Công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn làng trẻ em birla hà nội - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ KIM DUNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
TỪ THỰC TIỄN LÀNG TRẺ EM BIRLA HÀ NỘI

Chuyên ngành : CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số:

60900101

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN HẢI HỮU

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp “Công tác xã hội nhóm đối với trẻ em
mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em Birla Hà Nội” này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Hải Hữu.
Đề tài này chưa được công bố ở đâu và không trùng lặp với bất cứ đề tài nào
đã được công bố.
Các nội dung có liên quan đến các số liệu, trích dẫn đều được ghi rõ ở phần
tài liệu tham khảo. Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.


MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BTXH

Bảo trợ xã hội

CBQL

Cán bộ quản lý

GD KNS

Giáo dục kỹ năng sống

KNGT

Kỹ năng giao tiếp

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội

SLĐTB&XH HN

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Hà Nội

GVI

Glocal Venturel, Inc - là tổ chức phi lợi nhuận của Mỹ


em sẽ là đối tượng đầu tiên dễ bị tổn thương nhất, gánh chịu nhiều thiệt thòi và ảnh
hưởng không tốt cho sự phát triển của bản thân. Đối với trẻ em nói chung đã là như
vậy còn đối với trẻ em mồ côi cần sự bảo vệ đặc biệt thì mức độ rủi ro có thể do
môi trường gây ra cho các em sẽ có ảnh hưởng tiêu cực lớn hơn rất nhiều.
Vậy nên, trong những năm qua Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm
sâu sát đến công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành và sự phối hợp có hiệu
quả của các đoàn thể, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trong công tác bảo vệ
chăm sóc trẻ em nói chung và công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn nói riêng ngày càng được xã hội hoá. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn đã nhận được các dự án hỗ trợ và đạt được nhiều kết quả khả quan. Các tổ
chức xã hội, mái ấm, nhà mở trong công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
thường tổ chức các hoạt động nhằm mục đích giúp các em hoà nhập với cuộc sống,
Làng trẻ em Birla Hà Nội cũng là một trong các cơ sở bảo trợ xã hội đó. Ngoài việc
tạo điều kiện cho các em đến trường học kiến thức, Làng trẻ còn tổ chức các lớp
dạy nghề, tập huấn kỹ năng sống để giúp các em hoà nhập cộng đồng và đã đạt
những thành công nhất định. Tuy nhiên, khi thật sự hoà nhập cộng đồng những khó
khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức gì sẽ đến với trẻ? Khả năng hoà nhập cộng
đồng của trẻ như thế nào? Vai trò của nhân viên công tác xã hội ở Làng trẻ này ra
sao? Các chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đã thực sự đáp ứng nhu cầu của
các em chưa và các tổ chức, cá nhân trong xã hội đã hỗ trợ gì cho các em để các em
từng bước tiếp cận, phát triển một cách toàn diện và hoà nhập cộng đồng khi các em

1


đến tuổi trưởng thành. Chính vì lý do trên, nên tôi chọn đề tài nghiên cứu “Công tác
xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em Birla Hà Nội”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về “Trẻ em” nói chung và về “Trẻ em có hoàn cảnh đặc


Lê Bạch Dương và các tác giả (2005) đã biên soạn tài liệu “Bảo trợ xã hội cho
những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam”.
Nguyễn Ngọc Toản (2011) biên soạn sách chuyên khảo về “Xây dựng và hoàn
thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam”.
Vũ Kim Hoa (2008) nghiên cứu chuyên đề về “Chăm sóc trẻ mồ côi, bỏ rơi
thông qua chăm sóc thay thế”.
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội (2014) nghiên cứu rà soát,
thống kê trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị nhiễm
HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ
em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm hoạ dựa vào cộng đồng trên địa bàn Thành phố
Hà Nội năm 2014.
Tuy nhiên, tiếp cận từ góc nhìn công tác xã hội đối với nhóm trẻ em mồ côi
(trong độ tuổi từ 16-18 tuổi) không nơi nương tựa đang sinh sống, học tập tại Làng
trẻ em Birla Hà Nội về việc làm thế nào giúp các em có kiến thức, kỹ năng để ứng
phó với những biến động của cuộc sống, hoà nhập cộng đồng khi các em trưởng
thành trở về địa phương tiếp tục sinh sống thì hầu như chưa có công trình nghiên
cứu chính thức nào đề cập tới. Đây là một trong những lý do chính mà tôi lựa chọn
thực hiện nghiên cứu về vấn đề này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về trẻ em mồ côi (đặc biệt về trẻ em mồ
côi ở trong các cơ sở Bảo trợ Xã hội, các Làng trẻ...) và những yếu tố ảnh hưởng tới
việc hoà nhập cộng đồng. Tìm ra những khó khăn, thách thức, cơ hội và những mong
muốn của các em khi chuẩn bị rời khỏi Làng trẻ để bắt đầu cuộc sống mới. Trên cơ sở
đó nghiên cứu vận dụng quy trình CTXH nhóm để hỗ trợ trẻ em mồ côi tìm ra các
giải pháp hỗ trợ giúp các em hoà nhập với cộng đồng xã hội dễ dàng hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đề tài hướng vào giải quyết những nhiệm vụ chủ
yếu sau:

thành hoà nhập cộng đồng khi các em trở về quê hương. Ngoài ra còn có các báo cáo,
khảo sát khác của các tổ chức trong và ngoài nước. Trong luận văn tác giả sử dụng số
liệu từ nguồn này và có những phần sử dụng dữ liệu khác có trích dẫn nguồn.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu

4


Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu nhằm tìm hiểu, bổ sung và tích lũy
vốn tri thức lý luận liên quan đến luận văn ở nhiều góc độ: Tâm lý học, CTXH, xã
hội học, giáo dục đặc biệt, đồng thời nghiên cứu những chính sách, văn bản pháp
luật trong nước và quốc tế về chăm sóc hỗ trợ cho nhóm trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn (trong đó có trẻ em mồ côi), các công trình nghiên cứu khoa học về mảng trẻ
em và giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm cho trẻ em và gia đình các em có hoàn cảnh
khó khăn. Đây là cơ sở cho việc xây dựng phương pháp khảo sát (điều tra), phân
tích tâm lý trẻ em đang trong độ tuổi đến trường, tìm hiểu thực trạng khó khăn của trẻ em
mồ côi của Làng trẻ em Birla Hà Nội khi hoà nhập cộng đồng.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phân tích tài liệu từ nguồn tài liệu thu thập
được như internet, sách, báo, phim ảnh… trên cơ sở đó phân tích và sàng lọc những
thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ đó kết hợp với việc tham khảo một số
đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn có liên quan đến vấn đề trẻ em và giáo dục,
đào tạo dạy nghề cho trẻ em để tham khảo thêm về phương pháp nghiên cứu làm cơ
sở bổ sung cho luận văn của mình.
4.2.2. Phương pháp phỏng vấn nhóm
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu tác giả đã sử dụng phương pháp
phỏng vấn nhóm với trẻ từ 16 – 18 tuổi. Tác giả thực hiện 5 cuộc phỏng vấn nhóm
với 26 đối tượng là nhóm trẻ em đã được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc và giáo dục
hiện đang sống trong 04 gia đình lớn trong Làng trẻ em Birla Hà Nội. Đối tượng
khảo sát là 26 trẻ em có khả năng nhận thức tốt có các mức độ khó khăn khác nhau,

tháng 6 năm 2016.
5.2. Khách thể nghiên cứu
- 26 em hiện đang được nuôi dưỡng tại Làng trẻ em Birla Hà Nội trong độ tuổi từ
16 đến 18 tuổi.
- 30 em đã từng sống tại Làng trẻ em Birla Hà Nội, hiện đã trưởng thành trở về sinh
sống tại địa phương (trong những năm: 2012, 2013, 2014).
- Lãnh đạo Làng trẻ em Birla Hà Nội.
- Nhân viên công tác xã hội trong tại Làng trẻ em Birla Hà Nội.
- Cộng đồng - chính quyền địa phương (nơi trẻ về sinh sống khi hết tuổi nuôi dưỡng
tập trung tại Làng trẻ em Birla Hà Nội).
5.3. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn
Làng trẻ em Birla Hà Nội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6


