VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN TÚ
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI
NGHIỆN MA TUÝ TỪ THỰC TIỄN CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ
METHADONE HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN TÚ
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI
NGHIỆN MA TUÝ TỪ THỰC TIỄN CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ
METHADONE HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
3.1. Lý do ứng dụng công tác xã hội nhóm đối với người nghiện ma túy
dùng thuốc thay thế Methadone................................................................ 43
3.2. Nhận xét chung về sử dụng công tác xã hội nhóm để trợ giúp, hỗ trợ
người nghiện ma túy dùng thuốc thay thế Methadone ............................. 62
KẾT LUẬN .................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 67
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ, cụm từ viết tắt
Từ, cụm từ đầy đủ
BCS
Bao cao su
BKT
Bơm kim tiêm
BN
Bệnh nhân
CDTP
Chất dạng thuốc phiện
CTXH
CTGTH và điều trị Methadone ....................................................................... 31
Bảng 2.2: T lệ cán bộ huyện và xã hiểu biết đầy đủ về các nội dung của Chương
trình CTGTH và điều trị Methadone............................................................... 32
Bảng 2.3: Chính quyền địa phương có nghị quyết, kế hoạch phòng chống
HIV/AIDS hàng năm ........................................................................................ 32
Bảng 2.5: Đánh giá của cán bộ về tình hình dịch HIV/AIDS ở địa phương ... 34
Bảng 2.6: T lệ cán bộ biết tác hại của nghiện ma túy tại địa phương ........... 34
Bảng 2.7: Đánh giá của cán bộ về mức độ kỳ thị, phân biệt, ........................ 35
đối xử với người nghiện ma tuý và bệnh nhân điều trị Methadone ................ 35
Bảng 2.8: T lệ cán bộ ủng hộ chương trình CTGTH và điều trị Methadone 35
Bảng 2.9: Đánh giá của cán bộ về môi trường pháp lý để triển khai .............. 36
chương trình CTGTH và điều trị Methadone ................................................. 36
Bảng 2.10: Thực tế tư vấn điều trị tại cơ sở điều trị ...................................... 39
Bảng 2.11: Tư vấn kỹ năng tham gia các sinh hoạt nhóm .............................. 40
Bảng 2.12: Hỗ trợ người nghiện ma tuý hoà nhập cộng đồng ....................... 41
Sơ đồ 3.1: Tương tác thành viên trong nhóm người nghiện ma tuý thị trấn
Tuần Giáo ........................................................................................................ 50
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghiện ma túy là một bệnh mãn tính của não bộ người, hiện chưa có
thuốc chữa trị dứt điểm. Người nghiện ma túy lệ thuộc vào thuốc về cả mặt
thể chất lẫn tâm thần.Đã gây ra rất nhiều những tác động xấu đến bản thân và
xã hội và rất nhiều hệ lụy phía sau. Nghiện ma túy là trạng thái nhiễm độc chu
kỳ, mãn tính do sử dụng lặp lại nhiều lần một chất độc tự nhiên hay tổng hợp
nào đó. Đặc trưng của sự nhiễm độc đó là cần tăng liều dùng, Sự lệ thuộc tâm
sinh lý của người dùng vào tác dụng của thuốc. Người nghiện ma túy là
những người thường xuyên dùng 1 chất gây độc, có hiện tượng phụ thuộc
thuốc. Nói cách khác, nghiện ma túy là trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn
của ma túy và ổn định trật tự an toàn xã hội. Chính phủ đã ban hành Nghị
định 96/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc Qui định
về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Bộ Y tế
ban hành Quyết định số 3140/2010/QĐ-BYT về việc ban hành “Hướng dẫn
điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone”.
Với phương pháp tiếp cận đa chiều trên cơ sở các nghiên cứu khác về
hỗ trợ, giúp đỡ người nghiện, người sau cai nghiện ma túy về các lĩnh vựcviệc
làm, y tế, hòa nhập cộng đồng ta có thể xác định.
Người nghiện có nhu cầu được yêu thương, chia sẻ. Chính tình yêu thương
và lòng tin của mọi người sẽ làm tăng thêm sức mạnh trong cuộc sống của những
người nghiện, giúp họ vượt qua tất cả để cai nghiện và tái hòa nhập với cuộc sống
đời thường.
Những người nghiện có nhu cầu lớn về hỗ trợ y tế để chữa trị bệnh, cai
nghiện và phục hồi sức khỏe.
