VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC THƠ
QUẢN LÝ TRƢỜNG HỢP ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI
TỈNH SÓC TRĂNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HÀ THỊ THƢ
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN NGỌC THƠ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
CSVC: Cơ sở vật chất
NVCTXH: Nhân viên công tác xã hội
NVQLTH: Nhân viên quản lý trường hợp
QLTH: Quản lý trường hợp
TEMC: Trẻ em mồ côi
TTBTXH: Trung tâm Bảo trợ xã hội
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Bảng 2.1.
Tên bảng
Các nguồn thu thập thông tin về trẻ em mồ côi
35
Bảng 2.2.
Các phương pháp thu thập thông tin của NVQLTH
37
Bảng 2.3.
Các nội dung thông tin cần thu thập
38
Bảng 2.9.
Các tiêu chí kết thúc QLTH đối với trẻ em mồ côi
49
Trang
Bảng 2.10. Các công việc cần làm của NVQLTH khi kết thúc quy trình
quản lý trường hợp
50
Bảng 2.11. Mức độ các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp đối
52
với trẻ em mồ côi (xếp theo thức bậc
Bảng 2.12. Các yếu tố thuộc về bản thân trẻ em mồ côi
55
Bảng 2.13. Yếu tố thuộc về bản thân nhân viên quản lý trường hợp
56
Bảng 2.14. Năng lực đáp ứng của Trung tâm
58
tỉnh, thành phố; mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội được hình
thành, phát triển với 408 cơ sở trợ giúp xã hội công lập và ngoài công lập, trong đó
có 34 Trung tâm công tác xã hội nuôi dưỡng trên 20.000 trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt. Tuy vậy, mạng lưới cơ sở bảo trợ xã hội vẫn chưa thể đáp ứng kịp thời sự gia
tăng nhanh chóng về số lượng đối tượng trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt là trẻ mồ
côi không nơi nương tựa [1, tr.6].
Sóc Trăng là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long với mật độ dân
số khoảng 1.300.000 người, có 4.432 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong đó có 245
1
trẻ em mồ côi không nơi nương tựa [20, tr.2], có 3 dân tộc sinh sống Kinh, Hoa,
Khơme, trình độ dân trí thấp, mạng lưới công tác xã hội chỉ bố trí được 3 huyện thí
điểm, huyện Trần đề, huyện Thạnh Trị và thành phố Sóc Trăng và một Trung tâm
Bảo trợ xã hội của tỉnh.
Trung tâm Bảo trợ xã hội là cơ sở tổng hợp bao gồm 5 dạng đối tượng trong
đó có 60 là trẻ em mồ côi, tại đây các em được nuôi dưỡng chăm sóc cả về mặt thể
chất lẫn tinh thần, nhân viên xã hội tại Trung tâm chính là cầu nối để các em tiếp
cận với cộng đồng. Tuy nhiên cũng giống như một số Trung tâm trong cả nước,
Trung tâm chỉ chú trọng công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nhằm đảm bảo
cho trẻ em được ăn no, ngủ ấm, được đến trường. Riêng công tác quản lý trường
hợp đối với trẻ em chưa được quan tâm đúng mức, có thực hiện công tác quản lý
trường hợp tại cơ sở nhưng theo tiến trình 5 bước chưa thực hiện đầy đủ, nhân viên
công tác xã hội chưa kết nối trẻ em với các nguồn lực bên ngoài, chưa đánh giá
được nhu cầu đích thực của trẻ em như nhu cầu đi học, nhu cầu vui chơi giải trí, nhu
cầu chăm sóc sức khỏe, nhu cầu học nghề, nhu cầu việc làm, nhu cầu về tình cảm
… để từ đó kết nối một cách có hiệu quả những nhu cầu và nguồn lực đó.
Từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Quản lý trường hợp đối với trẻ em
mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Sóc Trăng” làm luận văn tốt
2010 đã xem xét tình hình trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc chính về quyền
con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách nhiệm giải trình. Các cơ
sở chăm sóc cả công lập và dân lập có ở hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước dưới
nhiều hình thức như chăm sóc tại nhà, chăm sóc tập trung và các hình thức chăm
sóc hỗ trợ không chính thức khác. Tình trạng số lượng cho con nuôi ra nước ngoài
cao trong khi đây được quy định là biện pháp cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn
cách nào khác. Ngoài ra báo cáo cũng chỉ ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định
cụ thể cho việc truy tố những đối tượng hoạt động môi giới cho nhận con nuôi trái
pháp luật [23].
Thứ hai, công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em mồ côi
“Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em : đánh giá pháp luật và chính sách bảo
vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt nam” do Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội được sự giúp đỡ của UNICEF tổ chức biên soạn năm 2009.