6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài nghiên cứu đã áp dụng hệ thống lý thuyết và phương pháp CTXH
nhóm vào thực tiễn can thiệp trợ giúp cho đối tượng CTXH đang hướng tới đó là:
Hỗ trợ trẻ mồ côi tiếp cận các dịch vụ chăm sóc, giáo dục đặc biệt là ý nghĩa của
việc học tập các KNS ứng dụng vào thực tiễn khi hoà nhập cộng đồng.
Ngoài ra, luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo cho NVCTXH; sinh viên
chuyên ngành CTXH; các cơ quan đoàn thể liên quan tới nuôi dưỡng, chăm sóc và
giáo dục trẻ mồ côi; các gia đình nhận nuôi trẻ em mồ côi theo mô hình “chăm sóc
thay thế”… trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục giúp trẻ phát triển toàn
diện và hoà nhập cộng đồng bền vững.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Đề tài mang tính thực tiễn và hiệu quả trợ giúp cao tới nhóm trẻ mồ côi

những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (trẻ mồ côi) để các em có thể yên tâm học tập
và định hướng tương lai cho chính bản thân sau này.
6.5. Ý nghĩa đối với tác giả nghiên cứu
Thông qua quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả nghiên cứu có thêm cơ hội học
hỏi, trau dồi kỹ năng nghiên cứu khoa học. Đây cũng là cơ hội tốt để tác giả tích
lũy thêm các kiến thức, rèn luyện một số kỹ năng trong một số hoạt động hỗ trợ
của công tác xã hội.
7. Cơ cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em
Birla Hà Nội.
Chương 3: Vận dụng công tác xã hội nhóm trong giải quyết vấn đề tiếp cận dịch vụ
giáo dục kỹ năng sống ứng dụng vào thực tiễn Làng trẻ em Birla Hà Nội.

8


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi
1.1.1. Công tác xã hội
Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng
cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn
lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa
các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Có nhiều các khái niệm, định nghĩa khác nhau về công tác xã hội, nhưng nhìn
chung các khái quan niệm đều thống nhất:
Thứ nhất, công tác xã hội là một nghề, một khoa học ứng dụng, một dịch vụ

nhiệm vai trò khác nhau như khuyên bảo, người hỗ trợ, người tuyên truyền, người
trung gian và người tạo điều kiện. {Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2014),
Thuật ngữ Lao động – Xã hội, NXB KHKT}
1.1.4. Khái niệm trẻ em
Trẻ em là người dưới 16 tuổi (Luật trẻ em năm 2016)
1.1.5. Khái niệm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi
Theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, việc xếp trẻ em mồ côi, không nơi
nương tựa, bị bỏ rơi vào một nhóm là vì đặc điểm của nhóm trẻ em này là không có
bố mẹ hoặc vì lý do nào đó không được sống cùng bố mẹ: “Trẻ em tạm thời hoặc
hoàn toàn không được sống trong môi trường gia đình hoặc vì lý do ảnh hưởng đến
lợi ích của một cá nhân không được quyền tiếp tục sống trong môi trường gia đình
sẽ có quyền được nhận sự trợ giúp và bảo vệ đặc biệt của Nhà nước” [21].
1.1.6. Khái niệm Cộng đồng

“Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con người
sống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh
học nào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào
đấy” (Trung tâm Nghiên cứu và Tập huấn PTCĐ)
1.1.7. Hoà nhập cộng đồng
Hòa nhập cộng đồng theo nghĩa rộng là một xã hội không có rào cản cho mọi
người trong việc tham gia vào các hoạt động đời sống xã hội. Trong tiến trình xã

10


hội hóa của cá nhân sẽ không gặp bất cứ khó khăn nào làm trở ngại đến tâm lý, sức
khỏe và về mặt xã hội.
Theo nghĩa hẹp đó là sự hòa nhập của các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương
trong việc tham gia vào đời sống xã hội. Những rào cản này bao gồm thái độ kỳ thị xa
lánh và phân biệt đối xử thậm chí là bất bình đẳng của cộng đồng đối với từng cá nhân.