Người nghiện còn có nhu cầu về thông tin kiến thức về bệnh của mình
để hiểu rõ được nguyên nhân, tác hại và có các phương pháp phòng chống căn
bệnh này. Từ đó giúp cho họ chủ động tham gia vào các chương trình cai
nghiện cũng như phòng chống tệ nạn xã hội.
2
Người nghiện cần được xã hội giúp họ có một nghề nghiệp ổn định để
giúp họ hiểu được ý nghĩa của cuộc sống.Tìm lại được niềm vui trong lao
động, niềm tin, tình yêu của gia đình, cũng như ngoài xã hội và cũng thông
qua đó họ mới không còn cảm giác bị gia đình, xã hội bỏ rơi mà cảm thấy
mình như được tái hòa nhập với cộng đồng.Trên cơ sở quan hệ bình đẳng,
không bị đối xử phân biệt. Công tác xã hội nhóm có các điều kiện cần và đủ
để hỗ trợ hướng dẫn người nghiện có các kỹ năng, hỗ trợ, tương trợ của
những người nghiện với nhau. Sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, cộng đồng,
xã hội nhằm giúp người nghiện hòa nhập cộng đồng và ổn định định tình
cáo là văn bản thống kê và phân tích thường niên của bức tranh tình hình ma
túy toàn cầu tương đối hoàn chỉnh. Đồng thời, đề ra các giải pháp đẩy mạnh
việc thực hiện các công ước quốc tế về kiểm soát ma túy.Các hiệp định đẩy
mạnh song phương, đa phương về hợp tác phòng chống ma túy. Mỹ phát
động chiến dịch "Zero Addiction" ngăn chặn lạm dụng ma túy ở Alabama.
Một liên minh của các cơ quan liên bang đã đưa ra một chiến dịch mang tên
"Zero Addiction" để nói với những người dân Alabama rằng việc lạm dụng
ma túy, thuốc kê toa sẽ gây ra nhiều tội ác, phá hủy hạnh phúc của các gia
đình và nhiều thiệt hại khác trên toàn tiểu bang. Úc mở chiến dịch chống “đại
dịch” ma túy đá [11 tr 82]. Như vậy, tình hình sử dụng trái phép ma túy trên
Thế giới có diễn biến hết sức phức tạp. Bên cạnh đó, những nghiên cứu trên
Thế Giới mang đến cái nhìn tổng quan về tình hình ma túy cũng như những
hoạt động điều trị nghiện làm cơ sở cho nghiên cứu trợ giúp người nghiện ma
tuý của nhà nghiên cứu.
2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia đẩy mạnh chiến lược phòng
chống tệ nạn ma túy. Những nghiên cứu ở Viêt Nam hiện nay về ma túy và
người sử dụng ma túy cũng có nhiều điểm tương đồng với các nghiên cứu
trên thế giới. Tiêu biểu: “Các công trình nghiên cứu khoa học về HIV/AIDS
4
giai đoạn 2006 - 2010” do Bộ Y tế xuất bản năm 2010” đã cho thấy hiện tại cả
nước có khoảng 140.000 người sử dụng ma túy đang được quản lý. Mỗi năm
tăng thêm khoảng 7.000 - 8.000 người sử dụng ma túy, dựa trên Báo cáo của
ngành Công an (Hội nghị tổng kết của Ủy ban Quốc gia Phòng chống
HIV/AIDS, phòng chống tệ nạn xã hội ma túy và mại dâm, tổ chức tại Hải
Phòng, tháng 3/2012)[36].
Tác giả Mạc Văn Trung trong bài viết “Nạn nghiện ma túy xem xét ở
tâm lý và công tác giáo dục nhân cách người sau cai nghiện tại cộng đồng.
Qua đó, tác giả cũng khẳng định trách nhiệm của cộng đồng, gia đình, xã hội
và bản thân người sau cai nghiện trong việc điều chỉnh tâm lý, giáo dục, phục
hồi nhân cách cho người cai nghiện và những giải pháp giúp người sau cai
nghiện ma túy trở về với gia đình, cộng đồng được thực hiện bằng biện pháp
tâm lý.[2]
Tác giả Phan Thị Mai Hương (2005) với nghiên cứu “Thanh niên nghiện
ma túy nhân cách và hoàn cảnh xã hội” [15].Là một cách tiếp cận mới về thanh
niên nghiện ma túy – từ góc độ của tâm lý học. Tác giả đã phân tích, hệ thống
hóa những lý luận về đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội và sự ảnh hưởng cả
chúng trong việc nghiên cứu hành vi của người nghiện ma túy cũng như quan
điểm về việc giải quyết chúng trong thực tiễn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra một số
đặc điểm nhân cách và hoàn cảnh nổi trội của thanh niên nghiện ma túy, mối
quan hệ giữa các đặc điểm với hành vi nghiện. Trong đó, vai trò của gia đình
được tác giả tìm hiểu ở khía cạnh môi trường gia đình gắn với vị thế kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến đặc điểm nhân cách và mức độ nghiện của thanh niên
nghiện ma túy.Cách quản lý của cha mẹ đối với con cái. Trên cơ sở việc ngăn
chặn hành vi nghiện ma túy và việc cai nghiện ma túy ở thanh niên cần phải kết
hợp giữa tri thức và biện pháp tâm lý học. Kết quả nghiên cứu đã định hướng
về hướng giáo dục và ứng xử thích hợp với người nghiện ma túy cũng như góp
phần ngăn ngừa việc lạm dụng ma túy ở thanh thiếu niên.