Bài báo cáo nêu ra tổng quan tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ dễ bị tổn
thương trên thế giới và ở Việt nam. Đồng thời báo cáo còn cho chúng ta thấy các
3
hoạt động chăm sóc, bảo vệ trẻ em theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em ở Việt
Nam, các dịch vụ hỗ trợ các trẻ như trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi, trẻ bị lạm dụng và trẻ
em đường phố, dựa trên pháp luật và chính sách của Việt Nam [4].
Tác giả Nguyễn Thị Thảo và Vũ Thị Lệ Thủy (2006), trường Đại học Lao
động xã hội với nghiên cứu “Công tác chăm sóc và đáp ứng nhu cầu của trẻ em mồ
côi tại làng trẻ Birla, thực trạng và giải pháp”. Trong nghiên cứu của mình nhóm
tác giả chỉ ra được thực trạng công tác chăm sóc và đáp ứng nhu cầu cần thiết của
trẻ em mồ côi tại làng trẻ Birla cũng như đưa ra được những hướng giải quyết nhằm
khắc phục những tồn tại khó khăn đó [24].
Với chuyên đề “Đánh giá tình hình chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi
tại Việt nam trong thời gian qua” của tác giả Nguyễn Thị Bích Hằng (2011), tác giả
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận từ thực trạng quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi
tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Sóc Trăng và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề
này; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục khó khăn và nâng cao hiệu quả
công tác quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi tại Trung tâm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi.
- Phân tích đánh giá thực trạng quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi tại
Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Sóc Trăng.
- Lý luận và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trường hợp trẻ em
mồ côi.
- Đề xuất biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trường hợp trẻ em mồ
côi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Sóc Trăng và các Trung tâm trong khu vực.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã
hội tỉnh Sóc Trăng.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Cán bộ làm việc với trẻ em mồ côi và trẻ em mồ côi
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vị về đối tượng: đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng về
nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi.
5
- Phạm vi khách thể: đề tài nghiên cứu 35 nhân viên quản lý trường hợp và
40 trẻ em mồ côi, độ tuổi từ 11 đến 16 tuổi.
- Phạm vi về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2016
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
khả năng, phương pháp trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: để có thêm nhiều thông tin chất lượng phục
vụ cho đề tài nghiên cứu, tôi thực hiện phương pháp phỏng vấn sâu được lựa chọn
06 trẻ em mồ côi và 03 nhân viên quản lý, chăm sóc đã được tiến hành thực hiện
khảo sát bằng phương pháp điều tra bảng hỏi.
- Phương pháp quan sát: là phương pháp thu thập thông tin của nghiên cứu
xã hội học thực nghiệm thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông
tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trong đề tài này tác giả sử dụng phương pháp quan sát nhầm thu thập, bổ
sung thông tin còn thiếu. Cụ thể đề tài tập trung quan sát về môi trường, không gian
sống của trẻ, quan sát thể chất, quan sát tình thần, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm
lý của đối tượng khảo sát với người điều tra, nhằm xác định xem trẻ có gặp phải
những vấn đề khó khăn sức khỏe, tâm lý hay không. Quá trình này được thực hiện
trong suốt thời gian nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Luận văn sẽ xác định khung lý thuyết nghiên cứu quản lý trường hợp đối với
trẻ em mồ côi để làm rõ thêm các khái niệm, mục đích, nguyên tắc trong quản lý
trường hợp đối với trẻ em mồ côi, các quy trình quản lý trường hợp và vai trò,
nhiệm vụ của cán bộ quản lý trường hợp.
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về quản lý trường
hợp đối với trẻ em mồ côi.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi trong Trung tâm Bảo trợ xã hội là
việc làm cần thiết nhằm giúp các em vượt qua khó khăn, mặc cảm, giúp các em xác
định những nhu cầu cần thiết, tìm kiếm tiềm năng, điểm mạnh từ đó nâng cao năng
lực tự giải quyết vấn đề của mình, kết nối các nguồn lực, cung cấp các dịch vụ cần
thiết theo nhu cầu của các em, giúp các các em đủ tự tin để hòa nhập cộng đồng.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, công tác này gặp rất nhiều khó khăn, bất cập
Theo Điều 1, Công ước quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố
năm 1989 xác định “Trong phạm vi công ước này trẻ em có nghĩa là người dưới 18
tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên
sớm hơn” [9, tr.28].
- Khái niệm trẻ em theo luật pháp Việt Nam
Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11 quy định
trẻ em là “ công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [18, tr.35].
Trong luật tố tụng hình sự sử dụng khái niệm “người chưa thành niên” là
“người đủ 14 tuổi đến 18 tuổi”.
Từ các quy định trên, trên phương diện pháp lý có thể thống nhất khái niệm
trẻ em theo pháp luật Việt Nam là “Trẻ em là người chưa thành niên dưới 16 tuổi”.
Trong phạm vi của đề tài, tác giả vận dụng khái niệm Trẻ em theo Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Trên cơ sở đó nhóm trẻ trong phạm vi nghiên cứu
là những trẻ em mồ côi không nơi nương tựa từ 11 đến dưới 16 tuổi tại Trung tâm
Bảo trợ xã hội tỉnh Sóc Trăng.
