VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN ĐỊNH
QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ
HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM BẢO TRỢ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. BÙI THỊ MAI ĐÔNG
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN VĂN ĐỊNH
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 73
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là hạnh phúc của mỗi gia đình, là
lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cùng với sự phát triển của
đất nước, trẻ em ngày càng được Đảng, Nhà nước, xã hội và gia đình quan tâm,
chăm sóc tốt hơn, được tạo mọi điều kiện để phát triển và phát huy vai trò chủ nhân
của mình trong tương lai.
Cùng với những thành tựu về tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, các
chính sách và chương trình liên quan đến bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em bước đầu
đã mang lại kết quả đáng khích lệ; các chỉ tiêu liên quan đến dinh dưỡng, sức khỏe
trẻ em; giáo dục trẻ em; bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; vui chơi giải
trí của trẻ em; nước sạch vệ sinh môi trường đã được cải thiện đáng kể sau hơn 20
năm đổi mới .
Tuy nhiên, từ thực trạng kinh tế - xã hội của một nước nghèo, chậm phát triển,
phải gánh chịu những hậu quả nặng nề sau chiến tranh, dưới tác động tiêu cực của
nền kinh tế thị trường và tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xu thế mở cửa,
hội nhập quốc tế; sự chuyển dịch, biến đổi về văn hoá, xã hội từ cái cũ sang cái
mới... Các hiện tượng xã hội như nghèo đói, phân hoá giàu nghèo với khoảng cách,
sự chênh lệch ngày càng lớn về mức sống, thu nhập giữa những bộ phận dân cư
trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường làm nảy sinh nhiều vấn đề xã
hội đối với trẻ em, khiến trẻ em trở thành đối tượng dễ bị tổn thương. Bên cạnh đó,
các trào lưu xã hội như di cư, sự băng hoại các giá trị đạo đức, sự thay đổi thang giá
trị xã hội, tình trạng ly hôn ngày càng cao, nạn bạo hành và phân biệt đối xử về giới,
tình trạng bất cập, thiếu hụt hoặc lệch lạc trong giáo dục gia đình... đã làm xuất hiện
trong xã hội nhiều nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, đó là những trẻ em mồ côi
không nơi nương tựa, trẻ em lang thang đường phố, trẻ em bị bạo hành, trẻ em bị
nhiễm HIV/AIDS, trẻ em nghiện ma túy, trẻ em vi phạm pháp luật...
dù trẻ em được chăm sóc đầy đủ về thể chất nhưng đời sống tinh thần ít được cải
thiện...
Xuất phát từ những lý do trên, em nhận thấy việc thực hiện nghiên cứu:
“Quản lý trường hợp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ thực tiễn
Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả Công tác xã hội với trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
2
2. Tình hình nghiên cứu về đề tài
Bác sĩ Nguyễn Trọng An (chủ biên) trong tập bài cuốn: “Công tác bảo vệ,
chăm sóc trẻ em trong thời kỳ mới”, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2012 đã
khái quát Công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em trong thời kỳ mới; tình hình thực hiện
Công ước quốc tế về Quyền trẻ em ở Việt Nam; thực trạng các vấn đề: Bao lực và
lạm dụng trẻ em; tai nạn thương tích trẻ em; suy dinh dưỡng ở trẻ em; trẻ em bị
nhiễm HIV; trẻ em bị rối nhiễu tâm trí…và các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn,
xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; can thiệp, hỗ trợ trẻ em bị rỗi nhiễu tâm trí, trẻ em
tự kỷ, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDS.
Th.s. Nguyễn Thị Hằng Phương “Thực trạng các vấn đề khó khăn và nhu cầu
hỗ trợ tâm lý của trẻ em tại các trung tâm bảo trợ xã hội”. Tác giả đưa ra khó khăn
vật chất học tập, tinh thần của trẻ em trong các trung tâm bảo trợ xã hội. Đề tài đã
chỉ ra khó khăn của trẻ em trong trung tâm bảo trợ và cần sự hỗ trợ các nguồn lực
bên ngoài. Bên cạnh đó đề tài cho thấy nhu cầu tâm lý từng đối tượng trong trung
tâm.
