họ để tạo ra sự thay đổi tích cực. Các mục tiêu đặt ra
chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: thân chủ, tình trạng khả thi của mục đích, các
nguồn lực hỗ trợ.
- Bước 6: Trị liệu.
Đây là việc sử dụng các hình thức dịch vụ vào việc giúp đỡ thân chủ nhằm
thực hiện mục tiêu đề ra, cần vận dụng linh hoạt các dữ liệu đã thu được để theo dõi
quá trình trị liệu đối với thân chủ, để các hoạt động diễn ra theo kế hoạch và huy
động các nguồn lực từ bên ngoài.
- Bước 7: Lượng giá.
Đây là bước xem xét, đánh giá quá trình trợ giúp của NVCTXH cùng với ý
chí của thân chủ đã được thay đổi như thế nào? Từ đánh giá tổng quát đó,
NVCTXH thông báo cho thân chủ biết chiều hướng tiến triển của mình theo chiều
hướng thay đổi tốt hay xấu, NVCTXH và thân chủ có thỏa mãn với kết quả đã đạt
được hay chưa? Từ đó xác định có nên tiếp tục hay dừng lại và kết thúc tiến trình.
1.1.7 Điều trị ARV
- ARV là viết tắt của Antiretroviral. Đây là chữ viết tắt thường được dùng để chỉ
một loại thuốc được chế ra nhằm làm giảm sự sinh sôi nảy nở của HIV trong cơ thể.
Nó cũng được biết đến với cách viết ART (liệu pháp kháng retro virus). Nếu điều trị
ARV hiệu quả, thì có thể làm chậm sự tiến triển hoàn toàn của AIDS trong nhiều
năm. Thuốc ARV được khuyến khích sử dụng kết hợp để ngăn chặn hình thành
kháng thuốc.
- Điều trị ARV (thuốc kháng virus) là tổng hợp một số thuốc – thường là hai loại
thuốc trở lên – đối với người nhiễm HIV, nhằm làm chậm quá trình phát triển của
HIV trong cơ thể. ARV giúp cải thiện hệ thống miễn dịch và điều đó giúp cho cơ
thể tự bảo vệ chống lại các bệnh liên quan đến AIDS. Nếu dùng thuốc đúng cách,
con người có thể sống một cuộc đời khỏe mạnh, hữu ích trong nhiều năm.
thần được trao đổi nhiều hơn trong đường biên so với ngoài đường biên. Hệ thống
còn có những khái niệm cơ bản khác như:
Hệ thống đóng là khi không có sự trao đổi lẫn nhau qua đường biên.
Hệ thống mở là khi có các năng lượng thẩm thấu qua đường biên.
Đại diện cho những người đi theo lý thuyết hệ thống : Bertalanffy (19011972), Hanson, Mancoske, Siporin, Germain, Giterman và đặc biệt Hearn là người
15
có những đóng góp sớm nhất trong việc áp dụng lí thuyết hệ thống trong công tác
xã hội. Tuy nhiên, tác động lớn nhất của lí thuyết hệ thống tới công tác xã hội phải
kể đến sự xuất hiện của hai tác phẩm được dịch thuật cùng lúc về ứng dụng những
quan điểm hệ thống trong thực hành công tác xã hội là Goldstein, Pincus và
Minahan.
Thuyết hệ thống tác động lớn đến công tác xã hội kể từ thập niên 1970 theo
nguyên tắc: con người phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội nhằm đáp
ứng những nhu cầu trực tiếp của mình trong cuộc sống. Các tư tưởng lí thuyết về hệ
thống trong công tác xã hội có nguồn gốc từ hệ thống khái quát của Von
Bertalanffy. Đây là một thuyết sinh học trong đó đề xuất rằng mọi tổ chức đều là
các hệ thống. Một người là một phần của xã hội và được làm nên bởi các hệ thống
chu kì. Các tế bào và hệ thống này đến lượt mình được làm nên bởi các nguyên tử
vốn được tạo ra bởi các phần tử nhỏ hơn. Thuyết hệ thống được áp dụng cho các hệ
thống xã hội, như các nhóm, các gia đình, các xã hội cũng như các hệ thống sinh
học. Có ba loại hệ thống có thể giúp con người:
Hệ thống thân tình/ tự nhiên như: gia đình, bạn bè, người đưa thư...
