VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ MINH CHƯƠNG
QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA
TÚY TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CHỮA BỆNH – GIÁO DỤC
– LAO ĐỘNG XÃ HỘI BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VÂN HẠNH
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Công
tác xã hội về “Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn
Trung tâm Chữa bệnh –Giáo dục Lao động Xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre” là
hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Lê Minh Chương
Tác giả
Lê Minh Chương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG
HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY ............................................ 10
1.1. Các khái niệm chung......................................................................................10
1.2. Cơ sở lý luận của quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy .............17
1.3. Cơ sở pháp lý của quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy ......27
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy ............................................................................................................30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI
CAI NGHIỆN MA TÚY TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CHỮA BỆNH –
GIÁO DỤC – LAO ĐỘNG XÃ HỘI BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE ................. 33
2.1.Địa bàn và khách thể nghiên cứu ....................................................................33
2.2. Thực trạng về Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực
tiễn trung tâm ............................................................................................................40
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUẢN
LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY TỪ THỰC
TIỄN TRUNG TÂM CHỮA BỆNH – GIÁO DỤC – LAO ĐỘNG XÃ HỘI
BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE ............................................................................... 58
3.1. Định hướng đảm bảo thực hiện quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội ..............58
3.2. Giải pháp đảm bảo thực hiện quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội ...............67
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 75
Ủy ban nhân dân
HĐND
Hội đồng nhân dân
NĐ-CP
Nghị định - Chính phủ
PP
Phương pháp
CĐ
Cộng đồng
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Độ tuổi của người nghiện ma túy .............................................................37
Bảng 2.2: Nhu cầu về chăm sóc Y tế của người cai nghiện ma túy ......................41
Bảng 2.3: Nhu cầu về được tư vấn, tham vấn tâm lý .............................................42
Bảng 2.4: Nhu cầu về mặt xã hội ............................................................................43
Bảng 2.5. Nhu cầu học nghề và việc làm của người cai nghiện ma túy ...............44
Biểu đồ 2.1: Trình độ học vấn của người cai nghiện ma túy ....................................38
Biểu đồ 2.2: Nghề nghiệp của người cai nghiện ma túy ...........................................38
Biểu đồ 2.3: Tình trạng hôn nhân của người cai nghiện ma túy ...............................39
nạn ma túy. Cai nghiện ma túy được hiểu là điều trị nghiện ma túy, là một quá trình
lâu dài bao gồm tổng thể các can thiệp hỗ trợ về tâm lý, y tế và xã hội từ đó làm
thay đổi nhận thức, hành vi nhằm giảm tác hại của việc nghiện ma túy và giảm tình
1
trạng sử dụng ma túy trái phép. Từ nhận thức đó, để quản lý tốt tình trạng nghiện
của người sử dụng ma túy cần phải áp dụng phương pháp cai nghiện khoa học đó
chính là: “Quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy’’.
Tuy nhiên, từ trước đến nay, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của trung
tâm là tổ chức cắt cơn cai nghiện, giáo dục chữa trị, dạy nghề và tổ chức lao động
sản xuất cho người nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc theo
quy định của pháp luât. Vì thế việc quản lý chăm sóc, tư vấn, xác định nhu cầu để
kết nối các dịch vụ công tác xã hội đối với người nghiện ma túy là chưa thực hiện
được nên hiệu quả quản lý cũng còn những khó khăn và hạn chế.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh-Giáo dục-Lao động xã hội Bến
Tre, tỉnh Bến Tre” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Với đề tài này, tác giả luận
văn hi vọng sẽ đóng góp một phần công sức trong việc quản lý các đối tượng cai
nghiện tại đơn vị công tác cũng như tìm ra các giải pháp hữu hiệu giúp nâng cao
hiệu quả công tác cai nghiện đối với người nghiện ma túy tại trung tâm trên địa bàn
tỉnh. Đồng thời, góp phần kéo giảm tệ nạn ma túy đang gia tăng trong giai đoạn
hiện nay và góp phần ổn định, phát triển kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập
quốc tế được xem là vấn đề là hết sức quan trọng và cấp bách hiện tại cũng như
định hướng phát triển lâu dài của đất nước trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Người cai nghiện ma túy là một trong những nhóm đối tượng nhận được sự
quan tâm của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và
ngoài nước, những người làm công tác xã hội. Trong phạm vi các công trình có liên
quan đến đề tài, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, các đánh
bản thân, người nghiện càng dễ dàng chịu sự tác động của bạn bè hơn và thúc đẩy
họ sử dụng ma túy sớm hơn.
