Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần phân liệt từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội thanh hoá, tỉnh thanh hóa - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ TRƯỜNG LÂM

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI
NGƯỜI TÂM THẦN PHÂN LIỆT TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI THANH HOÁ,
TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ TRƯỜNG LÂM

CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI
NGƯỜI TÂM THẦN PHÂN LIỆT TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI THANH HOÁ,
TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội Thanh Hoá. Vấn đề người tâm thần phân liệt
tại Thanh Hóa. Sơ lược về Trung tâm Bảo trợ xã hội Thanh Hóa ........... 36
2.2. Thực trạng người tâm thần phân liệt tại Trung tâm Bảo trợ xã hội
Thanh Hóa ................................................................................................ 42
2.3. Thực trạng công tác xã hội nhóm với người tâm thần phân liệt tại
Trung tâm Bảo trợ xã hội Thanh Hóa....................................................... 43
2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm ............ 46
2.5. Ứng dụng tiến trình công tác xã hội nhóm vào thực tế ..................... 50
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỪ THỰC TIỄN CÔNG
TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN PHÂN LIỆT TẠI
TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI THANH HÓA ................................... 66
3.1. Định hướng ........................................................................................ 66
3.2. Một số giải pháp ................................................................................ 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 78


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT

Chữ viết tắt

1
2
3
4
5
6
7
8

Nhân viên xã hội
Phục hồi chức năng
Sức khỏe tâm thần
Viết tắt tên tiếng anh của tổ chức y tế Thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các nguyên tắc CTXH nhóm đối với người tâm thần phân liệt đang
thực hiện tại Trung tâm .................................................................................... 45
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn, chuyên ngành đào tạo của công chức, viên
chức và người lao động làm việc tại Trung tâm ............................................. 47


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết đề tài
Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra định nghĩa về sức khỏe là “trạng thái
thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ bao
gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật” (Tuyên ngôn Alma Ata năm
1978). Sức khoẻ tâm thần không chỉ là không bị mắc rối loạn tâm thần. Sức
khoẻ tâm thần được định nghĩa bởi Tổ chức Y tế thế giới (WHO) “là trạng
thái hoàn toàn thoải mái mà ở đó mỗi cá nhân nhận thức rõ khả năng của
mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường trong cuộc sống, làm
việc hiệu quả và năng suất và có thể đóng góp cho cộng đồng” [6, tr. 11]. Sức
khỏe tâm trí là một bộ phận tạo nên sức khỏe ở mỗi chúng ta. Rối nhiễu tâm
trí biểu thị sự lệch lạc về sức khỏe tâm thần, đây là sự nhìn nhận mới về tình
trạng sức khỏe tâm trí theo hướng dự phòng, điều trị sớm bệnh tâm thần.
Hiện nay, số người bị rối nhiễu tâm trí ở Việt Nam ước tính chiếm khoảng
10% dân số, tương đương gần 9 triệu người, trong đó số người tâm thần nặng
chiếm 2,5% số người rối nhiễu tâm trí (tương đương 200 ngàn người). Số
người có hành vi nguy hiểm cho gia đình, cộng đồng khoảng 154.000 người.

luân phiên nuôi dưỡng, phục hồi chức năng cho các đối tượng tâm thần phân
liệt khác.
Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên nền
tảng khoa học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội (cá
nhân, nhóm, cộng đồng) giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn
lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững. Nghề công tác xã hội có
vai trò quan trọng trong đời sống xã hội thông qua việc hỗ trợ các đối tượng
tự giải quyết vấn đề gặp phải, góp phần đảm bảo công tác an sinh xã hội và
phát triển bền vững.
Phương pháp công tác xã hội nhóm là phương pháp rất có hiệu quả trong
việc trợ giúp các đối tượng có vấn đề xã hội nói chung và với người tân thần
2