Trong “Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam” năm 2010, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội
đã tập trung đánh giá khung luật pháp, chính sách về trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt,
so sánh với các chuẩn mực quốc tế, tìm ra thiếu hụt và hạn chế pháp luật Việt Nam
trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nâng cao tính chuyên nghiệp của
công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung tâm Bảo trợ và
công tác xã hội tỉnh Ninh Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý trường hợp đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Trung
tâm Bảo trợ và Công tác xã hội Ninh Bình
4.2. Khách thể nghiên cứu:
- Nghiên cứu 40 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đang sống tại Trung
tâm Bảo trợ và Công tác xã hội Ninh Bình
- Cán bộ, nhân viên đang làm việc tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội
Ninh Bình
- Một số người thân (họ hàng, bạn bè…) của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn.
4
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Các số liệu, dữ liệu khảo sát được sử dụng trong luận văn
là những dữ liệu, số liệu từ năm 2010 đến nay.
- Phạm vi không gian: Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình.
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các hoạt động Quản lý
trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Qui trình Quản lý trường hợp và
các hoạt động trong qui trình; Việc Lập hồ sơ lưu trữ; Việc điều phối các dịch vụ
công tác xã hội ; Vai trò và các kỹ năng của cán bộ Quản lý trường hợp và nhân viên
công tác xã hội của Trung tâm.
- Giới hạn về khách thể nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu 40 trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn được chăm sóc nuôi dưỡng tại Trung tâm Bảo trợ và công tác xã
+ Quan sát điều kiện sinh hoạt của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; cơ sở
vật chất, trang thiết bị phục vụ việc nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn tại Trung tâm.
+ Quan sát các hoạt động của nhân viên trong các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng,
trị liệu….trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
+ Quan sát hoạt động hằng ngày của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để
tìm hiểu thái độ của các em đối với người chăm sóc, nuôi dưỡng, nhân viên công tác xã
hội.
- Phương pháp xử lý số liệu:
Thống kê, khai thác có hiệu quả những số liệu, rút ra những nhận xét kết luận khoa
học khách quan đối với vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ thực
tiễn Trung tâm Bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Ninh Bình vừa có ý nghĩa về mặt lý
luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn.
6.1. Ý nghĩa lý luận
Những kết quả nghiên cứu lý luận góp phần làm sáng tỏ và phong phú hơn các
lý thuyết về Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; tính hợp lý
của các lý thuyết công tác xã hội được sử dụng trong quá trình Quản lý trường hợp
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;
6
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ, đúng đắn hơn về Quản lý trường hợp
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ và công tác
xã hội. Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích tại các cơ sở đào
tạo ngành, nghề công tác xã hội nói chung và công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn
chạm, giao cấu, cũng như những hành vi không tiếp xúc như quan sát hoạt động
tình dục, ghi băng những hình ảnh khiêu dâm, bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích
thương mại.
- Trẻ em nghiện ma túy: Là những trẻ em sử dụng lặp đi lặp lại một hay
nhiều chất ma túy dẫn đến trạng thái nhiễm độc chu kì hay mãn tính, bị lệ thuộc về
thể chất và tinh thần. Khi nghiện ma túy nếu ngừng sử dụng sẽ bị hội chứng cai
nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần trong một thời gian nhất định tùy thuộc
vào mức độ nghiện.
- Trẻ em vi phạm pháp luật: Là những trẻ em có hành vi làm trái với chuẩn
mực đạo đức của xã hội. Những hành vi này có tác động có hại cho xã hội và con
người. Những hành vi đó của trẻ em không chỉ có tác hại cho xã hội mà còn có tác
hại mạnh mẽ đối với chính bản thân các em. Nhưng với độ tuổi còn ít, các em chưa ý
thức hết được hậu quả của mình làm cho các em ngày càng sa lầy vào các tệ nạn xã
hội.
