Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM ĐỨC HẠNH

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
BẢO TRỢ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. BÙI THỊ MAI ĐÔNG

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi
từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình” đây là
công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực, đúng với thực tiễn nghiên cứu. Những kết luận khoa
học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ

Phạm Đức Hạnh


MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRẺ EM MỒ CÔI VÀ CÔNG TÁC XÃ
HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI ............................................................. 9
1.1. Một số lý thuyết về trẻ em và trẻ em mồ côi.............................................................. 9
1.2. Khái quát công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồi côi ....................................... 15
1.3. Một số lý thuyết ứng dụng trong công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi ... 26
1.4. Luật pháp, chính sách và các mô hình dịch vụ hỗ trợ trẻ em môi côi ..................... 31
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồi côi ............ 35
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ
EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ VÀ CÔNG TÁC XÃ
HỘI TỈNH NINH BÌNH ............................................................................................... 38
2.1. Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu ........................................................ 38
2.2. Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồi côi từ thực tiễn trung
tâm bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình ............................................................... 45
2.3. Những kết quả đạt được của hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em
mồ côi tại Trung tâm ....................................................................................................... 54
2.4. Một số hạn chế và nguyên nhân ............................................................................... 55
Chương 3: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CTXH CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ
EM MỒ CÔI TẠI TRUNG TÂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CTXH CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI PHÚC
TRÌNH LẦN THỨ NHẤT ............................................................................................ 61
3.1. Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân đối với trường hợp trẻ em mồ
côi tại trung tâm bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình ........................................... 61
3.2. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của công tác xã hội cá
nhân đối với trẻ em môi côi ............................................................................................ 72

KẾT LUẬN ......................................................................................................... 76


MỞ ĐẦU

mồ côi không nơi nương tựa.
Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội và
UNICEF, ước tính trong năm 2014 cả nước có hơn 26 triệu trẻ em dưới 16

1


tuổi (chiếm 28,7% dân số), trong đó có gần 1.468.000 em có “hoàn cảnh đặc
biệt,”. Trong số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có 170.187 trẻ em mồ côi không
nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi. (nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội) riêng tỉnh Ninh Bình năm 2014 có 230.030 trẻ em dưới 16 tuổi (chiếm
23,9% dân số), trong đó trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt 6.859 trong đó có 1.977
trẻ em mồ côi. (nguồn: thống kê của sở lao động thương binh và Xã hội). Số
trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi không nơi nương tựa là nhóm trẻ em dễ bị tổn thương
và mất nguồn nuôi dưỡng dẫn đến thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần.
Trong những năm qua, kể từ khi Đề án Số: 32/2010/QĐ-TTg về phát
triển nghề CTXH ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 được triển khai thực hiện,
CTXH nói chung, CTXH với trẻ em mồ côi nói riêng, đã có sự phát triển,
ngày càng được nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả hoạt động. Tuy
nhiên, công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại cộng đồng cũng như
trong các cơ sở bảo trợ xã hội, các trung tâm cung cấp dịch vụ xã hội còn hạn
chế bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân khách quan
và nguyên nhân chủ quan: Công tác xã hội là một nghề còn non trẻ ở Việt
Nam; Khung pháp lý cho nghề Công tác xã hội nói chung, cho Công tác xã
hội cá nhân với trẻ em mồ côi nói riêng, còn thiếu và chưa đồng bộ; Các hoạt
động tại các trung tâm chủ yếu là chăm sóc nuôi dưỡng, chưa chú trọng các
hoạt động của Công tác xã hội; Đội ngũ nhân viên Công tác xã hội được đào
tạo chính quy về nghề Công tác xã hội trong các cơ sở bảo trợ xã hội còn ít
nên tính chuyên nghiệp, kỹ năng trong các họat động chưa cao; điều kiện kinh
tế của nhân viên làm công tác xã hội chưa được đáp ứng do đó họ còn phải lo