Hệ thống chính quy như: các nhóm cộng đồng, công đoàn...
Hệ thống tập trung của tổ chức xã hội như: bệnh viện hay trường học
Những người có vấn đề có thể không sử dụng hệ thống trợ giúp vì:
Những hệ thống đó không tồn tại trong cuộc sống của họ, không có những
nguồn hỗ trợ cần thiết hay thích hợp với vấn đề của họ.
trợ tâm lý-tinh thần, hỗ trợ kinh tế xã hội, hỗ trợ pháp lý nhân quyền…
1.2.2 Lý thuyết học tập
Thuyết học tập xã hội được bắt đầu từ nguồn gốc của quan điểm học tập của
Gabriel Tarde (1843 - 1904). Trong quan điểm của mình, Gabriel nhấn mạnh ý
tưởng về học tập xã hội thông qua ba qui luật bắt chước: đó là sự tiếp xúc gần gũi,
bắt chước người khác và sự kết hợp cả hai. Cá nhân học cách hành động và ứng xử
của người khác qua quan sát hoặc bắt chước.
Thuyết học tập xã hội được ứng dụng vào CTXH trong những năm 80 của
thế kỷ XX. Thuyết được sử dụng để giải thích và điều chỉnh hành vi.
Trong quá trình vận dụng thuyết học tập xã hội vào thực tế, cần chú ý một số
nguyên tắc:
Một là, hiệu quả sẽ đạt được ở mức cao nhất của học tập quan sát là thông
qua việc tái tổ chức và tập diễn lại hành vi được làm mẫu một cách tượng trưng, sau
đó thực hiện lại nó một cách cụ thể.
Hai là, mã hóa hành vi được làm mẫu đó bằng lời nói, đặt tên hoặc hình
tượng hoá kết quả, cách này còn tốt hơn là việc chỉ quan sát. Các cá nhân có thể bắt
17
chước hành vi được làm mẫu đó nếu như mô hình đó thích hợp với họ, làm họ thấy
ngưỡng mộ và nếu như nó mang lại kết quả mà họ coi là giá trị.
Vận dụng lý thuyết học tập xã hội trong tiến trình thực hành CTXH cá nhân đối
với người có HIV/AIDS trong tiếp cận điều trị ARV từ thực tiễn thành phố Hà Nội
Đối với NCH, việc vận dụng lý thuyết học tập có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc tập huấn kiến thức, kỹ năng chăm sóc bản thân. Nhìn chung, sự hiểu biết và
nhận thức đúng và đủ về những kiến thức HIV/AIDS và những phương pháp tiếp
cận điều trị trong cộng đồng vẫn còn hạn chế. Do vậy, vai trò hỗ trợ của công tác xã
hội với người có HIV là rất lớn. Thông qua các quan điểm giá trị, kiến thức, kinh
nghiệm, kỹ năng của người làm CTXH để tham gia vào việc giải quyết các vấn đề
một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội. Việc
họ được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành
người hữu dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công”. Vì
thế, con người thường có mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn
vọng và kính nể.
Nhu cầu tự hoàn thiện: A.Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách
phân cấp của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt
tới. Tức là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành được
một mục tiêu nào đó. Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con
người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và
chỉ khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng. Thuyết nhu cầu
sắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao. Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được
thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng.
Vận dụng lý thuyết nhu cầu nhằm xác định nhu cầu của NCH trong tiến trình
thực hành CTXH cá nhân đối với người có HIV/AIDS tiếp cận điều trị ARV từ thực
tiễn thành phố Hà Nội
19