Tác giả Phan Thị Mai Hương (2002), Tìm hiểu đặc điểm nhân cách và hoàn
cảnh xã hội của thanh niên nghiện ma túy và mối tương quan giữa chúng là một
cách tiếp cận mới về thanh niên nghiện ma tuý từ góc độ của tâm lý học. Tác giả đã
phân tích, hệ thống hoá những lý luận về đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội và
sự ảnh hưởng của chúng trong việc nghiên cứu hành vi của người nghiện ma tuý,
3
cũng như quan điểm về việc giải quyết chúng trong thực tiễn. Kết quả nghiên cứu
chỉ ra một số đặc điểm nhân cách và hoàn cảnh xã hội nổi trội của thanh niên
nghiện ma tuý, mối quan hệ giữa các đặc điểm với hành vi nghiện. Trong đó, vai trò
gia đình được tác giả tìm hiểu ở khía cạnh môi trường gia đình gắn với vị thế kinh
tế, xã hội có ảnh hưởng đến đặc điểm nhân cách và mức độ nghiện của thanh niên
nghiện ma túy, cách quản lý của cha mẹ với con. Trên cơ sở đó, việc ngăn ngừa
hành vi nghiện ma tuý và việc cai nghiện ma tuý ở thanh niên cần phải kết hợp giữa
tri thức và biện pháp của tâm lý học. Kết quả nghiên cứu đã định hướng về hướng
giáo dục và ứng xử thích hợp với người nghiện ma tuý cũng như góp phần ngăn
ngừa việc lạm dụng ma tuý ở thanh thiếu niên [19].
Đề tài “Tâm lý học giáo dục nhân cách người cai nghiện ma túy từ thực tế
thành phố Hồ Chí Minh” do tác giả Phan Xuân Biên và Hồ Bá Thâm đồng chủ biên,
xuất bản năm 2004 là một công trình nghiên cứu công phu của nhiều tác giả về
nguyên nhân, đặc điểm tâm lý, công tác giáo dục nhân cách, đạo đức xã hội dành
cho những người liên quan đến nghiện ma túy. Các tác giả cho rằng, người nghiện
là người rối loạn về tâm lý, không làm chủ được hành vi của mình, từ không làm
chủ được bản thân, họ hành động chủ yếu theo ham muốn bản năng, dẫn tới lệch
chuẩn xã hội, khủng hoảng nhân cách, tha hóa - rối loạn nhân cách và việc cai
nghiện, phục hồi nhân cách, sửa đổi và phát triển nhân cách người cai nghiện thành
công hay không phụ thuộc vào thái độ, tình thương, trách nhiệm của cộng đồng, gia
rất có giá trị cho đề tài nghiên cứu. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề nghiên
cứu trong các công trình khoa học đó, kết hợp với khảo sát thực tế ở địa phương, tôi có
thể rút ra một số vấn đề lý luận để đề xuất giải pháp quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy trong luận văn này, hy vọng sẽ là sự đóng góp nhỏ của tác giả vào nỗ
lực phòng chống tệ nạn ma túy chung của toàn xã hội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ
thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre,
trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
quản lý trường hợp đối với người nghiện ma túy đang cai nghiện Trung tâm Chữa
5
bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy.