6
Theo báo cáo về tình hình ma túy tại Việt Nam của Cục phòng chống tệ
nạn xã hội.Đến năm 2014, cả nước có 204.377 người sử dụng ma túy có hồ sơ
quản lý, trong đó những người sử dụng heroin chiếm t lệ lớn nhất (72%), sau
đó là những người sử dụng ma túy tổng hợp (14,5%), còn lại là những người
sử dụng các loại ma túy khác như cần sa, thuốc phiện, tân dược có chứa chất
gây nghiện và các loại ma túy khác. 63 tỉnh, thành phố đều có người nghiện
đến 50% số người phạm tội về ma tuý, khoảng 75% các tội phạm hình sự có
nguyên nhân bắt nguồn từ những người nghiện ma tuý . Nhà nước ta hàng
năm phải dành một khoảng ngân sách lớn cho công tác phòng chống ma túy:
Bình quân hàng năm, cứ hơn 140.000 người nghiện ở nước ta tiêu tốn khoảng
1.200 - 1.500 t đồng cho việc sử dụng ma tuý (Bộ Lao động, Thương binh và
Xã hội). Chi phí cho chương trình phòng chống, cai nghiện, quảng bá năm
1996 là 20 tỉ đồng. Từ năm 1998 - 2000 số tiền chi cho việc phòng chống
trong cả nước là 125 tỉ 703 triệu[13].Với cách tiếp cận người nghiện ma tuý là
người bệnh mạn tính của não bộ. Các hoạt động hỗ trợ, trợ giúp người nghiện
ma tuý hòa nhập cộng đồng xã hội, đặc biệt là các ứng dụng công tác xã hội
trong việc trợ giúp đối tượng này còn nhiều khó khăn thách thức.Cần có sự
vào cuộc của toàn xã hội và hệ thống chính trị. Do đó, đề tài: “Công tác xã hội
nhóm đối với người nghiện ma tuý từ thực tiễn Cơ sở điều trị Methadone
huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên” đi sâu nghiên cứu hoạt động hỗ trợ, trợ
giúp kết nối các nguồn lực của Nhà nước, tổ chức cho nhóm đối tượng nghiện
ma tuý tại Cơ sở điều trị methadone.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ
trợ nhóm người nghiện ma túy dùng thuốc thay thế methadone. Trên cơ sở đó
ứng dụng công tác xã hội nhóm và đề xuất một số biện pháp giúp nhóm đối
tượng này có thêm kiến thức, kỹ năng để tái hòa nhập cộng đồng.
8
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý luận về công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ
nhóm người nghiện ma túy dùng thuốc thay thế methadone.
Khảo sát thực trạng việc áp dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ
pháp có thể thu thập được một lượng thông tin trong quá trình điều tra và thu
thập thông tin từ người nghiện ma túy và có những hiểu biết về nghiện ma
túy, các phương pháp phòng chống và các kỹ năng giảm tác hại của ma túy.
Cơ cấu bảng hỏi tôi xây dựng thành 2 phần :
Phần 1: Phần thông tin cá nhân
Phần 2: Phần trả lời câu hỏi.
Số lượng câu hỏi: 12 câu
Số phiếu phát ra là: 45 phiếu
Số phiếu thu về là: 45 phiếu
Người được phỏng vấn là người nghiện ma tuý dùng thuốc thay thế tại
Cơ sở điều trị Methadone huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên. Độ tuổi từ 18 đến
60 tuổi.
