Công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi nhiễm HIVAIDS từ thực tiễn trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội số II hà nội - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
NHIỄM HIV/AIDS TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
CHỮA BỆNH - GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG XÃ HỘI SỐ II,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ THANH

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
NHIỄM HIV/AIDS TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
CHỮA BỆNH - GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG XÃ HỘI SỐ II,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60900101

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI


Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Học viên

Nguyễn Thị Thanh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TRẺ EM MỒ CÔI NHIỄM HIV/AIDS ................................................................ 13

1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu ............................................................. 13
1.2 Các khái niệm công cụ ..................................................................................... 18
1.3 Cơ sở pháp lý về công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS . 21
1.4 Đặc điểm tâm lý, nguyên tắc và vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với
trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS ............................................................................ 28
1.5 Phương pháp công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS ...... 32
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
NHIỄM HIV/AIDS TẠI TRUNG TÂM CHỮA BỆNH GIÁO DỤC LAO ĐỘNG
XÃ HỘI SỐ II, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ................................................................. 38

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu.................................................... 38
2.2 Thực trạng hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi nhiễm HIV tại
Trung tâm Chữa bệnh giáo dục lao động xã hội số II Hà Nội .......................... 44
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP TRẺ MỒ CÔI NHIỄM HIV/AIDS
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CHỮA BỆNH GDLĐXH SỐ II, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI.................................................................................................................... 62

CS

Chăm sóc

CRS, Pact,USAID

Tổ chức hỗ trợ phát triển

GDLĐXH

Giáo dục lao động xã hội


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2. 1: Độ tuổi của cán bộ nhân viên Phòng Chăm sóc trẻ ............................ 41
Bảng 2. 2: Trình độ chuyên môn của cán bộ, nhân viên Phòng chăm sóc trẻ .... 42
Bảng 2. 3: Thâm niên công tác của cán bộ, nhân viên Phòng chăm sóc trẻ ....... 43
Bảng 2.4: Bảng số liệu trẻ em vào- ra từ năm 2001 đến hết tháng 12 năm 2015 44
Bảng 2.5: Bảng theo dõi cân nặng của bé Đ.A ..................................................... 52

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Thuốc ARV được sử dụng trong phác đồ điều trị cho trẻ em mồ côi
nhiễm HIV/AIDS tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số II Hà
Nội............................................................................................................................ 46
Hình 2.2: Thực đơn hàng ngày của trẻ lớn Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao
động Xã hội số II Hà Nội ....................................................................................... 50
Hình 2. 3: Thực đơn hàng ngày của trẻ sơ sinh Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục
Lao động Xã hội số II Hà Nội ................................................................................ 51
Hình 2.4: Hoạt động trò chơi được lồng ghép trong giáo dục kỹ năng tự chăm
sóc bản thân do cán bộ Trung tâm thực hiện......................................................... 56

hàng triệu em có nguy cơ bị nhiễm HIV cao hoặc bị kỳ thị, phân biệt đối xử
1


hoặc bị nghèo đói do các em sống với người bị nhiễm hoặc sống trong các
gia đình bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. Theo báo cáo mới đây của Bộ Y Tế
thì cả nước có khoảng 16.650 trẻ em bị nhiễm hoặc bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS (2012).
Hiện nay, Công tác xã hội mới bước đầu hình thành và phát triển ở Việt
Nam, do đó việc nghiên cứu, tìm hiểu và thực hành công tác xã hội với trẻ em
mồ côi nhiễm HIV/AIDS là rất quan trọng và có tính chất cấp thiết. Nhân viên
công tác xã hội làm việc trong lĩnh vực này đòi hỏi phải nắm vững cơ sở lý
luận về HIV; để từ đó xây dựng biện pháp can thiệp, trợ giúp cho trẻ em mồ
côi nhiễm HIV/AIDS trong thực tiễn.
Việc điều trị, chăm sóc sức khỏe cơ bản hàng năm đối với một bệnh
nhân có HIV/AIDS, thậm chí chưa kể đến các loại thuốc đặc trị, có thể tốn
kém gấp từ 2 đến 3 lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người
tại các quốc gia nghèo nhất. Việc này còn tốn kém hơn nhiều lần đối với trẻ
em mồ côi nhiễm HIV/AIDS do bản thân các em còn nhỏ, sức đề kháng với
các bệnh nhiễm trùng cơ hội kém, khả năng thất bại điều trị cao nếu như
không có người lớn hoặc nhân viên y tế, xã hội chăm sóc, nhắc nhở việc uống
thuốc đúng giờ.
HIV/AIDS đã thực sự làm giảm GDP bình quân đầu người hàng năm
tại những quốc gia châu Phi bị tác động mạnh mẽ bởi căn bệnh này và đe dọa
“ xóa nhòa” những thành tựu phát triển của họ trong 50 năm qua.
Tại Việt Nam, theo chương trình hành động quốc gia bảo vệ và chăm
sóc trẻ em giai đoạn 2011 - 2015, Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng
ghi nhận trong lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt,
trong đó có trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS. Tuy nhiên, một bộ phận không
nhỏ các em vẫn chưa thoát ra khỏi hoàn cảnh của chính mình để hòa nhập xã