- Đánh giá nhu cầu của người nghiện và gia đình trong việc cai nghiện tại
trung tâm và mức độ đáp ứng nhu cầu của trung tâm bao gồm cơ chế, chính sách,
đội ngũ nhân lực, cơ sở vật chất, tài chính, các dịch vụ hỗ trợ trong việc quản lý
trường hợp đối với người nghiện ma túy Trung tâm Chữa bệnh –Giáo dục - Lao
động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trường hợp đối với
người ngiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động Xã hội Bến Tre,
tỉnh Bến Tre.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn
Trung tâm Chữa bệnh –Giáo dục - Lao động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
ma túy, Phát triển cộng đồng, Hành vi con người và môi trường xã hội;
+ Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của các ngành, các cấp có liên quan
đến hoạt động cai nghiện ma túy.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài là
phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên các khái niệm đã được thao tác hóa.
Bảng hỏi là công cụ thu thập thông tin chủ yếu trong cuộc điều tra này, bao gồm
những câu hỏi được xây dựng xoay quanh vấn đề như: Thông tin người cai nghiện
ma túy, nhu cầu của người cai nghiện ma túy. Thông qua việc thu thập và phân tích
các thông tin định lượng giúp đo lường một cách hệ thống các vấn đề mà cuộc
nghiên cứu đặt ra.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Bên cạnh việc sử dụng phương pháp thu thập
thông tin bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu một số đối tượng với một số nội dung mà
bảng hỏi không đáp ứng được. Phỏng vấn sâu cũng nhằm thu thập thông tin nhiều
chiều hoặc trái chiều để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
7
Trong phạm vi đề tài này, dự kiến sẽ phỏng vấn sâu lãnh đạo trung tâm, nhân
viên quản lý trường hợp để đánh giá mức độ quá trình thực hiện quản lý trường hợp
đối với người cai nghiện ma túy tại trung tâm. Đồng thời cũng xác định nhận thức
của nhân viên trung tâm về tầm quan trọng của quản lý trường hợp đối với người
cai nghiện ma túy.
- Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu xã
hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin
từ thực tế quá trình người nghiện ma túy đang cai nghiện tại trung tâm nhằm đáp
ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trong đề tài tác giả sử dụng phương pháp này nhằm thu thập, bổ sung thông
tin còn thiếu và kiểm tra đối chiếu, so sánh các thông tin từ việc quan sát để đánh
giá độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát thái độ chấp hành nội quy;
cách ứng xử với bạn bè, gia đình, nhân viên Trung tâm…để từ đó có hướng trợ giúp
7. Cấu trúc của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý trường hợp đối với người cai nghiện
ma túy.
Chương này trình bày các khái niệm cũng như lý thuyết được áp dụng để tìm
hiểu và phân tích hoạt động quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy.
Chương 2: Thực trạng Quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy
từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến
Tre.
Chương này mô tả thực trạng công tác quản lý trường hợp đối với người cai
nghiện ma túy tại trung tâm, đánh giá sơ bộ nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu đối với
người cai nghiện tại đây.
Chương 3: Định hướng và giải pháp đảm bảo thực hiện quản lý trường hợp
đối với người cai nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục - Lao
động xã hội Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Chương này xác định các định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả công tác quản lý trường hợp đối với người cai nghiện ma túy.
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP
ĐỐI VỚI NGƯỜI CAI NGHIỆN MA TÚY
1.1. Các khái niệm chung
1.1.1. Ma túy, nghiện ma túy, cai nghiện ma túy, cơ chế kích thích khi sử
dụng ma túy
a. Khái niệm Ma túy
Con người đã phát hiện và sử dụng các chất ma túy từ cách đây khoảng 6000
năm. Việc trồng và sử dụng các cây có chứa hoạt chất ma túy đã trở thành thói quen
và tập tục của nhiều nước trên thế giới. Từ thời thượng cổ người Ba tư và người Ai
nhằm mục đích tiêu khiển và gây nhiều tác hại đối với cơ thể.
Khái niệm về nghiện ma túy cũng được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau:
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa là: “ Trạng thái nhiễm độc chu kỳ
hay mãn tính do sử dụng lặp lại nhiều lần một chất tự nhiên hay tổng hợp nào đó.