định mọi công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội, đây là vấn đề có tính
nhân văn sâu sắc trong hiến pháp nước ta. Việc thừa nhận quyền được bảo đảm an
sinh xã hội của công dân, cũng là thừa nhận trách nhiệm của nhà nước, gia đình và
cộng đồng xã hội trong việc thực hiện các biện pháp đảm bảo an sinh xã hội cho
người dân.
- Tiếp cận dựa theo vòng đời của trẻ em: Một trong những phương pháp tiếp
cận xây dựng chính sách được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm hiện nay là
phương pháp tiếp cận dựa trên vòng đời. Việc tiếp cận theo vòng đời cho phép chúng
ta nhận dạng được những khó khăn, những rủi ro, những rào cản, những nhu cầu của
con người trong từng giai đoạn vòng đời từ giai đoạn (i) ấu thơ, (ii) trẻ em, (iii)
thanh niên, (iv) trung niên, (v) người già. Trong đó trẻ em lại được chia nhỏ các giai
đoạn 36 tháng tuổi, dưới 6 tuổi, 6-16 tuổi... Đây là cách tiếp cận mang tính tổng thể,
không bỏ sót bất cứ khó khăn nào trong các giai đoạn của vòng đời của trẻ.
- Tiếp cận theo nhu cầu: Tiếp cận theo nhu cầu của trẻ là cách tiếp cận dựa
trên việc đáp ứng tốt nhất của các dịch vụ CTXH đối với các nhu cầu của trẻ em.
- Tiếp cận dựa trên hoạt động bảo vệ trẻ em: Hoạt động bảo vệ trẻ em được
hiểu là những hoạt động hướng đến đảm bảo các yếu tố vật chất và tinh thần giúp
cho trẻ em được phát triển một cách toàn diện. Các yếu tố liên quan đến bảo vệ trẻ
em như bảo vệ quyền trẻ em, bảo vệ thể chất, bảo vệ tâm sinh lý, bảo vệ chế độ
chính sách dành cho trẻ em, bảo đảm môi trường sống an toàn, lành mạnh…
1.2.2. Cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho trẻ em mồ côi
Mọi trẻ em đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, đó là trách nhiệm của
nhà nước, gia đình và xã hội:
Về bảo vệ trẻ em là tạo dựng môi trường bảo vệ an toàn cho mọi trẻ em, để
trẻ em không bị ngược đãi, bạo lực, xâm hại, bóc lột và bỏ mặc, trợ giúp trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt.
Về chăm sóc, bảo đảm dinh dưỡng là cung cấp những chất cho cơ thể nguồn
sống và năng lượng để cơ thể hoạt động. Với cơ thể trẻ em còn non nớt, để phát
triển cân đối và đảm bảo có đủ sức khỏe cơ thể các em cần được cung cấp đủ các
chất dinh dưỡng. Các em cần được ăn đủ no, đủ bữa và đủ các chất dinh dưỡng như

an toàn cho đối tượng; Có khu đất để tăng gia, sản xuất phục vụ cuộc sống, sinh
hoạt hàng ngày tại cơ sở BTXH; Có nơi đổ rác, chất thải thường xuyên và xử lý rác,
chất thải phù hợp; Có hệ thống thoát nước; Có khu chăn nuôi gia súc, gia cầm cách
xa khu vực văn phòng và nhà ở; Có tường rào và đèn chiếu sáng nhằm đảm bảo sự
an toàn cho cơ sở BTXH. Cổng cơ sở BTXH có biển ghi tên và địa chỉ rõ ràng; Cơ

13


sở vật chất của cơ sở BTXH bảo đảm có: Cửa ra vào, cửa sổ cung cấp đủ ánh sáng
và bảo đảm thông thoáng; Các hệ thống bảo đảm an toàn cho đối tượng, bao gồm
việc lắp đặt các hệ thống điện, gas và thoát nước một cách phù hợp; Các thùng rác
phù hợp; Nhà vệ sinh, nhà tắm phù hợp với các nhóm đối tượng, bao gồm cả người
khuyết tật; có nhà vệ sinh, nhà tắm riêng cho phụ nữ; Phòng ngủ của đối tượng có
diện tích phù hợp và đảm bảo diện tích để đặt các ngăn tủ chứa vật dụng cá nhân
cho không quá 8 người; Sắp xếp việc ngủ, nghỉ cho đối tượng phù hợp với độ tuổi
và giới tính; Có khu sinh hoạt chung cho đối tượng trong thời gian rảnh rỗi; Có bếp
và phòng ăn chung cho đối tượng; Có phòng y tế để chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho
đối tượng; Có trang thiết bị cần thiết cho người khuyết tật.
Để có thể đáp ứng tốt cho đối tượng là trẻ mồ côi NVCTXH nói riêng và cơ sở
BTXH nói chung cần thực hiện được một số vai trò, nhiệm vụ như: cơ sở BTXH và
NVCTXH luôn coi đối tượng trẻ mồ côi là mối quan tâm hàng đầu và dành sự quan
tâm, chăm sóc về không gian sống cho trẻ một cách tốt nhất. Tôn trọng trẻ mồ côi
về không gian sống của trẻ, không ép trẻ phải ở trong một phòng ở quá chật hẹp và
thiếu ánh sáng… Có thái độ công bằng giữa các trẻ trong việc sắp xếp không gian ở,
không phân biệt đối xử giữa các đối tượng. Cơ sở BTXH và NVCTXH là cầu nối
giữa trẻ mồ côi với các tổ chức, cá nhân có thể trợ giúp tài chính, cơ sở vật chất
phục vụ cho việc xây, sửa không gian sống, khu nhà ở cho trẻ. Trên đây là một số
vai trò, trách nhiệm của cơ sở BTXH và NVCTXH trong việc đáp ứng nhu cầu về
nhà ở cho trẻ mồ côi. Nếu trẻ mồ côi tại các cơ sở BTXH được đáp ứng tốt về