nỗ lực của các địa phương trong việc triển khai thí điểm các hoạt động cung
cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em theo 3 cấp độ: cấp độ I là phòng ngừa; cấp độ II là
phát hiện, can thiệp sớm để loại bỏ nguy cơ; cấp độ III là trợ giúp, phục hồi
hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói chung và trẻ em mồ
côi nói riêng cũng được nhiều địa phương quan tâm. Việc tổ chức cung cấp
dịch vụ bảo vệ trẻ em cũng rất chú trọng tới việc “kết nối dịch vụ bảo vệ trẻ
em liên tục” nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách và bảo đảm an toàn của trẻ em.
Các hoạt động tư vấn, vận động, giáo dục đến tận gia đình, cộng đồng; tư vấn
tại Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội, thực hiện quy trình CTXH cá nhân
tại Trung tâm và cộng đồng đã được triển khai thí điểm ở các địa phương, góp
phần quan trọng vào việc giảm thiểu các nguy cơ dẫn đến trẻ em rơi vào hoàn
cảnh đặc biệt, nguy cơ thất học, bỏ học, nguy cơ lang thang, lao động kiếm
sống [5, tr. 8].
Tài liệu “giảng dạy về công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong thời kỳ
mới” ( năm 2011) của trường cán bộ phụ nữ Trung ương. Đã chỉ ra các vấn đề
cơ bản của trẻ em và những thách thức mới trong tương lai đối với công tác
bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập đó là:
Vấn đề bất bình đẳng về cơ hội phát triển; Sự xao nhãng đối với trẻ em;
Một số quyền của trẻ em chưa được thực hiện đầy đủ; Những tác động không
mong muốn của việc tiếp cận công nghệ thông tin trong quá trình phát triển

3


và hội nhập; Hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em chưa phát triển, chưa
đáp ứng nhu cầu cần được bảo vệ của trẻ em.
Chỉ ra các tác động của CNH - HĐH và hội nhập đến các chức năng bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của gia đình và thực trạng những vấn đề cơ
bản của trẻ em trong bối cảnh CNH - HĐH và hội nhập.


4


trong những hình thức chăm sóc thay thế cho trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt;
tốc độ tăng các nguồn lực dành cho trẻ em cần sự bảo vệ đặc biệt trong những
năm gần đây đang chậm lại [25, tr. 214].
2.2. Tình hình nghiên cứu về Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em
mồ côi.
Bài viết “Thực trạng các mô hình cung cấp dịch vụ xã hội đối với trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS. Bùi Thị Xuân
Mai – trường Đai học Lao động xã hội đã chỉ ra thực trạng vấn đề khó khăn
của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đó là vấn đề khó khăn trong cuộc sống
nhiều thiếu thốn về kinh tế, sức khỏe, học tập, trong giao tiếp hòa nhập xã hội,
tâm lý của trẻ. chỉ ra thực trạng nhu cầu dịch vụ của trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt, chủ yếu trợ giúp về chính sách, trợ cấp hàng tháng chiếm tỷ lệ cao nhất
với 82%, phản ánh một phần nhu cầu thực tiễn của nhóm trẻ em, cho thấy tâm
lý mong chờ vào chính sách được cung cấp hơn là sự chủ động tìm tới các
dịch vụ trợ giúp mang tính bền vững; bài viết đã đánh giá tình hình thực tế
của các mô hình cung cấp dịch vụ xã hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
trong đó có nhóm trẻ em mồ côi, đã chỉ ra mặt tích cực và hạn chế của các mô
hình.
Đề tài “Công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm
Công tác xã hội tỉnh Nghệ An” của Th.s. Ngô Thị Hiền ( năm 2015) đã đưa
ra được những khó khăn, tồn tại trong hoạt động chăm sóc trẻ em mồ côi tại
Trung tâm CTXH tỉnh Nghệ An. Như trẻ em mồ côi tại trung tâm chưa được
tiếp cận, thừa hưởng đầy đủ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế, vui chơi,
giải trí; việc phục hồi chức năng, hòa nhập cộng đồng còn hạn chế do thiếu
phương tiện, chương trình, kinh phí, nguồn nhân lực thực hiện; các dịch vụ
CTXH cho trẻ em mồ côi tại Trung tâm chưa được thực hiện một cách chuyên

- Đánh giá kết quả hoạt động của CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi
tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình, chỉ ra những tồn tại,
hạn chế những thiếu sót bất cập của hoạt động, đồng thời chỉ ra nguyên nhân
những hạn chế, thiếu sót đó.
- Ứng dụng, thử nghiệm CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại Trung
tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình.
- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả các
hoạt động của CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi, nâng cao tính chuyên
nghiệp của CTXH với trẻ em Mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội
tỉnh Ninh Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ và
Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu trẻ em mồ côi được chăm sóc
nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình
- Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Tiến trình công tác xã hội cá nhân