Sự nhiễm độc này thể hiện ở sự gia tăng liều dùng và sự lệ thuộc tâm sinh lý của
người dùng vào tác dụng của chất đó”. Theo quan điểm xã hội thì: “ Nghiện ma túy
là tệ nạn xã hội làm tổn hại đến sức khỏe, nhân cách, ảnh hưởng xấu đến đời sống
sinh hoạt và trật tự an toàn xã hội”.
Tóm lại, nghiện ma túy là hiện tượng phụ thuộc cả về thể xác lẫn tinh thần
vào ma túy do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất
khả năng kiểm soát bản thân ở người nghiện ma túy, có hại cho nhân cách và xã hội.
Quá trình nghiện ma túy diễn ra với các mức độ ngày càng tăng, đầu tiên là những
khoái cảm mang tính chất cá nhân rồi đến nỗi khổ sở, đau đớn, vật vã của người
nghiện và cuối cùng là hành vi gây nguy hiểm cho gia đình và xã hội. Chính vì vậy,
nghiện ma túy bị coi là tệ nạn xã hội cần phải lên án và loại bỏ.
c. Cơ chế kích thích khi sử dụng ma túy
Ma túy khi đưa vào cơ thể bằng nhiều con đường khác nhau sẽ làm thay đổi
nhiều chức năng tâm sinh lý của cơ thể khiến cho bất kỳ ai nếu đã sử dụng ma túy
một lần thì sẽ có tiếp tục bị kích thích sử dụng những lần tiếp theo với liều lượng
ngày càng tăng. Theo thời gian, ma túy chính là thủ phạm tàn hại sức khỏe và đe
dọa tính mạng của người sử dụng làm phá vỡ các cấu trúc của cơ thể, làm băng hoại
11
các giá trị đạo đức truyền thống, tha hóa nhân cách của người nghiện dẫn đến phát
sinh hàng loạt mâu thuẫn, bất hòa trong gia đình nếu có người nghiện ma túy. Cơ
chế kích thích khi sử dụng ma túy chính là kích thích gây tác hại về mặt sinh lý và
mặt tâm lý của người nghiện ma túy.
Cơ chế kích thích về mặt sinh lý: Nếu là người đang nghiện thì sức khỏe suy
sụp dần, không quan tâm chăm sóc đến sức khỏe bản thân. Có thể mắc phải một số
thuộc về ma túy của bản thân người nghiện vì nếu ngưng sử dụng thì người nghiện
sẽ vật vã, khó thở và rất đau đớn về thể xác. Chính vì các kích thích nêu trên nếu
một khi dùng thử ma túy một lần thì con nghiện sẽ tiếp tục sử dụng vào những lần
tiếp theo và ngày càng tăng liều. Đây chính là một trong những nguy cơ đe dọa
mạng sống, làm tha hóa nhân cách của người nghiện khiến người nghiện ngày càng
dấn sâu vào con đường tội lỗi và là nguy cơ đe dọa đến toàn xã hội nếu người
nghiện ma túy không được áp dụng các biện pháp cai nghiện hữu hiệu.
1.1.2. Quản lý trường hợp và quản lý trường hợp đối với người nghiện ma
túy
Theo định nghĩa của Unicef là một phương pháp cung cấp dịch vụ nhằm
hướng dẫn và tổ chức tiến trình cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nghiện ma túy một
cách hiệu quả nhất.
Theo Tài liệu Quản lý trường hợp với người sử dụng ma túy của
PGS.TS.Nguyễn Hồi Loan, Quản lý trường hợp (tiếng Anh là Case Management)
còn được gọi là quản lý case. Ở một số nước, QLTH được sử dụng trong các lĩnh
vực cung cấp dịch vụ an sinh cho con người, do đó hình thành nhiều định nghĩa
khác nhau về QLTH. QLTH có thể hiểu như sau: QLTH là một quá trình trợ giúp
của công tác xã hội, bao gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu thân chủ (cá nhân, gia
đình), xác định, kết nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp thân chủ tiếp
cận với các nguồn lực để giải quyết vấn đề của thân chủ một cách hiệu quả.