nói riêng. Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta phương pháp này còn chưa được áp
dụng triệt để trong thực hành trợ giúp người tâm thần tại các Trung tâm
BTXH dành cho người tâm thần trên phạm vi cả nước. Người tâm thần
thường bị cô lập, xa lánh mọi người, ngại giao tiếp, vì thế sử dụng phương
pháp công tác xã hội nhóm trước tiên để tạo ra môi trường giao tiếp, giúp họ
giao tiếp với nhau, tăng cường kỹ năng giao tiếp.
Từ những đặc điểm trên, với kiến thức được trang bị từ khoá đào tạo
cao học ngành công tác xã hội và trải nghiệm thực tế nhiều năm công tác
trong lĩnh vực nuôi dưỡng, chăm sóc người tâm thần phân liệt tôi đã chọn đề
tài “Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần phân liệt từ thực tiễn Trung
tâm Bảo trợ xã hội Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình trạng rối loạn tâm thần trên thế giới
Người bị rối loạn tâm thần là một trong số những người ít được quan
tâm nhất trên thế giới. Tại nhiều cộng đồng, bệnh tâm thần không được coi là
một bệnh lý thực sự mà được xem như một sự khiếm khuyết trong tính cách.

Kết quả một khảo sát của Bộ Y Tế, có đến 19,46% học sinh trong độ
tuổi 10-16 gặp trục trặc về sức Khỏe tâm thần. Trong số các trường hợp tự tử,
10% ở độ tuổi 10-17. Nghiên cứu “Những cuộc đời trẻ thơ” cho thấy tỷ lệ rối
loạn tâm thần ở học sinh tiểu học là 20% và tỷ lệ ở bà mẹ đang cho con bú (618 tháng) cũng là 20%.
10% đến 15% phụ nữ ở các nước phát triển mắc trầm cảm sau sinh với
hậu quả xấu cho mối quan hệ mẹ-con ở giai đoạn đầu và cho sự phát triển tâm
lý của trẻ. Ở các nước có thu nhập thấp, tỷ lệ trầm cảm trong giai đoạn mang
thai cao hơn các nước phát triển. Một trong hai nghiên cứu được xuất bản về
sức khỏe tâm thần của bà mẹ ở Việt Nam cho thấy 33% phụ nữ đến phòng
khám sức khỏe tổng quát tại TP. Hồ Chí Minh bị trầm cảm và 19% có ý định
tự tử.
4


CTXH (Social work) là nghề nghiệp tham gia giải quyết các vấn đề liên
quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng
cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống
của con người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận
về hệ thống xã hội trong quá trình can thiệp các mối tương tác của con người
với môi trường sống (IFSW& IASSW, 2011). CTXH với những chức năng
can thiệp, giải quyết, phòng ngừa các vấn đề xã hội, phát triển tiềm năng cá
nhân, gia đình và cộng đồng, thực hiện các nhiệm vụ sau trong xã hội: Phát
triển và cải thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội; Trợ giúp con người
trong giải quyết và đối phó với vấn đề khó khăn trong cuộc sống; Nối kết con
người với hệ thống dịch vụ và nguồn lực trong xã hội; Thúc đẩy các tổ chức
xã hội cung cấp dịch vụ và nguồn lực cho con người hoạt động có hiệu quả và
mang tính nhân văn (Chalse Zastrow, 1985). Nhân viên công tác xã hội làm
việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần cũng thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ trên của CTXH trong các cơ sở trợ giúp những cá nhân, gia
đình và nhóm người có vấn đề về sức khỏe tâm thần.

số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTXH nhóm đối với người tâm thần
phân liệt nói chung và tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Thanh Hoá nói riêng.
Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về CTXH, CTXH
nhóm, người tâm thần phân liệt. Nắm được những hiểu biết và kỹ năng thực
hành CTXH của đội ngũ CBNV Trung tâm trong hoạt động trợ giúp đối với
NTT. Tìm hiểu thực trạng CTXH nhóm đối với người tâm thần phân liệt tại
Trung tâm. Chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với
người tâm thần phân liệt. Định hướng vai trò của nghề CTXH, phương pháp
CTXH nhóm đối với người tâm thần phân liệt được nuôi dưỡng trong các cơ
sở BTXH. Đưa ra số giải pháp khả thi nâng cao hiệu quả CTXH nhóm đối với
người tâm thần phân liệt trong các cơ sở BTXH.
6