6


- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đối tượng là trẻ em mồ côi tại Trung
tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp lý luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực trạng
về trẻ em, khó khăn, đặc điểm và nhu cầu của trẻ em mồ côi trên cơ cở thực
tiễn để đúc rút thành lý luận và những đề xuất thực tiễn, chính sách pháp luật.
Nghiên cứu các vấn đề trong hệ thống những lý thuyết có liên quan như


Ngoài ra đề tài nghiên cứu còn sử dụng thêm các phương pháp như:
Thống kê, lịch sử, xã hội học, tâm lý học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn tại Trung
tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Ninh Bình vừa có ý nghĩa về mặt lý luận,
vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn.
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ và phong phú hơn các lý thuyết về
CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi; tính hợp lý của các thuyết trong CTXH
được sử dụng trong quá trình trợ giúp trẻ em mồ côi dễ bị tổn thương dưới
cách tiếp cận CTXH.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu giúp nâng cao nhận thức của các cấp các ngành và
toàn xã hội về vai trò của nghề CTXH, các nhân viên CTXH; góp phần nâng
cao hiệu quả CTXH cá nhân tại Trung tâm.
Kết quả nghiên cứu thực tiễn là căn cứ để lãnh đạo, cán bộ trong Trung
tâm tham khảo để đổi mới công tác quản lý chỉ đạo và thực hiện chính sách
đối với trẻ em mồ côi; Kết quả nghiên cứu của luận văn, đặc biệt là kết quả
thử nghiệm với trẻ em mồ côi tại Trung tâm của nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho
việc hoạch định cơ chế chính sách và xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề
án, chiến lược bảo vệ trẻ em, cung cấp các dịch vụ công tác xã hội chuyên
nghiệp cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em mồ côi tại tỉnh Ninh Bình.
Bên cạnh đó, sản phẩm của đề tài nghiên cứu còn có thể được vận dụng
làm tài liệu tham khảo của các nhà nghiên cứu, các đơn vị, cá nhân.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về trẻ em mồ côi và CTXH cá nhân đối với trẻ
em mồ côi.

định những người đủ 15 tuổi trở lên để xếp vào lực lượng lao động nhưng vẫn
khuyến khích các em độ tuổi từ 15-18 đến trường. Tiếp cận theo Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 2004, trẻ em là người dưới 16
tuổi [11, tr. 1]. Tiếp cận khía cạnh pháp luật có qui định thêm tuổi vị thành
niên 16-18 tuổi.
Trẻ em trước hết được hiểu đó là con người phải được hưởng mọi
quyền “không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da,
giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm, nguồn gốc dân tộc
và xã hội, tài sản dòng dõi và mối tương quan khác”. Nhưng trẻ em lại là
người chưa trưởng thành nên có quyền được chăm sóc, tồn tại, phát triển,
được bảo vệ và được bày tỏ ý kiến, thể hiện: quyền được sống với cha mẹ,
được đoàn tụ với gia đình, được tự do tin tưởng tín ngưỡng tôn giáo, được bảo
vệ đời tư, tiếp xúc thông tin, được bảo vệ khỏi áp bức và tổn thương về thể

9


chất và tinh thần, được chăm sóc và nuôi dưỡng khi bị tước mất môi trường
gia đình, được hưởng những sự chăm sóc đặc biệt đối với trẻ em bị khuyết tật
về trí tuệ và thể chất, được hưởng trạng thái sức khỏe cao nhất và các dịch vụ
chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, được hưởng an toàn xã hội, được có mức sống
để phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần đạo đức và xã hội, được nghỉ ngơi,
giải trí, vui chơi, được bảo vệ khỏi sự bóc lột về kinh tế và các công việc nguy
hiểm nặng nhọc và độc hại, được bảo vệ chống lại việc sử dụng các chất ma
túy và an thần, được bảo vệ chống bị bóc lột, cưỡng bức, lạm dụng về tình
dục, được phục hồi về thể chất, tâm lý và tái hòa nhập xã hội.
- Trẻ em mồ côi: Theo quan niệm truyền thống: “Trẻ em mồ côi là trẻ
em có cha và mẹ bị chết hoặc cha hoặc mẹ bị chết”. Như vậy, với quan điểm
này mới chỉ phản ánh được sự mất mát của người cha hoặc mẹ với đứa trẻ.
Trong thực tế và nhất là những năm gần đây đã xuất hiện những trẻ em đang