3


mồ côi, trẻ bị bỏ rơi nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đây
cũng là một nhiệm vụ của Trung tâm được đặt ra nhằm giải quyết những vấn
đề về trẻ em bị ảnh hưởng của HIV/AIDS.
Những ngày đầu tiên chỉ có 02 trẻ đến thời điểm hiện tại tổng số trẻ em
đã lên đến 80 trẻ. Con số này sẽ không dừng lại bởi qua các phương tiện
thông tin đại chúng Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số II
(Viết tắt là Trung tâm Chữa bệnh GDLĐXH Số II Hà Nội, hay Trung tâm
CBGDLĐXH Số II Hà Nội) được biết đến là một địa chi an toàn, chăm sóc
nuôi dưỡng tốt cho trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn thành phố Hà
Nội và là một trung tâm có quy mô lớn nhất miền Bắc, có kinh nghiệm tổ
chức chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất trên toàn miền Bắc. 100% các cháu được
đưa vào Trung tâm là những trẻ em bị bỏ rơi tại các nơi công cộng ngay từ
khi mới sinh hoặc một số cháu đã lớn sau khi bố,mẹ, ông, bà qua đời được
chuyển lên trung tâm. Khi vào Trung tâm đa số các cháu có thể lực rất yếu do
một số bệnh nhiễm trùng cơ hội và không được hưởng chế đố chăm sóc sức
khỏe từ khi mới sinh nên đã gây không ít khó khăn trong công tác điều trị
chăm sóc. Từ năm 2008 trở về trước có cháu tử vong ngay từ những ngày đầu
tiếp nhận vào Trung tâm hoặc trong quá trình điều trị. Từ năm 2008 trở lại
đây chưa có trường hợp nào trẻ tử vong tại Trung tâm. Có được kết quả trên
là nhờ vào sự cố gắng nỗ lực của tập thể Ban lãnh đạo Trung tâm, cán bộ
công nhân viên đang trực tiếp chăm sóc, điều trị, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi
nhiễm HIV/AIDS. Đó còn là sự học hỏi không ngừng về kiến thức chuyên
môn, kỹ năng chăm sóc, làm việc với trẻ em của các nhân viên công tác xã
hội. Tuy nhiên, những hoạt động hỗ trợ cho trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS
đang được nuôi dưỡng tại Trung tâm vẫn còn những hạn chế nhất định cần
giải quyết. Cho đến nay, rất ít các công trình nghiên cứu về hỗ trợ trẻ em mồ