quy định: Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe. Trẻ em dưới 6 tuổi
được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám chữa bệnh không phải trả tiền tại các
cơ sở y tế công lập. Điều 27 của Luật này cũng quy định: cha mẹ, người giám hộ có
trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng, khám chữa
bệnh cho trẻ em. Theo quy định của Luật về chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, thì mọi
trẻ em đều có quyền được chăm sóc như nhau, không phân biệt đối sử. Hoạt động
chăm sóc sức khỏe về y tế là nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ em, bởi chính các
em là đối tượng còn non nớt về thể chất, trí tuệ, bản thân các em còn nhỏ và cơ thể
đang trong quá trình phát triển. Vì vậy, việc chăm sóc sức khỏe về y tế là một hoạt
động rất quan trọng và cần được thực hiện thường xuyên hoặc định kỳ. Đặc biệt là
đối tượng trẻ em mồ côi, tại các cơ sở BTXH. Tại các cơ sở BTXH, ngoài vai trò
chăm sóc của nhân viên y tế, NVCTXH cũng có một số trách nhiện và vai trò cơ
bản như là người chăm sóc cho trẻ về mặt thể chất và tinh thần; là người phát hiện
kịp thời các vấn đề liên quan tới sức khỏe của trẻ và kịp thời đưa trẻ tới Phòng y tế
của cơ sở và tuyến trên nếu cần thiết; có thái độ làm việc, chăm sóc trẻ tậm tâm,

15


nhiệt tình; là người đứng ra bảo lãnh, ký các giấy tờ liên quan tới phẫu thuật nếu trẻ
phải phẫu thuật tại bệnh viện (áp dụng với trẻ mồ côi cả cha mẹ và không còn người
thân thiết); là cầu nối xin nguồn hỗ trợ về việc cấp phát thuốc và tư vấn chăm sóc
sức khỏe cho trẻ với các tổ chưc, các nhân. Trên đây là một số tiêu chuẩn về chăm
sóc y tế với các đối tượng tại các cơ sở BTXH và một số trách nhiệm, vai trò của
NVCTXH đối với trẻ mồ côi tại các cơ sở BTXH. Việc đáp ứng tốt, đúng lúc, phù
hợp các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe cho trẻ mồ côi tại cơ sở BTXH sẽ giúp trẻ
cảm thấy được quan tâm, được yêu thương, chăm sóc và yên tâm học tập.
Về trang cấp quần áo: Theo quy định chung Bộ Lao động, Thương binh và Xã
hội ban hành Thông tư số 04/2011/BLĐTBXH-TT quy định tiêu chuẩn chăm sóc tại cơ
sở BTXH. Đối tượng được trang bị quần áo đầy đủ và được trang bị đồng phục đi học