nhập và sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cũng làm cho các em trở
nên dễ bị tổn thương hơn. Các giá trị gia đình đang bị băng hoại và tình trạng
phân biệt đối xử về giới cũng ảnh hưởng xấu tới trẻ em. Các vấn đề bất cập
mang tính hệ thống như thiếu một khung pháp lý toàn diện, việc thực thi pháp
luật còn yếu và nhận thức về vấn đề bảo vệ trẻ em còn hạn chế cũng đe dọa
ảnh hưởng tới trẻ em.
- Đặc điểm tâm lý: Trẻ em nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng đang
phải chịu những tác động mạnh mẽ bởi rất nhiều yếu tố tiêu cực của môi
trường xung quanh, điều đó có thể dẫn đến những vấn đề nguy hại với tâm lý
và sự hình thành nhân cách của trẻ. Trẻ em mồ côi là nhóm trẻ không được
sống và lớn lên trong điều kiện bình thường như các trẻ em khác. Các em phải
trải qua, phải chịu đựng và phải đối phó với những biến cố đặc biệt xảy ra
trong giai đoạn tuổi thơ của mình. Những biến cố này tác động không nhỏ đến
cuộc sống, tâm sinh lý và sự trưởng thành của các em, do đó các em có những
đặc điểm tâm lý riêng mang tính đặc thù như:
Khó diễn tả cảm xúc bằng lời: Có thể do trẻ bị choáng ngợp bởi chính
tâm trạng của mình và muốn đè nén những tâm trạng đó hoặc trẻ chưa bao giờ
được khuyến khích để tự nói về mình và không có đủ lời để diễn tả tâm trạng.
Hoài nghi, thiếu tin tưởng và có đủ lý do để ngờ vực. Những trường
hợp các bậc cha mẹ bỏ mặc trẻ mà đi, hoặc bỏ rơi trẻ khi trẻ còn nhỏ dẫn đến
trẻ thiếu tin tưởng vào người lớn.
Mặc cảm có tội, tự trách mình: như mặc cảm với bạn bè cùng trang lứa vì
không được như các bạn, không được bố mẹ đẻ của mình bảo vệ, chăm sóc, nuôi
dưỡng như các bạn và luôn tự trách bản thân mình một cách vô cớ.
Giận dữ và có ác cảm: Một số trẻ tức giận người lớn vì bị bạc đãi hoặc
không được chăm sóc phù hợp hoặc có thể do các em cứ đinh ninh sẽ bị phê
bình hoặc trừng phạt.
Không nói thật: Vì trẻ ước mơ một hoàn cảnh khác, tránh né những vấn
đề đau thương, sợ bị hậu quả xấu, trẻ cố gắng muốn lấy lòng người lớn, cố ý


thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng, khám chữa bệnh
cho trẻ em.
Nhưng trên thực tế trẻ em mồ côi do thiếu sự quan tâm, chăm sóc của
gia đình, người thân, các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội cũng không
thể quan tâm tới tất cả các em trong nhóm trẻ này nên có nhiều trẻ vẫn không
tiếp cận được với các dịch vụ y tế mà đáng lẽ các em được hưởng (do không ý
thức được tầm quan trọng của nó hoặc do không biết) như: Dịch vụ chăm sóc
sức khoẻ ban đầu cho trẻ em như khám chữa bệnh, tiêm chủng vắc xin, uống