5


cứu, các đánh giá, bài viết tiêu biểu.
Thứ nhất, công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em nói
chung
“Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em” do Cục bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Bộ LĐTB&XH thực hiện năm 2012.
“Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam” do UNICEF thực
hiện năm 2010.
Nghiên cứu “Một số vấn đề cơ bản về trẻ em Việt Nam” của tác giả
Đặng Bích Thủy đã chỉ ra những vấn đề xã hội mang tính gay gắt mà trẻ em
đang phải đối mặt như bất bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội chăm sóc, bảo
vệ, lao động sớm, bị xâm hại, bị bỏ rơi...
Bài viết “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ, chăm sóc
trẻ em” của tác giả Nguyễn Hải Hữu - Cục trưởng Cục BV,CS trẻ em.
Bài viết “Nghiên cứu việc thực hiện quyền trẻ em ở Việt Nam - một số
vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Hữu Minh và Đặng Bích
Thủy, tạp chí xã hội học số 04/2007.
Bài viết “Trẻ em và quyền trẻ em vấn đề lý luận và thực tiễn” của
tác giả Trần Thị Kim Liên - Trung tâm Nghiên cứu Khoa học xã hội và
Nhân văn.
“Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát
triển các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ
Thị Ngọc Phương nhận định tại Anh, Mĩ, Úc, Philipines, Thái Lan,
Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là
trách nhiệm của các bộ và cơ quan.
Thứ hai, công trình nghiên cứu, bài viết liên quan tới trẻ em mồ côi
nhiễm HIV/AIDS

về mặt tinh thần; tuy nhiên việc tách biệt trại người lớn và trẻ em đã gây
nhiều hạn chế trong mối liên lạc giữa các em và bệnh nhân người lớn. Kết quả

7


nghiên cứu cho thấy, các em không hoàn toàn bị cô lập với xã hội bên ngoài
thế nhưng các em vẫn chưa thực sự được đón nhận bởi cộng đồng nơi các em
cư ngụ do người dân địa phương chưa thật sự hiểu về căn bệnh, về các em; từ
đó chưa có nhận thức đúng đắn và sự cảm thông sâu sắc với hoàn cảnh cũng
như sự khác biệt mà các em đang phải gánh chịu.
Từ những kết quả nghiên cứu trên nhóm tác giả đã đề ra một số giải
pháp với mong muốn hạn chế phần nào những trở ngại mà trung tâm gặp phải
trong tiến trình hỗ trợ các em có HIV hội nhập với cộng đồng như xây dựng
những tổ ấm trong đó các thành viên gia đình là những bệnh nhân có HIV
không nơi nương tựa. Kết hợp với chính quyền địa phương tổ chức các buổi
truyền thông nói chuyện với người dân địa phương để nâng cao hiểu biết của
người dân về căn bệnh AIDS qua đó có những nhận thức đúng đắn và sự cảm
thông sâu sắc với trẻ em có HIV nói chung và các em hiện sống tại trung tâm
Mai Hòa nói riêng.
Thạc sỹ Phạm Văn Tư, Khoa Công tác xã hội - ĐHSP Hà Nội trong
nghiên cứu Tham vấn tâm lý cho trẻ có và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS năm
2010 đã chỉ ra rằng trẻ có và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS thường gặp phải
những khó khăn tâm lý khi chứng kiến cái chết của cha mẹ, người thân và bản
thân các em cũng phải đối mặt với tình trạng sức khỏe không tốt của mình khi
mang trong người căn bệnh AIDS, thêm vào đó các em chịu sự kỳ thị, phân
biệt đối xử khá nặng nề của cộng đồng. Kết quả nghên cứu cho thấy phần lớn
các em cảm thấy có gì đó không ổn lắm với tỷ lệ 75.2%, 22% các em cảm
thấy bình yên, yên ổn và chỉ có 2.8% ý kiến đánh giá không bình yên, không
ổn. Do vậy, khó khăn tâm lý của các em rất cần được quan tâm giải quyết để

4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi
nhiễm HIV/AIDS từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã
hội số II Hà Nội.