Như vậy, có thể hiểu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó là những trẻ em có
hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để
thực hiện các quyền cơ bản của mình, khó hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
1.1.2. Đặc điểm của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
1.1.2.1. Hoàn cảnh sống:
Về phía gia đình, từ trước tới nay, gia đình luôn giữ vai trò hàng đầu, là yếu
tố quyết định đối với việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Trẻ em là thành phần
quan trọng cấu thành gia đình. Quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng chính là
hai trong ba mối quan hệ cơ bản tạo nên gia đình. Cha mẹ và các thành viên trong
gia đình là những người gần gũi mật thiết thường xuyên ở bên cạnh trẻ em, việc
chăm sóc không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện tình yêu thương con trẻ. Trong
gia đình, việc bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em cần được thực hiện một cách khoa
10
11
dịch vụ trong chợ, bến xe như: đi làm phụ nề, đóng gạch, bưng bê thức ăn, rửa bát
đĩa... tuy đây là hình thức lao động giản đơn nhưng nguy hiểm là không có ai bảo vệ
các em, nên thời gian lao động và nghỉ ngơi có thể rất tùy tiện. Trẻ lang thang trên
đường phố thích tự do, sống lang thang trên đường phố phần lớn với mục đích là để
kiếm sống, đảm bảo cho sự no đủ của dạ dày
Nhóm trẻ em bị xâm hại tình dục có những đặc điểm thể chất điển hình tùy
theo lứa tuổi của trẻ. Những trẻ dưới 5 tuổi thường gặp khó khăn khi vận động như
đi lại, ngồi. Những trẻ từ 6 đến 9 tuổi thì đi lại, chạy nhảy không bình thường, quần
áo lót của trẻ bị rách, bị bẩn một cách bất thường, bị ngứa ngáy khó chịu hoặc có
vết máu ở cơ quan sinh dục, âm đạo, hậu môn; Những trẻ từ 10 tuổi trở lên thì ngoài
những đặc điểm thể chất giống với các trẻ nhỏ tuổi hơn ở các em còn có đặc điểm
như có tiền và đồ vật lạ nhưng không rõ nguồn gốc, ăn mặc khác thường, có triệu
chứng xanh gầy, đau vùng cơ quan sinh dục, bị viêm nhiễm, mắc các bệnh lây qua
đường tình dục hoặc mang thai…
1.2.2.2. Đặc điểm tâm lý:
Trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng đang
phải chịu những tác động mạnh mẽ bởi rất nhiều yếu tố tiêu cực của môi trường
xung quanh. Sự phát triển của xã hội, sự tương tác giữa các cá nhân và các nhóm
khác nhau. Trong quá trình phát triển của xã hội nhận thức và hành vi bị chi phối và
chịu sự tác động của môi trường xã hội từ đó trẻ em có những nhận thức lệch chuẩn
về bản thân, hoặc hệ thống giáo dục gây sức ép quá lớn gây sức ép khiến trẻ em bị
khủng hoảng về tâm lý. ảnh hưởng tiêu cực của hoàn cảnh dễ xa vào các tệ nạn xã
hội như ma túy, mại dâm, bỏ nhà đi lang thang. Hệ quả của các vấn đề xã hội này
ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của trẻ lâu dài, có thể là suốt cuộc đời.
Ngoài những đặc điểm tâm lý nêu trên thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn còn có những đặc điểm tâm lý riêng mang tính đặc thù cụ thể như:
trả lực lượng làm nhiệm vụ khi bị truy đuổi.
- Về học tập:
Do những đặc điểm về hoàn cảnh sống, về tâm sinh lí quy định, hầu hết trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt thường khó khăn trong tiếp cận cơ hội học tập. Đa số các
em có trình độ học vấn thấp ở bậc tiểu học và phổ thông cơ sở, số em có trình độ
học vấn ở trình độ phổ thông trung học rất thấp. Sự khiếm khuyết về giáo dục dễ
dẫn các em đến những méo mó về nhân cách trong quá trình phát triển gây ra những
13
trở ngại, thiệt thòi cho các em khi tiếp cận nghề nghiệp, công ăn việc làm, thu
nhập....
Tuy nhiên, cũng có một số trẻ em như trẻ mồ côi, do ý thức được hoàn cảnh
của mình nên các em “biết thân, biết phận” vì thế nỗ lực không ngừng. Các em rất
cố gắng, chịu khó trong học tập, rèn luyện để tự vươn lên, thậm chí chấp nhận hy
sinh những thú vui đồng lứa để dành thời gian ưu tiên cho học tập. Vì thế, kết quả
học tập của các em này thường vượt trội so với các bạn cùng trang lứa.