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa lý thuyết được áp dụng cho phương pháp công tác xã hội
nhóm đối với người tâm thần phân liệt.
Tìm hiểu, nghiên cứu các chính sách của Nhà nước đối với người tâm
thần ở Việt Nam
Đánh giá thực trạng công tác xã hội, CTXH nhóm đối với người tâm
thần phân liệt từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội Thanh Hoá.
Áp dụng thử nghiệm phương pháp công tác xã hội nhóm vào hỗ trợ
người tâm thần phân liệt tại Trung tâm
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần phân liệt.
4.2. Khách thể nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Khách thể nghiên cứu: Người tâm thần phân liệt ở mức độ nhẹ
đang trong giai đoạn phục hồi; Cán bộ tại sơ sở Trung tâm BTXH.
4.2.2. Phạm vi nghiên cứu:

triển không ngừng theo sự biến đổi của không gian, thời gian, gắn với sự phát
triển của xã hội.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông
tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các
nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
+ Phân tích những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn
đề CTXH đối với người tâm thần, người tâm thần phân liệt.
+ Phân tích các tài liệu, báo cáo như: Quyết định số 32/2010/QĐ – TTg,
ngày 25/02/2010 về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai
đoạn 2010 – 2020, gọi tắt là “đề án 32”;Quyết định 1215/QĐ-TTg ngày
8


22/07/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án trợ giúp xã hội
và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiều tâm trí dựa vào
cộng đồng giai đoạn 2011 – 2020; “Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Đề án
trợ giúp xã hội và PHCN cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí giai
đoạn 2011-2015 và định hướng giai đoạn 2016-2020 của Bộ Lao động –
Thương binh và xã hội’’...
+ Tìm hiểu và phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến chính sách
hỗ trợ đối với người tâm thần.
- Phương pháp quan sát
Quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu thông qua
các tri giác như nghe, nhìn, …để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm
đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp quan sát để tìm
hiểu sâu hơn về thực trạng người tâm thần phân liệt đang được nuôi dưỡng
trong trung tâm Bảo trợ xã hội Thanh Hoá. Thông qua phương pháp này, giúp

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, mục lục, nội dung của
Luận văn có 3 chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội nhóm đối với người tâm
thần phân liệt.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần
phân liệt tại Trung tâm Bảo trợ xã hội Thanh Hoá.
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
xã hội nhóm đối với người tâm thần phân liệt.

10


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM
ĐỐI VỚI NGƯỜI TÂM THẦN PHÂN LIỆT
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan tới đề tài nghiên cứu
1.1.1. Khái niệm công tác xã hội
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011)
thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp
tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và
thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền
lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người. CTXH sử dụng các học
thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự
tương tác của con người với môi trường sống.
Theo các nhà nghiên cứu về CTXH Philippines: “Công tác xã hội là
một nghề bao gồm các hoạt động cung cấp các dịch vụ nhằm thúc đẩy hay
điều phối các mối quan hệ xã hội và sự điều chỉnh hòa hợp giữa cá nhân và
môi trường xã hội để có xã hội tốt đẹp hơn” [12, tr. 12]
Các nhà khoa học Việt Nam: Công tác xã hội là hoạt động thực tiễn
mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo các nguyên tắc và phương pháp

+ Mục đích của CTXH là hướng tới giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng
đồng phục hồi hay nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội, tạo ra
những thay đổi về vai trò, vị trí của cá nhân, gia đình, cộng đồng từ đó giúp
họ hòa nhập xã hội.
+ Vấn đề mà cá nhân, gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới sự can
thiệp của CTXH là những vấn đề có thể xuất phát từ yếu tố chủ quan cá nhân
như sự hạn chế về thể chất, sức khỏe, tinh thần, thiếu việc làm, không được đào
tạo chuyên môn, nghèo đói, quan hệ xã hội suy giảm.
Từ những khái niệm và phân tích trên tôi đưa ra khái niệm như sau: CTXH
là một khoa học, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân,
nhóm, cộng đồng yếu thế nâng cao năng lực, tăng cường các chức năng xã hội
nhằm ứng phó với những vấn đề xã hội tiêu cực xảy ra từ đó hướng đến mục
tiêu phát triển bền vững.
12