Từ đó, có thể thấy QLTH có một số đặc điểm cơ bản: Cách tiếp cận thông
qua việc cung cấp các dịch vụ khác nhau. Phương pháp tiếp cận căn cứ vào minh
chứng, hướng dẫn và tổ chức công việc cho người làm công tác xã hội. Bảo đảm
cho thân chủ được hưởng các dịch vụ hỗ trợ một cách toàn diện nhất. Bao gồm việc
đánh giá chi tiết nhu cầu hỗ trợ, xây dựng và thực hiện kế hoạch nhằm đạt được
13
mục tiêu và xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá kết quả.
QLTH với người sử dụng ma túy là một quá trình trợ giúp của công tác xã
Vai trò của nhân viên quản lý trường hợp là người kết nối dịch vụ: nhân viên
quản lý trường hợp là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và
giới thiệu cho khách hàng các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ
các cá nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận với những nguồn lực, chính sách, tài
chính, kỹ thuật để có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề cho cá nhân họ.
ŠVai trò là người điều phối:Mục tiêu của quản lý trường hợp là làm thế nào
giúp khách hàng tiếp cận được các nguồn lực trong cộng đồng có hiệu quả, điều này
phụ thuộc nhiều vào khả năng điều tiết các nguồn lực của nhân viên quản lý trường
hợp. Do đó mục đích của điều phối nguồn lực, tạo cơ hội cho khách hàng tiếp cận
được các nguồn lực nhằm hỗ trợ việc điều trị nghiện một cách hiệu quả, tránh sự
chồng chéo và lãng phí các nguồn lực này.
Vai trò là người vận động: Trong vai trò này, NVQLTH sẽ thực hiện các hoạt
động nhằm vận động và thu hút sự tham gia của khách hàng, các thành viên trong
gia đình, người thân, các cơ quan tổ chức liên quan, v.v. tham gia vào tiến trình hỗ
trợ khách hàng. Nguồn lực có thể bao gồm người thân của khách hàng, cơ sở vật
chất, tài chính, kỹ thuật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách đối với họ; Trong số các
nguồn lực thì nguồn lực về chính sách và tài chính là 2 nguồn lực rất quan trọng
trong quy trình QLTH với người sử dụng ma túy.
Vai trò là người trợ giúp: nhân viên quản lý trường hợp còn được xem như
người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những khách hàng và gia đình không có
khả năng tự đáp ứng được nhu cầu của mình và tự giải quyết vấn đề trong quy trình
điều trị nghiện.
Vai trò là người truyền thông: Trong quản lý trường hợp NVQLTH sử dụng
truyền thông để cung cấp thông tin và kiến thức tới nhóm đối tượng khác nhau trong
cộng đồng (khách hàng, gia đình của khách hàng, cộng đồng, các tổ chức khác, v.v.)
đồng thời cũng truyền thông thông tin về khách hàng của mình tới các cá nhân, tổ
chức, v.v. với mục đích tìm kiếm nguồn lực để hỗ trợ khách hàng của mình.
NVQLTH cần cung cấp kiến thức về những hậu quả của ma túy, các chương
trình/ mô hình điều trị nghiện hiện tại, các dịch vụ hỗ trợ cho khách hàng, những
15
Thực hiện Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2014 của Thủ
16
tướng Chính phủ về việc giao chỉ tiêu bệnh nhân được điều trị thay thế nghiện các
chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone năm 2014 và 2015. Và để tháo gỡ
những khó khăn, vướng mắc thời gian qua, Ủy ban nhân dân tỉnh đề ra Kế hoạch
số 3226/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre ngày 29 tháng 6 năm
2015 về mở đợt vận động cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng
và tham gia Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
thay thế Methadone (gọi tắt là cai nghiện tự nguyện và tham gia Chương
trình điều trị Methadone).