- Kỹ năng sống
Đối với những trẻ em được sinh ra trong những gia đình đầy đủ cha mẹ, được
quan tâm chăm sóc, yêu thương, được tạo cơ hội học tập thì kỹ năng sống vẫn còn
là một vấn đề. Tình trạng thiếu và yếu kỹ năng sống đối với các thành viên trong xã
hội Việt Nam nói chung với trẻ em nói riêng vẫn là phổ biến. Bởi một thực tế, các
trường học hiện nay vẫn chú trọng dạy chữ nhiều hơn dạy người. Mặc dù thời gian
gần đây, kỹ năng sống đã được quan tâm nhiều hơn, đó là với những đứa trẻ có điều
kiện và hoàn cảnh thuận lợi thì việc tiếp cận với kỹ năng sống đã hạn chế. Vậy với
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, việc đi học còn gặp khó khăn, vì thế trang bị kỹ năng
sống lại càng khó khăn hơn. Thiếu đi kỹ năng sống, trẻ gặp nhiều khó khăn trong
tiếp cận với môi trường xung quanh, hòa nhập với xã hội cũng như khẳng định
chính mình. Nhiều em phải đối mặt với công việc kiếm sống hàng ngày, thiếu sự
tạm bợ, dột nát, chật chội. Nhiều căn nhà không đủ đảm bảo an toàn, không bảo
đảm sức khoẻ cho con người, đó là những túp lều tạm bợ ở khu ổ chuột, quây tạm
hay nhà tranh, vách nứa, mái lá đơn sơ gió rét, mưa dột, không có điện thắp sang,
không có khả năng trang bị những vật dụng hiện đại như ti vi, tủ lanh, quạt điện, vệ
sinh môi trường không đảm bảo… Những điều kiện về nơi ở thiếu thốn, khó khăn
đã kéo theo hệ lụy như ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống văn hóa tinh thần nghèo
nàn, thiếu cơ hội để học tập trang bị những kiến thức, kỹ năng cho tương lai, nên
cuộc sống cứ như một cái vòng luẩn quẩn không thể thoát ra.
Điều kiện vệ sinh, nước sạch: Đây là vấn đề rất quan trọng trong cuộc sống.
Có nhiều nguồn nước khác nhau được con người sử dụng: nước giếng, nước mưa,
nước ao hồ, nước sông suối, nước máy… nhưng nguồn nước phổ biến nhất không
chỉ với người nông thôn mà cả với người thành thị đó là nguồn nước giếng. Nguồn
nước này có thể sạch hơn các nguồn nước từ ao hồ, sông suối nhưng thực tế trong
nước giếng có những chất gây hại cho con người khi vượt quá nồng độ cho phép.
Hiện nay, nước máy vẫn được xem là nguồn nước sạch, đủ tiêu chuẩn cho sức khỏe
15
con người và chương trình nước sạch quốc gia đang hướng đến đưa nước sạch đến
cho mọi người trên đất nước mà trước tiên là cho người dân thành thị. Tương tự,
nhà tiêu hợp vệ sinh đang là một vấn đề quan trọng rất được chú ý. Nhà vệ sinh là
nơi tiềm ẩn nhiều vi sinh vật gây bệnh nhất trong không gian sống. Nhà vệ sinh
không sạch là nguy cơ lây lan bệnh trong cộng đồng và trẻ em là đối tượng dễ mắc
bệnh nhất. Nhà tiêu có nhiều loại, tự đào và tự hoại, trong đó chúng ta đang hướng
đến xóa bỏ nhà tiêu tự đào, xây dựng nhà tiêu tự hoại, đảm bảo vệ sinh của cá nhân
và môi trường xung quanh.