12


vitamin A… rất quan trọng. Những chương trình hỗ trợ của Nhà nước để trẻ
em mồ côi được chăm sóc sức khỏe y tế các em cũng không được biết đến.
Ngoài những khó khăn về điều kiện chăm sóc sức khỏe thể chất, trẻ em
mồ côi còn có những khó khăn trong đời sống tinh thần. Mặc dù việc chăm
sóc sức khỏe tinh thần không quá tốn kém nhiều kinh phí, người chăm sóc chỉ
cần yêu thương, quan tâm đến trẻ bằng chính những hành động thiết thực của
mình như an ủi trẻ, trò chuyện với trẻ, thường xuyên hỏi thăm tình hình của
trẻ, vui chơi cùng trẻ, khuyến khích trẻ trong cuộc sống… Nhưng trên thực tế
một số trẻ không có được những mối quan tâm đơn giản như vậy do các em
không có cha mẹ, hoặc cha mẹ mất sớm, bỏ rơi con cái… nên đời sống tinh
thần của các em không được quan tâm đúng mức ảnh hưởng rất lớn về tâm lý
đối với trẻ.
- Khó khă trong vui chơi giải trí
Vui chơi giải trí không chỉ giúp trẻ giải tỏa căng thẳng trong học tập mà
còn giúp trẻ học được nhiều điều trong cuộc sống như thích ứng xã hội, phát
triển trí tưởng tượng, học cách giao lưu học hỏi người khác… Trẻ em mồ côi
cũng là trẻ em và tất nhiên quyền vui chơi giải trí là cần thiết và quan trọng đối
với sự phát triển của trẻ. Vui chơi giải trí càng cần thiết để các em hòa nhập với

những công việc giản đơn, lao động chân tay nặng nhọc lương thấp. Có một
số trẻ mồ côi thuộc đối tượng bảo trợ xã hội vẫn đang được đến trường. Tuy
nhiên, điều kiện học tập còn nhiều khó khăn như thiếu thốn nhiều về quần áo,
sách vở và dụng cụ học tập, chưa kể đến trẻ không có không gian học tập tại
nhà hay chưa được chăm sóc đủ sức khỏe để học tập.
1.1.2.2. Nhu cầu: Trẻ em mồ côi cũng như các nhóm trẻ em khác đều
có các nhu cầu như các trẻ bình thường, nhưng để đáp ứng được các nhu cầu
đó thì nhóm trẻ em mồ côi luôn gặp khó khăn hơn, cụ thể các nhu cầu sau:
- Nhu cầu về sinh lý: Được ăn uống đủ chất, được mặc ấm, vệ sinh đảm
bảo cho sự phát triển về mặt thể chất của trẻ. Đối với trẻ em mồ côi nhu cầu
này chưa được đáp ứng ăn chưa đủ no, mặc chưa đủ ấm sống ở môi trường vệ
sinh chưa đảm bảo.
- Nhu cầu được an toàn: Được bảo vệ thân thể, được chăm sóc sức
khỏe, tinh thần cho trẻ. Đối với trẻ em mồ côi thiếu sự bảo vệ và chăm sóc
của cha mẹ nên rất dễ bị xâm hại về thân thể cũng như không được chăm sóc
về sức khỏe, tinh thần. Do đó các em rất cần một môi trường an toàn và được
bảo vệ chăm sóc để các em có điều kiện phát triển.
- Nhu cầu xã hội: Được yêu thương, có một gia đình yên ấm, được giao
lưu quan hệ với bạn bè, được vui chơi giải trí, được hòa mình vào xã hội. Đối
với trẻ em mồ côi thì mái ấm gia đình có đầy đủ cha mẹ, anh chị em ruột luôn
là một khát khao của các em, các em không có điều kiện để vui chơi giải trí
hòa nhập với bạn bè, xã hội đây là sự thiệt thòi rất lớn đối với các em.
- Nhu cầu được tôn trọng: Được hỏi ý kiến, được tham gia ra quyết
định, trẻ luôn đòi hỏi nhu cầu này từ người lớn, ở bạn bè và ở cha mẹ. sự tôn
trọng này sẽ làm tăng sự tự tin, nghị lực của trẻ. Nhưng đối với trẻ em mồ côi
thì nhu cầu này rất khó được đáp ứng.