1.1.2. Khái niệm công tác xã hội nhóm
Trong đời sống của mình, mỗi cá nhân không thể tách mình khỏi các hoạt
động xã hội. Những hoạt động mà cá nhân tham gia rất đa dạng, đó có thể là các
hoạt động vui chơi giải trí, các hoạt động học tập, hoạt động kinh tế, chính trị.
Sự phân công lao động buộc cá nhân muốn thực hiện nhiệm vụ của mình phải
hợp tác với các cá nhân khác. Sự hợp tác ấy hình thành nên các nhóm.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về nhóm nhưng tựu chung đều khẳng
định các dấu hiệu sau đây:
- Số lượng thành viên nhóm phải có từ 3 thành viên trở lên. Thông
thường trong CTXH nhóm, muốn đạt hiệu quả cao thì số lượng nhóm viên nên
ở mức vừa phải (nhóm từ 7-11 thành viên). Tuy nhiên, không cứng nhắc hay
có một khuôn mẫu đóng về số lượng nhóm viên.
- Các thành viên trong nhóm phải có mối liên hệ tương tác với nhau,
thống nhất trong mọi hành động.

Trong từ điển CTXH của Barker (1995), CTXH nhóm được định nghĩa
là: “Một định hướng và phương pháp can thiệp CTXH, trong đó các thành
viên chia sẻ những mối quan tâm và những vấn đề chung họp mặt thường
xuyên và tham gia vào các hoạt động đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu
cụ thể. Đối lập với trị liệu tâm lý nhóm, mục tiêu CTXH nhóm không chỉ là
trị liệu những vấn đề về tâm lý, tình cảm mà còn là trao đổi thông tin, phát
triển kỹ năng xã hội và lao động, thay đổi các định hướng giá trị và làm
chuyển biến các hành vi chống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả. Các
kỹ thuật can thiệp đều được đưa vào quá trình CTXH nhóm nhưng không
hạn chế kiểm soát những trao đổi về trị liệu” [28, tr.85].
Khái niệm trên có đưa ra sự khác biệt giữa công tác xã hội nhóm và trị
liệu tâm lý nhóm ở việc “phát triển các kỹ năng xã hội vào lao động, thay đổi
định hướng giá trị và làm chuyển biến hành vi chống lại xã hội”. Để kiểm
chứng cho những khác biệt trên, chúng ta tìm hiểu khái niệm về trị liệu tâm
14


lý, trong đó bao gồm cả trị liệu tâm lý nhóm. Từ điển công tác xã hội của
Barker (1995) nêu: “Trị liệu tâm lý là một hoạt động tương tác đặc biệt và
chính thức giữa một nhân viên xã hội hay các chuyên môn về sức khỏe tâm
thần khác với thân chủ cá nhân, hai người, gia đình hay nhóm, ở đó mối quan
hệ trị liệu được thiết lập để giải quyết những biểu hiện của rối nhiễu tâm thần
Như vậy công tác xã hội nhóm là:
Công tác xã hội nhóm là một phương pháp của Công tác xã hội nhằm
tạo dựng và phát huy sự tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các
thành viên, giúp củng cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải quyết
vấn đề, thỏa mãn nhu cầu của nhóm.
1.1.3. Mục đích và giá trị của Công tác xã hội nhóm
- Mục đích của CTXH nhóm: Công tác xã hội nhóm tạo ra bối cảnh trong
đó các cá nhân hỗ trợ lẫn nhau, làm cho cá nhân và nhóm có khả năng ảnh

được tự do, bình đẳng, bao gồm cả về vị trí trong nhóm cũng như việc bày tỏ
suy nghĩ, thực hiện hành động.
CTXH nhóm là phương pháp trong CTXH nhằm giúp tăng cường, củng
cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua các hoạt động nhóm và khả năng
ứng phó với các vấn đề của cá nhân, có nghĩa là: Ứng dụng những kiến thức,
kỹ năng liên quan đến tâm lý nhóm (hoặc năng động nhóm). Nhóm nhỏ thân
chủ có cùng vấn đề giống nhau hoặc có liên quan đến vấn đề. Các mục tiêu xã
hội được thiết lập bởi NVXH trong kế hoạch hỗ trợ thân chủ (cá nhân, nhóm,
cộng đồng) thay đổi hành vi, thái độ, niềm tin nhằm giúp thân chủ tăng cường
năng lực đối phó, chức năng xã hội thông qua các kinh nghiệm của nhóm có
mục đích nhằm để giải quyết vấn đề của mình và thỏa mãn nhu cầu. Konopka
(1963) xác định phương pháp công tác xã hội nhóm là một phương pháp của
ngành công tác xã hội giúp những cá nhân tăng cường chức năng xã hội của
họ thông qua các kinh nghiệm của nhóm mục tiêu và khắc phục một cách hiệu
16