Qua thời gian hoạt động, cơ sở điều trị cho các đối tượng nghiện bằng
Methadone đầu tiên của tỉnh Bến Tre đã điều trị cho 231 bênh nhân, đạt 78% chỉ
tiêu của Chính phủ giao cho tỉnh Bến Tre. Các đối tượng được điều trị cai
nghiện ma túy bằng Methadone đã phục hồi về thể chất lẫn tinh thần, hơn 70%
bệnh nhân sau điều trị có việc làm và thu nhập ổn định. Các cơ sở điều trị
Methadone luôn quan tâm, giúp đỡ bệnh nhân, thường xuyên tư vấn, hỗ trợ về
tâm lý xã hội, giúp bệnh nhân vượt qua khó khăn và an tâm điều trị. Sở Y tế Bến
Tre có mở thêm cơ sở cấp phát thuốc Methadone tại huyện Mỏ Cày Nam, huyện
Châu Thành và Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội, thủ tục đơn
giản và chỉ cần sự phối hợp của gia đình người nghiện. Hơn nữa, UBND tỉnh
Bến Tre chủ trương trích ngân sách từ nguồn kinh phí chi cho Sở Y tế để mua
thuốc Methadone cấp miễn phí cho bệnh nhân điều trị trong thời gian sắp tới nếu
các tổ chức quốc tế ngưng nguồn kinh phí hỗ trợ.
Trước tình hình đó, các trung tâm cai nghiện, các cơ sở cai nghiện bắt
buộc là nơi mà đối tượng nghiện ma túy đến cai nghiện thế nên công tác quản lý
trường hợp tại các trung tâm cai nghiện cần được đặt lên hàng đầu góp phần kéo
giảm tình trạng nghiện ma túy và cai nghiện thành công cho đối tượng ma túy
trên địa bàn các tỉnh thành trong cả nước nói chung và Bến Tre nói riêng.
cần ưu tiên của đối tượng để làm cơ sở xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp hoặc
chuyển gửi nếu nhu cầu của đối tượng vượt quá khả năng đáp ứng của Trung tâm.
Bước 3: Lập kế hoạch can thiệp
Dựa trên cơ sở kết luận của bước 2, cán bộ và nhóm liên ngành bao gồm
những cán bộ thuộc các đơn vị, ngành liên quan cùng thảo luận để đưa ra kế hoạch
18
can thiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu nói trên. Một kế hoạch can thiệp cần có:
- Các mục tiêu: được xây dựng dựa trên nhu cầu của đối tượng. Mục tiêu phải
cụ thể và phải phản ánh được kết quả cần đạt được trong thời gian nhất định.
- Các hoạt động: được xây dựng nhằm đạt được mục tiêu nói trên.
- Tổ chức thực hiện: nêu rõ ai là người sẽ thực hiện hoạt động, nguồn lực đang
có và cần huy động để thực hiện hoạt động, hoạt động thực hiện trong bao lâu.
Khi xây dựng kế hoạch cần có sự tham gia tối đa của đối tượng để đảm bảo kế
hoạch được phù hợp và thực thi với đối tượng.
Bước 4: Triển khai kế hoạch can thiệp
Sau khi có kế hoạch can thiệp, nhân viên xã hội thực hiện chức năng điều phối,
khai thác và kết nối các nguồn lực để thực hiện kế hoạch. Một mặt cán bộ phải làm
việc với đối tượng và gia đình để cung cấp cho họ những kỹ năng để họ tự giải
quyết các vấn đề của mình, mặt khác phải phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ để
thực hiện cung cấp dịch vụ cho đối tượng và gia đình theo đúng kế hoạch đề ra. Bên
cạnh đó, cán bộ sẽ phải thường xuyên giữ mối liên lạc giữa đối tượng và người cung
cấp dịch vụ để đảm bảo rằng kế hoạch thực hiện đúng tiến độ và yêu cầu. Ở bước
này, cán bộ cần phải tiến hành vận động nguồn lực từ cộng đồng, có thể là vật chất,
con người hay mối quan hệ, để giúp đối tượng giải quyết được vấn đề của mình.
Bước 5: Kết thúc
Ở bước này, NVQLTH cần đánh giá lại tình trạng của đối tượng xem mục tiêu
hỗ trợ đối tượng có đạt được không: các vấn đề đã được giải quyết chưa, có yếu tố
mới nào nảy sinh cho đối tượng và gia đình không. Trong trường hợp đối tượng đã