14



sau: CTXH là một khoa học, là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm
trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu

15


cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về
chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng
giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
1.2.1.2 Khái niệm công tác xã hội cá nhân.
Có nhiều học giả, nhà khoa học trong nước và nước ngoài đưa ra nhiều
khái niệm và định nghĩa về công tác xã hội cá nhân. Trong luận văn này, khái
niệm CTXH cá nhân được khái quát từ nhiều khái niệm khác nhau; cụ thể:
CTXH cá nhân là phương pháp của CTXH thông qua tiến trình giúp đỡ khoa
học và chuyên nghiệp, nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết
vấn đề của mình. Trong tiến trình này NVXH cần biết vận dụng nền tảng kiến
thức khoa học tâm lí học, xã hội học và các khoa học xã hội liên quan khác,
đồng thời sử dụng kỹ năng tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, sát cánh cùng đối
tượng hỗ trợ họ tự giải giải quyết vấn đề của bản thân và có khả năng vượt
qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai.
1.2.. Khái niệm công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi
CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi là phương pháp của CTXH thông
qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nhằm can thiệp, hỗ trợ trẻ
em mồ côi. Đây là một quá trình có sự tham gia của trẻ và người nuôi dưỡng,
giám hộ trẻ vào việc xác định vấn đề, lên kế hoạch giải quyết vấn đề và hỗ trợ
trẻ thực hiện các kế hoạch đã đề ra để đạt được mục tiêu mong muốn, trong
quá trình này nhân viên xã hội có nhiệm vụ tìm kiếm, kết nối và điều phối các
dịch vụ hỗ trợ, giúp đỡ trẻ phát huy các nguồn lực bên trong ( như các nguồn
lực về sức khỏe, thể chất, tâm lý, các quan hệ của trẻ) và có thể kết nối với
bên ngoài (cộng đồng, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể cung cấp các dịch

trợ giúp này thông qua tìm kiếm các nguồn lực, điều phối việc cung cấp các
dịch vụ và nguồn lực liên quan đến nhu cầu của trẻ. Do vậy, thúc đẩy và vận
động xã hội để có được hệ thống dịch vụ tốt hơn sẽ trợ giúp cho hoạt động
nghề nghiệp đạt hiệu quả hơn.
- Thu hút sự tham gia của trẻ, gia đình, cộng đồng và các nhà cung cấp
dịch vụ vào tiến trình trợ giúp:
CTXH cá nhân là một phương pháp CTXH, do vậy, việc tuân thủ các
phương pháp tiếp cận dựa trên các giá trị triết lý nghề nghiệp được đề cao.
Thu hút sự tham gia của cá nhân trẻ, gia đình trẻ, cộng đồng và các nhà cung
cấp dịch vụ sẽ chứng tỏ được nền tảng triết lý của CTXH là: mỗi cá nhân đều
có sức mạnh họ ở trong hoàn cảnh nào; giữa các cá nhân, gia đình, cộng đồng
và xã hội luôn có mối quan hệ tương tác; cá nhân có trách nhiệm với gia đình
và cộng đồng, ngược lại, gia đình, cộng đồng và xã hội phải có trách nhiệm
với mỗi cá nhân.
- Cung cấp các dịch vụ trợ giúp thích hợp, liên tục, toàn diện và hiệu
quả:
Hiệu quả trợ giúp đối tượng chỉ đạt được khi nó được thực hiện dựa
trên một kế hoạch khả thi, phù hợp với nhu cầu của trẻ. Hoạt động trợ giúp
các gói dịch vụ mang tính toàn diện cần được duy trì liên tục cho tới khi trẻ

17


“phục hồi”, có khả năng tự lực trong cuộc sống. Ngoài ra, khi xây dựng kế
hoạch can thiệp, nhân viên CTXH cần có trách nhiệm với cơ quan tổ chức khi
lưu ý tới tính hiệu quả của dịch vụ để đảm bảo tiết kiệm tối đa chi phí nhưng
phải đảm bảo chất lượng dịch vụ.
- Đảm bảo công bằng:
Đảm bảo công bằng trong CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi có
nghĩa là mỗi trẻ đều có quyền như nhau khi tiếp cận dịch vụ, điều đó có nghĩa