Trẻ em là đối tượng chịu ảnh hưởng mạnh nhất của vấn đề vệ sinh nước sạch
này. Trẻ em không được sử dụng nguồn nước sạch, không được sử dụng nhà tiêu
hợp vệ sinh và không được giáo dục cách giữ vệ sinh bản thân trở thành nguyên
dù việc chăm sóc sức khỏe tinh thần không quá tốn kém nhiều kinh phí, người chăm
sóc chỉ cần yêu thương, quan tâm đến trẻ bằng chính những hành động thiết thực
của mình như an ủi trẻ, trò chuyện với trẻ, thường xuyên hỏi thăm tình hình của trẻ,
vui chơi cùng trẻ, khuyến khích trẻ trong cuộc sống… Nhưng trên thực tế một số trẻ
không có được những mối quan tâm đơn giản như vậy do các em không có cha mẹ,
hoặc cha mẹ mất sớm, bỏ rơi con cái… một số trẻ khác thì vì sinh ra trong gia đình
khó khăn nên cha mẹ mải lo toan cho cuộc sống với miếng cơm manh áo nên đời
sống tinh thần của các em không được quan tâm đúng mức.
1.1.3.3. Điều kiện vui chơi giải trí:
Nhiều nghiên cứu của các khoa học chứng minh rằng, trẻ em phát triển và hình
thành thể chất, trí tuệ, nhân cách… một cách toàn diện một phần nhờ tham gia các
hoạt động vui chơi giải trí phù hợp. Vui chơi giải trí không chỉ giúp trẻ giải tỏa căng
thẳng trong học tập mà còn giúp trẻ học được nhiều điều trong cuộc sống như thích
ứng xã hội, phát triển trí tưởng tượng, học cách hợp tác với người khác… Trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là trẻ em và tất nhiên quyền vui chơi giải trí là cần thiết
và quan trọng đối với sự phát triển của trẻ. Vui chơi giải trí càng cần thiết để các em
hòa nhập với bạn bè, giúp trẻ giảm bớt những mất mát, thiệt thòi, tự ti mặc cảm về số
phận của mình.
Ngày nay các trung tâm vui chơi giải trí mọc lên ngày càng nhiều, hình thức
vui chơi ngày càng đa dạng phong phú. Có những khu vui chơi bình dân, có những
khu vui chơi cao cấp, và đa phần khi tham gia vui chơi thì phải trả tiền, chỉ có một
số ít khu vui chơi công cộng là không mất tiền. Vậy một câu hỏi đặt ra: Tại sao kinh
tế ngày càng phát triển thì xã hội ngày càng đi xuống. Tại sao trẻ em phải trả tiền để
17
được vui chơi. Chúng ta quá phát triển kinh tế trong khi chất lượng cuộc sống tinh
thần không được quan tâm đúng mức. Nếu không có những khu vui chơi cho trẻ em
nghèo, những trẻ có hoàn cảnh khó khăn thì những đứa trẻ này chỉ có thể đứng từ xa
em sẽ rất sợ khi phải đến trường sợ bạn bè biết về những việc “xấu xa” mà mình đã
trải qua. Mặt khác, do chương trình giáo dục của nhà trường hiện nay đang nặng về
lý thuyết với phương pháp dạy học chưa kích thích được tư duy, sáng tạo của các
em nên các em cảm thấy nhàm chán, trong khi đó những thú vui ngoài xã hội thì có
sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với các em.
1.1.4. Nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn:
Nhu cầu chung:
- Vật chất là nhu cầu đầu tiên, cơ bản và thiết yếu đối với mỗi con người.
Nhu cầu vật chất bao gồm: thức ăn, nước uống, chỗ ở, quần áo, được chăm sóc khi
đau ốm…đamr bảo cho sự phát triển về mặt thể chất của trẻ;
- Nhu cầu về mái ấm gia đình, là chỗ dữa về mặt thể chất và tinh thân của trẻ
. Gia đình đóng vai trò rất quan trọng. Đối với trẻ em mô côi luôn khát khao một
mái ấm gia đình có đầy đủ cả cha lẫn mẹ và anh chị em ruột của mình;
- Nhu cầu được giải trí, vui chơi, học tập. Thông qua những hoạt động này để
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn luôn được hòa đồng với xã hội để tự khẳng
định mình;
- Nhu cầu được tôn trọng, trẻ luôn đòi hỏi nhu cầu này từ bạn bè, và người
lớn để làm tăng sự tự tin và nghị lực của trẻ;
Mọi trẻ em đều có nhu cầu được cung cấp vật chất ở mức tối thiểu để có thể
tồn tại và ở mức độ phù hợp để phát triển tối đa những tiềm năng của mình. Nếu
những nhu cầu cơ bản không được đáp ứng, trẻ sẽ không thể tồn tại và phát triển
một cách bình thường. Các nhu cầu này biến đổi cùng với sự tăng trưởng của trẻ.