9


4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài khai thác nghiên cứu từ tháng 11 năm 2015 đến 30 tháng 06
năm 2016.
- Nghiên cứu tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số II,
thành phố Hà Nội.
- Nghiên cứu về các nguồn lực công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi
nhiễm HIV/AIDS tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số II,
thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Thu thập thông tin dữ liệu
Đây là phương pháp thu thập thông tin thông qua những nguồn tài liệu
có sẵn. Trong bài luận văn tác giả đã thu thập các thông tin từ các nguồn như
sách, báo mạng Internet, tạp chí, báo cáo liên quan đến công tác xã hội đối với
trẻ em bị nhiễm HIV nói chung cũng như các báo cáo hàng năm về công tác
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS tại Trung
tâm Chữa bệnh GDLĐXH số II Hà Nội. Những thông tin thu thập được tổng
hợp, phân tích theo yêu cầu của luận văn trên cơ sở đảm bảo tính khách quan.
5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn Lãnh đạo Trung tâm, nhân viên công tác xã hội: Nhân viên
chăm sóc, nuôi dưỡng, nhân viên y tế và trẻ em đang làm việc tại Trung tâm
Chữa bệnh GDLĐXH số II Hà Nội.
Dung lượng mẫu: 66

ảnh hưởng đến việc hoạt động công tác xã hội đối với trẻ em em mồ côi
nhiễm HIV/AIDS tại Trung tâm Chữa bệnh GDLĐXH số II Hà Nội. Từ đó
giúp hiểu rõ nguyên nhân và đưa ra giải pháp để các cấp, chính quyền địa
phương, các bên liên quan, nhân viên công tác xã hội và cả cộng đồng cùng
chung tay hỗ trợ, tạo động lực cho trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS vượt qua

11


những khó khăn, trở ngại, vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục,
luận văn có 3 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với trẻ em mồ
côi nhiễm HIV/AIDS.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi nhiễm
HIV/AIDS tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số II Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị cho việc đưa công tác xã hội
vào trợ giúp trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS ngày càng hiệu quả hơn tại
Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số II Hà Nội.

12


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ
EM MỒ CÔI NHIỄM HIV/AIDS
1.1 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.1.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái
Hệ thống là một tập hợp các phần tử khác nhau, giữa chúng có mối liên

Nhìn nhận mỗi Trung tâm bảo trợ xã hội là một hệ thống và cũng là
một tiểu hệ thống, khi tiến hành nghiên cứu chúng tôi không thực hiện những
hoạt động riêng lẻ, rời rạc đối với từng tiểu hệ thống mà thực hiện đồng bộ
với tất cả các tiểu hệ thống của Trung tâm nhằm có kết quả nghiên cứu, khách
quan, xác thực nhất.
Trong quá trình làm việc của nhân viên Công tác xã hội với trẻ em mồ
côi nhiễm HIV/AIDS, lý thuyết hệ thống sinh thái giúp họ nhìn nhận một
cách tổng thể các tác động ảnh hưởng đến trẻ. Vì bản thân trẻ cũng là một hệ
thống do đó khi có vấn đề nảy sinh với trẻ cần phân tích thấu đáo sự tương tác
qua lại giữa trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS với hệ thống sinh thái – môi
trường xã hội, đặt vấn đề của trẻ trong mối tương tác này để tìm hiểu được
nguyên nhân gốc rễ, từ đó có hướng giải quyết phù hợp.
Các hệ thống có sự tương hỗ lẫn nhau. Khi vấn đề của trẻ chưa được
giải quyết tốt có thể là do sự xung đột giữa các hệ thống hay rào cản nào đó
khiến việc tiếp cận các hệ thống hỗ trợ chưa được đảm bảo. Việc áp dụng
thuyết hệ thống sinh thái sẽ giúp nhân viên Công tác xã hội:
- Sử dụng và phát huy tối đa khả năng của trẻ trong sự tương tác với
các hệ thống khác để giải quyết vấn đề.
- Giúp tăng cường khả năng tương tác giữa trẻ, gia đình trẻ với các hệ thống.
- Xây dựng mối quan hệ mới giữa trẻ, gia đình trẻ với các hệ thống trợ
giúp xã hội.