Cùng với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, tác giả còn sử dụng các
biểu, số liệu khảo sát của Sở Y tế tỉnh Điện Biên năm 2015.Tổng cỡ mẫu: 400
người tham gia phỏng vấn. Trong đó: Tuyến huyện: Phỏng vấn 76 cán bộ bao
gồm lãnh đạo các cơ quan, đơn vị: UBND huyện, Trung tâm Y tế huyện,
Thường trực huyện Ủy, Phòng Y tế, Ban Tuyên giáo huyện Ủy, Phòng Lao
động - Thương binh và xã hội, Mặt trận Tổ quốc, Công an, Hội Liên hiệp Phụ
nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, cán bộ Công an phụ trách Quản lý hành
chính trật tự an toàn Xã hội, bác sỹ trưởng cơ sở điều trị Methadone. Tuyến
xã: Phỏng vấn 324 cán bộ của 36 xã, phường, bao gồm: Lãnh đạo UBND
xã,Thường trực Đảng ủy, Mặt trận Tổ quốc xã, Hội Phụ Nữ, Hội Nông dân,
Đoàn Thanh Niên, Trạm trưởng trạm Y tế xã, Công an xã, cán bộ Lao động –
Thương binh và xã hội.
10
* Phương pháp quan sát là thu thập thông tin thực nghiệm thông qua:
nghe, nhìn để thu thập thông tin về các hiện tượng xã hội, các quá trình diễn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục luận văn
còn có 3 chương sau đây :
Chương 1 : Cơ sở lý luận.
Chương 2 :Hoạt động của chương trình và hoạt động tham vấn tư vấn tại
cơ sở điều trịMethadone.
Chương 3: Ứng dụng công tác xã hội nhóm với người nghiện ma túy
dung thuốc thay thế tại Cơ sở điều trịMethadone.
12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Khái niệm ma túy, người nghiện ma túy
Hiện có nhiều loại định nghĩa khác nhau về ma tuý. Nhưng nhìn chung
khi nói tới ma tuý là nói tới các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi
được đưa vào cở thể (bằng cách: tiêm, chích, hút, hít, nhai, nuốt...) nó sẽ làm
thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý người đó.
Nếu lạm dụng ma tuý, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn
thương và nguy hại cho người sử dụng, cho gia đình và cộng đồng.
Luật phòng, chống ma tuý của Việt Nam tại điều 2 đã đưa ra một số
định nghĩa về ma tuý hoặc có liên quan đến khái niện ma tuý như sau:
- Chất ma tuý là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong
danh các danh mục do Chính phủ ban hành.
- Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình
trạng nghiện đối với người sử dụng.
- Chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác,
nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện với người sử dụng.
- Tiền chất là các chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế,
biểu hiện trên rõ rang hay thoảng qua. Muốn biết chính xác cần xét nghiệm để
tìm chất ma túy trong nước tiểu hoặc trong máu[37].
1.1.2. Các khái niệm công tác xã hội
* Khái niệm công tác xã hội
Theo Kỹ năng công tác xã hội nhóm của sinh viên ngành công tác xã
hội ( sách chuyên khảo) TS Hà Thị Thư: “ Công tác xã hội là một khoa học xã
hội ứng dụng, là một nghề chuyên nghiệp ra đời vào đầu thế k XX ở nhiều
nước trên thế giới. Nó có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội của con
14
người, mỗi quốc gia. Sự ra đời và phát triển công tác xã hội đã đóng góp đáng
kể vào việc ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề xã hội, góp phần bảo đảm
công bằng xã hội và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia [48,tr.11-19].
Theo Từ điển công tác xã hội (1995): “công tác xã hội là một khoa học
xã hội ứng dụng, nhằm giúp con người hoạt động có hiệu quả về mặt tâm lý
xã hội và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh cao nhất
cho con người’’[48],[76].
Theo quan niệm của Hiệp hội chuyên gia công tác xã hội Mỹ: công tác
xã hội là hoạt động chuyên môn nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng phục
hồi hay tăng cường chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp
để giúp họ thực hiện được mục đích cá nhân [48],[76].
Theo quan niệm của Philippin: công tác xã hội là một nghề chuyên môn,
thông qua các dịch vụ xã hội nhằm phục hồi, tăng cường mối quan hệ qua lại
giữa cá nhân và môi trường vì nền an sinh của cá nhân và toàn xã hội.
Như vậy, các định nghĩa về công tác xã hội của liên đoàn chuyên
nghiệp xã hội quốc tế, của Hiệp hội chuyên gia công tác xã hội Mỹ và
Philippin tuy có sự khác nhau trong cách diễn đạt, nhưng nội hàm của khái
niệm đều có những đặc trưng chung sau đây:
nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể [85].