là những người chịu nhiều thiệt thòi hơn cả về việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc về
đạo đức, giao tiếp. Vì vậy, NVCTXH cần thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của
mình với trẻ như sau: là người tôn trọng giá trị của trẻ, tôn trọng mọi quyết định của
trẻ trên tinh thần vì quyền lợi của trẻ; là người giáo dục trẻ, giúp trẻ có những ứng
xử, hành vi đúng đắn; là cầu nối giữa trẻ với gia đình, nhà trường trong hoạt động
phối hợp giáo dục trẻ…
Về nhu cầu về vui chơi giải trí: Thông tư số 04/2011/BLĐTBXH-TT của Bộ
Lao động, Thương binh và Xã hội ngày 25/02/2011 ban hành quy định tiêu chuẩn
chăm sóc tại cơ sở BTXH trong đó có mục quy định về tiêu chuẩn thể thao và giải
trí đối với trẻ [24, tr. 33]: Tham gia vào các hoạt động thể thao, vui chơi, giải trí phù
hợp với lứa tuổi và người dân ở cộng đồng; hỗ trợ cho người khuyết tật tham gia một
cách an toàn vào các hoạt động kể trên; Được tạo điều kiện để làm quen, kết bạn với
những người sống xung quanh, bạn học ở trường và cộng đồng; gặp gỡ với gia đình
hoặc những người thân, bạn bè, trừ một số trường hợp có khả năng đe dọa đến sự an
toàn của đối tượng. Với trẻ em mồ côi thì nhu cầu về vui chơi giải trí càng trở nên
quan trọng và không thể thiếu đối với các em. Thông qua các hoạt động vui chơi, các
em cảm thấy tinh thần được thoải mái, cảm thấy cuộc sống có ích và gần gũi với mọi
người hơn. Vì lí do đó, tại các cơ sở BTXH, ngoài việc thiết kế khu vực ăn, ở của trẻ,
việc thiết kế các khu vực vui chơi giải trí là không thể thiếu. NVCTXH tại các cơ sở
BTXH luôn là người tạo mọi điều kiện cho trẻ tham gia vui chơi, giải trí; tổ chức cho
trẻ được đi thăm quan, đi chơi tại các khu vui chơi, công viên…
Tham gia hoạt động xã hội: tại Khoản 2, Điều 20, Luật bảo vệ chăm sóc giáo
dục trẻ em quy định: “Trẻ em được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với nhu cầu
và năng lực của mình”. Khoản 2, Điều 32 của Luật này cũng quy định: “Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, nhà trường có trách nhiệm tổ chức cho trẻ tham

17


gia các hoạt động xã hội và sinh hoạt tập thể phù hợp với nhu cầu và lứa tuổi”.


18


Với những trẻ em được nuôi dưỡng, chăm sóc tại các cơ sở BTXH có một số
tiêu chuẩn về giáo dục và học nghề [24, tr. 33]. Cơ sở BTXH bảo đảm cung cấp cho
đối tượng được học văn hoá (đối với người có khả năng học tập); được học nghề
(đối với trẻ em từ 13 tuổi trở lên và những người có khả năng lao động và có nhu
cầu học nghề), cụ thể: Bảo đảm phổ cập giáo dục theo quy định tại khoản 1, Điều
11 Luật Giáo dục năm 2005; Cung cấp giáo dục chính quy hoặc không chính quy
trong các trường công lập, dân lập hoặc các cơ sở bảo trợ xã hội; Giáo dục đối tượng
về đạo đức xã hội, vệ sinh, kiến thức phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS, sức khỏe sinh
sản và các chủ đề khác phù hợp với độ tuổi và giới tính; Hướng dẫn đối tượng các
phương pháp tự phòng tránh buôn bán, lạm dụng, bạo hành và bóc lột; Cung cấp
sách vở, tài liệu học tập và bố trí nơi học tập cho đối tượng; Tư vấn để đối tượng tự
lựa chọn học nghề và phù hợp với điều kiện của địa phương; Đối tượng được hỗ trợ học
tiếp lên hoặc học nghề tùy thuộc vào độ tuổi, sự lựa chọn và nhu cầu thị trường.
Như vậy, việc đáp ứng nhu cầu cho các trẻ em mồ côi tại các cở sở BTXH
được học tập như bao trẻ khác là một hoạt động cần thiết và không thể thiếu đối với
mỗi cơ sở BTXH. Các em dù xuất thân như thế nào, có nhân cách ra sao cũng cần
được bảo vệ, chăm sóc và đáp ứng dịch vụ giáo dục, được học theo nhu cầu của
mình để có hành trang cho tương lai sau này.
1.3.2. Giáo dục kỹ năng sống
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là “Khả năng thích nghi và
hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách
thức của cuộc sống hàng ngày”. Hoặc KNS là tập hợp các kỹ năng được rèn luyện
hoặc kinh nghiệm thực tế được sử dụng để xử lý những vấn đề trong cuộc sống.
Một quan điểm khác cho rằng KNS là những kỹ năng thuộc về tính cách,
không mang tính chuyên môn, nhưng lại cực kỳ cần thiết trong mọi trường hợp,
mọi hoàn cảnh, mọi lứa tuổi. KNS được chia thành 2 loại: kỹ năng cơ bản và kỹ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status