14


- Cải tạo mối quan hệ tương tác giữa các thành viên trong cùng hệ
thống. Cụ thể là phá bỏ những hệ thống đóng trong cùng một gia đình.
- Giúp phát triển và thay đổi hệ thống chính sách xã hội một cách
phù hợp.
- Cung cấp trợ giúp thực tế khác khi cần thiết.

phát triển toàn diện.
Theo ông khi con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một mức
độ nhất định sẽ nảy sinh các nhu cầu bậc cao hơn.
Ứng dụng khi làm việc với trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS: Trẻ em
thuộc nhóm này gặp rất nhiều vấn đề, để giải quyết các vấn đề đó triệt để cần
phải chuyển sang nhu cầu cụ thể. Trong mỗi trẻ khác nhau, với từng hoàn
cảnh khác nhau thì nhu cầu cũng khác biệt. Chính vì vậy, việc tiếp cận theo
nhu cầu khi làm việc trực tiếp với trẻ sẽ giúp nhân viên Công tác xã hội hỗ trợ
trẻ tốt hơn. Giải quyết vấn đề theo từng tầng bậc trong từng trường hợp.
Vận dụng lý thuyết nhu cầu của A. Maslow trong nghiên cứu chúng tôi
tìm hiểu các nhu cầu của trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS đang được chăm
sóc, nuôi dưỡng tại Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số II Hà
Nội và xem xét sự bảo đảm các nhu cầu từ phía Trung tâm, các nhân viên
Công tác xã hội, người giáo dục, người chăm sóc, sự ưu tiên về nhu cầu nào
trước, nhu cầu nào sau hay các nhu cầu được đáp ứng theo trình tự của thang
nhu cầu A. Maslow. Nhu cầu nào chưa được đáp ứng và nguyên nhân vì sao.
1.1.3 Lý thuyết vai trò
Vai trò là khái niệm nhấn mạnh những kỳ vọng xã hội gắn với những vị
thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích những kỳ vọng trong xã
hội ấy. Mỗi một vai trò lại gắn với một nhóm đối tác khác nhau và nhóm đối
tác đó có một hệ kỳ vọng riêng của họ.
Vai trò không chỉ đơn giản liên quan đến những hành vi được xã hội
quan sát mà trong thực tế còn bao gồm xã hội quan niệm những hành vi đó

16


phải được thực hiện ra sao. Những hành vi được thực hiện đúng với mong
muốn của xã hội được gọi là chuẩn mực và giá trị xã hội đó.
Trong xã hội mỗi người không phải chỉ đảm nhận một cai trò thường

Đối với người chăm sóc, đáp ứng các nhu cầu của trẻ và thực hiện các
hoạt động chăm sóc trẻ em hàng ngày đặc biệt là nhóm trẻ sơ sinh.
Đối với bản thân trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS, các em lớn có vai trò
chỉ bảo hướng dẫn cho các em nhỏ trong học tập, sinh hoạt. Chính các em
cũng có vai trò hỗ trợ trung tâm tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống qua việc
trồng rau, làm nón...
Tóm lại, lý thuyết hệ thống, lý thuyết vai trò, lý thuyết nhu cầu là nền
tảng lý luận cho phép nghiên cứu, phân tích, lý giải mối quan hệ tương hỗ
giữa các thành phần, bộ phận, chức năng liên quan đến hoạt động Công tác xã
hội đối với trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS từ thực tiễn Trung tâm Chữa
bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số II Hà Nội; các chức năng,bộ phận ấy tác
động, ảnh hưởng lẫn nhau trong sự hài hòa của cấu trúc tổng thể; mỗi thành
phần, bộ phận đều có những vai trò cụ thể khi tham gia vào các mối quan hệ
trong cùng hệ thống hoặc với hệ thống xung quanh. Mặt khác, việc thể hiện
nhu cầu và đáp ứng các nhu cầu của trẻ em mồ côi nhiễm HIV/AIDS cần
được đặc biệt quan tâm bởi hơn ai hết các em đã và đang chịu nhiều thiệt thòi
trong cuộc sống so với những trẻ em bình thường khác.
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Khái niệm trẻ em
Trẻ em, theo quan điểm của Xã hội học, là nhóm nhân khẩu đặc biệt
trong quá trình xã hội hóa, đang học đóng vai trò cũng như tiếp thu những
kiến thức, kỹ năng để tham gia hành động xã hội với tư cách là một chủ thể.
Còn theo Công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc thì “Trẻ em là
tất cả con người dưới 18 tuổi, tùy vào luật áp dụng cho trẻ em.”
Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại qui định về độ tuổi trẻ em ở các văn

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status