- Nhu cầu riêng:
Có thể nói, nhu cầu vật chất là nhu cầu đầu tiên của bất cứ đứa trẻ nào.
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cũng như những trẻ khác, đều muốn được đảm bảo
các nhu cầu chính đáng của bản thân. Hiện nay, những trẻ có hoàn cảnh đặc biệt
phần lớn đều sống trong tình trạng thiếu thốn, khó khăn về kinh tế. Đa số các em
sống trong hoàn cảnh nghèo và rất nghèo, rất cần có sự quan tâm, đáp ứng kịp
thời về nhu cầu vật chất. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cần có một môi
(cộng đồng, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể…) để đáp ứng tốt nhất cho đối
tượng các nhu cầu về thể chất, tâm lý giúp đảm bảo an sinh xã hội cho đối tượng hỗ
trợ họ có cuộc sống phát triển hài hòa nhất có thể.
20
- Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Từ khái niệm
Quản lý trường hợp nói trên, Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn có thể được hiểu như sau:
Quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn là một quá trình
tổ chức, điều phối hệ thống dịch vụ xã hội nhằm đảm bảo tất cả các chương trình
tổng thể hay đơn lẻ được phối hợp một cách chặt chẽ, đáp ứng việc chăm sóc trẻ đạt
hiệu quả tối ưu. Trong quá trình này nhân viên xã hội là người kết nối và điều phối
các dịch vụ và hỗ trợ trực tiếp về tâm lý xã hội cho trẻ. Đây là một quá trình có sự
tham gia của trẻ và người nuôi dưỡng, giám hộ trẻ vào việc xác định vấn đề, lên kế
hoạch giải quyết vấn đề và hỗ trợ trẻ hoặc người nuôi dưỡng trẻ thực hiện các kế
hoạch đã đề ra để đạt được mục tiêu mong muốn. Trong quá trình này nhân viên
quản lý trường hợp có nhiệm vụ tìm kiếm, kết nối và điều phối các dịch vụ hỗ trợ,
giúp đỡ trẻ hoặc người nuôi dưỡng phát huy các nguồn lực bên trong (như các
nguồn lực về sức khỏe, thể chất, tâm lý, điều kiện kinh tế, các mối quan hệ của trẻ
hoặc người nuôi dưỡng) và có thể kết nối với bên ngoài (cộng đồng, các tổ chức
chính trị xã hội, đoàn thể có cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn, các chế độ chính sách hỗ trợ trẻ em mồ côi và người nuôi
dưỡng...) để đáp ứng tốt nhất cho các nhu cầu của trẻ về vật chất và tinh thần cũng
như nhu cầu của người nuôi dưỡng trẻ để người nuôi dưỡng có thể có các điều kiện
chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được tốt nhất.
1.2.2. Các nguyên tắc trong quản lý trường hợp trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn.
- Tôn trọng, không phán xét: Chấp nhận thân chủ trong hoàn cảnh của họ sẽ
Thu hút sự tham gia của cá nhân trẻ, gia đình trẻ, cộng đồng và các nhà cung cấp
dịch vụ sẽ chứng tỏ được nền tảng triết lý của công tác xã hội là: mỗi cá nhân đều
có sức mạnh họ ở trong hoàn cảnh nào; giữa các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã
hội luôn có mối quan hệ tương tác; cá nhân có trách nhiệm với gia đình và cộng
đồng, ngược lại, gia đình, cộng đồng và xã hội phải có trách nhiệm với mỗi cá nhân.
- Cung cấp các dịch vụ trợ giúp thích hợp, liên tục, toàn diện và hiệu quả:
Hiệu quả trợ giúp đối tượng chỉ đạt được khi nó được thực hiện dựa trên một
kế hoạch khả thi, phù hợp với nhu cầu của trẻ. Hoạt động trợ giúp các gói dịch vụ
mang tính toàn diện cần được duy trì liên tục cho tới khi trẻ “phục hồi”, có khả năng
tự lực trong cuộc sống. Ngoài ra, khi xây dựng kế hoạch can thiệp, Cán bộ quản lý
22