khách quan và đảm bảo yêu cầu của chuyên môn. Nguyên tắc này giúp cho
nhân viên CTXH đảm bảo tính khách quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ,
đảm bảo sự công bằng trong giúp đỡ.
- Trao quyền cho đối tượng:
Trao quyền trong CTXH cá nhân đối với trẻ em mồ côi là việc tôn
trọng sự khác biệt của mỗi trẻ dành quyền tự quyết cho trẻ hoặc người chăm
sóc, nuôi dưỡng trẻ. Xây dựng kế hoạch dựa trên tiềm năng và lợi ích của mỗi
trẻ, tạo cơ hội tham gia và tăng khả năng tự đáp ứng của trẻ. Để làm tốt
nguyên tắc này, nhân viên CTXH cần đảm bảo sự tham gia của họ trong cả
tiến trình từ thu thập thông tin, đánh giá xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch
và triển khai thực hiện kế hoạch cũng như đánh giá dịch vụ. Ngoài ra, nhân
viên CTXH cần trang bị cho trẻ/người chăm sóc, nuôi dưỡng các kỹ năng điều
phối dịch vụ và các kỹ năng phát triển khác, đặc biệt là khuyến khích họ trong
việc tham gia tìm kiếm và huy động các nguồn lực của mình vào giải quyết
vấn đề khó khăn của chính mình.
1.2.3. Tiến trình công tác xã hội cá nhân
1.2.3.1. Thu thập thông tin và xác định vấn đề của đối tượng
Trước hết, nhân viên CTXH phải tiếp nhận thông tin về trẻ có thể từ
những kênh thông tin khác nhau (gặp trực tiếp, thông qua cá nhân, tổ chức,
đài báo…). Nhân viên CTXH phải bằng mọi cách khai thác những thông tin
cần thiết từ trẻ hoặc người nuôi dưỡng trẻ hoặc người cung cấp thông tin và
những người có liên quan khác để thu thập các thông tin của trẻ về: Tên, tuổi,
giới tính, địa chỉ, số điện thoại liên hệ, thông tin người nuôi dưỡng/giám hộ,
tình trạng sức khỏe, thể chất và tâm lý của trẻ, môi trường sống hiện tại của
trẻ ..., đảm bảo thông tin tiếp nhận đủ để đánh giá về các vấn đề của trẻ đang
gặp phải để đưa ra các biện pháp hỗ trợ kịp thời, đặc biệt trong tình huống cần
hỗ trợ khẩn cấp đảm bảo an toàn tính mạng của trẻ. Để thực hiện nhiệm vụ
này, nhân viên CTXH cần phối hợp với cán bộ, chính quyền địa phương, các

Mục đích của việc xây dựng kế hoạch là hệ thống những công việc
cần can thiệp; đồng thời sắp xếp công việc theo thứ tự ưu tiên trong một thời
gian nhất định, đáp ứng đúng nhu cầu cấp thiết của trẻ. Đôi khi nhiều hoạt
động diễn ra trong cùng một lúc. Do đó, sắp xếp thứ tự ưu tiên một cách khoa
học sẽ tăng hiệu quả hoạt động, tránh trùng lặp, lộn xộn, lãng phí thời gian và
khó theo dõi, giám sát. Các bước trong xây dựng kế hoạch can thiệp:
- Xây dựng mục tiêu, xác định thời gian
Trong lập kế hoạch, mục tiêu phải đảm bảo 05 yếu tố: cụ thể (Ai, cái gì,
ở đâu?); Mục tiêu phải đo được mức độ thay đổi / chuyển đổi của trẻ; Mục
tiêu phải đảm bảo tính khả khi và đảm bảo tính thực tế (Đáp ứng được đúng
nhu cầu của trẻ); phản ánh được kết quả cần đạt được trong thời gian nhất
định.
- Xây dựng kế hoạch trợ giúp theo từng mốc thời gian.
- Xác định nguồn lực hỗ trợ:
Là sự tham dự của các cá nhân, tổ chức có liên quan, của chính trẻ để
giải quyết vấn đề; Cần xác định: Ai tham gia, mức độ tham gia, thời điểm

20


tham gia. Việc tham gia giúp các cá nhân, tổ chức có liên quan xác định được
những khó khăn, nhu cầu của trẻ. Trên cơ sở đó có trách nhiệm lập kế hoạch
để đáp ứng nhu cầu của trẻ giúp kế hoạch có tính bền vững và khả thi cao.
Xây dựng kế hoạch trên những thông tin thu thập được từ chính thân
chủ và hiểu biết của nhân viên xã hội về các hệ thống hỗ trợ, hệ thống mục
tiêu, kế hoạch phải mang tính bao quát ở các mức can thiệp khác nhau.
1.2.3.4. Thực hiện kế hoạch
Đây là giai đoạn cần nhiều thời gian nhất trong toàn bộ tiến trình
CTXH cá nhân. Nhân viên CTXH nhận trách nhiệm chính trong triển khai và
giám sát mọi hoạt động của kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status