Từ những định nghĩa và phân tích trên có thể đưa ra kết luận: công tác
xã hội nhóm là một phương pháp của công tác xã hội nhằm trợ giúp các
thành viên trong nhóm được tạo cơ hội và môi trường hoạt động tương tác,
chia sẻ những mối quan tâm hay những vấn đề chung khi tham gia vào các
hoạt động nhóm để đạt được những mục tiêu chung của nhóm và hướng đến
giải quyết những mục đích cá nhân thành viên.
Nhóm trong công tác xã hội là những thành viên có cùng hoàn cảnh
khó khăn nhất định, chung vấn đề và họ chung nhu cầu ví dụ như nhóm người
có HIV/AIDS, người nghiện ma túy, nhóm phụ nữ bị bạo hành, nhóm trẻ em
16
lang thang hay nhóm trẻ bị nhiệm hay bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, nhóm
phụ nữ bị buôn bán… Chính vì lý do đó mà công tác xã hội viên liên kết họ
lại với nhau để họ có môi trường sinh hoạt, từ đó cùng giúp nhau vượt qua
khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, một trong những yếu tố quan trọng của
công tác xã hội nhóm đó chính là nơi sinh hoạt nhóm. Ở nơi này các hoạt
động nhóm được thực hiện giúp cho các thành viên nhóm được thỏa mãn nhu
cầu cá nhân của minh. Thông qua môi trường sinh hoạt nhóm, các thành viên
nhóm được đáp ứng nhu cầu giao tiếp nhóm. Nhiệm vụ của công tác xã hội
viên trong công tác xã hội nhóm đó là tạo môi trường thuận lợi cho các đói
tượng xã hội được gọi là các thành viên nhóm có cơ hội được thể hiện tối đa
tiềm năng phát triển năng lực, được bộc lộ cảm xúc và diễn tả những cảm
nghĩ, suy tư của mình giúp các thành viên hỗ trợ lẫn nhau và cùng giải quyết
vấn đề. Giúp các thành viên nhóm thay đổi thái độ, hành vi, cảm xúc của
chính mình và hiểu được người khác. Giúp các thành viên nhóm tăng cường
sự gắn bó, chấp nhận nhau tạo sự tương tác giữa các thành viên, không khí
thoải mái để thực hiện mục đích nhóm đã đặt ra” [ 29,tr 61-62].
bản chất của vấn đề của người nghiện và các phương pháp để họ hỗ trợ người
nghiện.
Phát triển cộng đồng , nhóm ở cơ sở cải thiện chất lượng cuộc sống.
1.2. Các lý thuyết ứng dụng trong đề tài
1.2.1. Thuyết hệ thống
Theo cuốn “Các lý thuyết phát triển tâm lý người” của tác giả Phan
Trọng Ngọ (2003) Thuyết hệ thống là một trong những thuyết quan trọng
được vận dụng trong Công tác xã hội. Khi thực hiện một tiến trình giúp đỡ
không thể thiếu được lý thuyết hệ thống bởi NVXH cần chỉ ra cho thân chủ
của mình những mặt thiếu và định hướng cho NNMT cần đến những hệ thống
trợ giúp nào và tìm cách giúp đỡ để họ có thể tiếp cận và tham gia các hệ
thống. Có làm được như vậy thì NVXH mới thực sự hoàn thành tiến trình
18
giúp đỡ của mình. Chỉ khi nào thân chủ có được sự giúp đỡ và tham gia các
hệ thống họ mới thực sự trở lại là chính họ. Đó cũng là cái đích cuối cùng mà
CTXH hướng đến. Thuyết hệ thống giúp nhân viên xã hội có những hiểu biết
về thể chế, sự tương tác của các hệ thống này với nhau và với các thành viên
nhóm, biết được nhân tố nào hỗ trợ cho sự thay đổi để tham gia vào hoạt động
trợ giúp. Theo thuyết này, cá nhân tồn tại trong một hệ thống: gia đình, trường
học, cộng đồng, hàng xóm…Những vấn đề nghiện cần được xem xét trong
một chuỗi các yếu tố xung quanh họ chứ không chỉ là bản thân người nghiện.
Nói chung khi làm việc với người sử dụng ma túy và người nghiện, các nhà
tâm lý cho rằng không chỉ duy trì các phương pháp trị liệu chủ đạo mà còn
chia sẻ mục tiêu về cân bằng tâm lý giữa các hệ thống. Các nhà tâm lý học
lâm sàng nhấn mạnh các ứng dụng có sự cân bằng tâm lý giữa các hệ thống
bên trong cơ thể con người và hệ thống bên ngoài cũng như mục tiêu cân
bằng giữa sức khỏe, thể chất và sức khỏe tâm thần. Các nhà tâm lý học đã chỉ