quả hơn các vấn đề của cá nhân, nhóm và cộng đồng. Công tác xã hội nhóm
tạo một bối cảnh trong đó các cá nhân hỗ trợ lẫn nhau, làm cho cá nhân và
nhóm có khả năng ảnh hưởng và làm thay đổi các vấn đề của cá nhân, của
nhóm, của tổ chức và của cộng đồng. Nó mang tính chất chức năng xã hội
nhiều hơn và chính điều này làm cho nó khác hơn với nhóm trị liệu vì nhóm
trị liệu chú trọng nhiều hơn các nhu cầu cảm xúc và các tiến trình tâm lý. Mục
đích của CTXH là giúp thân chủ (cá nhân) hay hệ thống thân chủ (nhóm hay
cộng đồng) thỏa mãn nhu cầu, giải quyết vấn đề, tiến tới tự giúp và đóng trọn
vẹn vai trò xã hội của mình, mặc dù kết quả nhắm tới là một đối tượng và
phương pháp tác động khác nhau. Trong phương pháp cá nhân, đối tượng
được tác động vào là chính cá nhân người được giúp đỡ. Công cụ là mối quan
hệ giữa NVXH và thân chủ. Trong phương pháp nhóm, đối tượng tác động
vào là toàn nhóm, là mối tương tác giữa các nhóm viên, là mục đích, bầu

trong giai đoạn đầu, sau đó rút dần vai trò để nhóm tự đề ra các hoạt động, khi
cần thiết thì NVXH mới can thiệp.
Nhóm với mục đích xã hội hóa hay tái xã hội hóa: Nhóm giúp tăng
cường khả năng xã hội. Ví dụ: Nhóm trẻ có hành vi không thích nghi (nhóm
học sinh cá biệt tại trường học, nhóm trẻ đường phố…). Mục đích ở đây là
phát triển nhân cách, giáo dục con người. Đi từ thấp đến cao có nhóm giải trí,
nhóm kỹ năng cho trẻ em và thanh thiếu niên như hướng đạo, nhóm CLB.
Nhưng ở đây khía cạnh tâm lý xã hội được quan tâm nhiều chứ không chỉ chú
trọng đến dạng kỹ năng. Đối với trẻ em và thanh thiếu niên đây là một môi
trường xã hội hóa bổ sung cho gia đình và trường học hết sức quan trọng.
Những nhu cầu cơ bản được đáp ứng để hình thành dần những nhân cách lành
mạnh, sung mãn. Kế đó sẽ có những con người tháo vát, biết hợp tác, cống
hiến cho xã hội.

18


CTXH nhóm còn đặc biệt hướng đến những thanh thiếu niên do hoàn
cảnh đẩy đưa tới cuộc sống theo băng nhóm, phá quậy. Bằng cách từ từ lôi
cuốn họ tham gia vào các hoạt động giải trí, thể dục, thể thao, văn hóa xã hội,
họ sẽ thay thế những hành vi chống xã hội bằng những hành vi tích cực. Đó là
mục đích tái xã hội hóa. Công việc này tất nhiên rất khó khăn. Thường thì các
tác viên xã hội phải “thâm nhập” các băng nhóm sẵn có để tìm hiểu và từ từ
giúp thay đổi cơ chế của nhóm cũng như hướng tới các hoạt động mang tính
tích cực xã hội.
Nhóm trị liệu: Nhóm là môi trường chia sẻ cảm xúc và trao đổi những
kinh nghiệm, những vấn đề gặp phải (Nhóm cai nghiện, nhóm gia đình…).
Nhóm gặp nhau định kỳ, trao đổi, tâm sự những vấn đề của mình (thất bại
trong cuộc sống, phản hồi, góp ý cho nhau, cá nhân nhìn thấy vấn đề rõ hơn
và có hướng giải quyết vấn đề). Ở đây là những đối tượng có vấn đề tâm lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status