Như vậy chúng ta có thể hiểu trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi chưa
phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, trẻ em cần được chăm sóc, bảo vệ, giáo dục.
* Khái niệm trẻ em mồ côi
Theo Sở di trú Mỹ: “Trẻ em mồ côi là trẻ dưới 16 tuổi, không có sự chăm
sóc của cả cha lẫn mẹ”.
Theo Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, việc xếp trẻ em mồ côi không nơi
nương tựa, bị bỏ rơi vào một nhóm là vì đặc điểm của nhóm trẻ em này không có
9
cha mẹ hoặc vì lý do nào đó không được sống cùng cha mẹ “Trẻ em tạm thời hoặc
hoàn toàn không được sống trong môi trường gia đình hoặc vì lý do ảnh hưởng đến
lợi ích của một cá nhân không được quyền tiếp tục sống trong môi trường gia đình
sẽ có quyền được nhận sự trợ giúp và bảo vệ đặc biệt của Nhà nước” [9, tr.3].
được nhu cầu xuất phát từ bản thân của trẻ.
- Nhu cầu về mặt vật chất phục vụ cho việc ăn, ở, vệ sinh, đảm bảo cho sự
phát triển về thể chất của trẻ.
+ Về dinh dưỡng : Dinh dưỡng là những chất cung cấp cho cơ thể nguồn
sống và năng lượng để cơ thể hoạt động. Với cơ thể trẻ em còn non nớt, để phát
triển cân đối và đảm bảo có đủ sức khỏe, cơ thể các em cần được cung cấp đủ các
chất dinh dưỡng. Các em cần được ăn đủ no, đủ bữa và đủ các chất dinh dưỡng như
đạm, chất béo, đường, chất khoáng, vitamin và nước.
+ Nhu cầu vệ sinh, nước sạch và đồ dùng sinh hoạt
+ Về chăm sóc y tế: trẻ cần được chăm sóc y tế
- Nhu cầu chăm sóc về tâm lý, tình cảm: Đối với trẻ em mồ côi, tình cảm là
nguồn cổ vũ, động viên các em vượt qua mặc cảm về sự thiệt thòi, vượt qua những
khó khăn, thiếu thốn về vật chất, thiếu hụt của hoàn cảnh sống để vươn tới cuộc
sống tốt đẹp, bản thân các em có nghị lực, có ước mơ, hoài bão để các em đứng
vững chính đôi chân của mình.
- Nhu cầu vui chơi giải trí: Với trẻ em mồ côi là những người chịu thiệt thòi
hơn cả nên việc đáp ứng nhu cầu về vui chơi, giải trí càng trở nên quan trọng và
không thể thiếu đối với các em. Thông qua các hoạt động vui chơi, các em cảm thấy
tinh thần được thoải mái, cảm thấy cuộc sống có ích và gần gũi với mọi người hơn.
Vì lý do đó, tại Trung tâm Bảo trợ xã hội, ngoài việc thiết kế khu vực ăn, ở của trẻ,
việc thiết kế các khu vực vui chơi giải trí là không thể thiếu. Nhân viên công tác xã
hội tại các cơ sở bảo trợ xã hội luôn là người tạo điều kiện cho trẻ tham gia vui
chơi, giải trí, tổ chức cho trẻ đi tham quan, đi chơi tại các khu vui chơi, công viên
trong và ngoài địa phương.
- Nhu cầu được đi học : Trẻ em mồ côi cần được học tập nhu bao trẻ em
khác. Đối với các em học tập không chỉ là một quyền mà đó còn là cơ hội cho tương
lai. Đi học đối với các em cũng không chỉ đơn thuần là tiếp nhận kiến thức mà đó là
11
quyết vấn đề ; thiết lập và thương lượng các quy tắc làm việc và giao tiếp giữa bệnh
12
nhân và các nguồn lực bên ngoài và biện hộ vận động các nguồn lực bên ngoài để
tăng cường tính liên tục, khả năng tiếp cận, tinh thần trách nhiệm và tính hiệu quả
của những nguồn lực đó”.
- “Đánh giá nhu cầu của thân chủ và gia đình thân chủ, sắp xếp, phối hợp,
giám sát và biện hộ một gói nhiều dịch vụ để đáp ứng những nhu cầu phức tạp của
thân chủ cụ thể” (US National Association of Social Workers, 1992).
- Là một tiến trình hợp tác trong việc đánh giá, hoạch định, tạo thuận lợi và
biện hộ cho những phương án và dịch vụ đáp ứng nhu cầu sức khỏe của một cá
nhân thông qua giao tiếp và các nguồn lực sẳn có để thúc đẩy những kết quả có chất
lượng và hiệu quả” (Case Management Society of Americe).
Tóm lại, QLTH là một quá trình trợ giúp của công tác xã hội, bao gồm các
hoạt động đánh giá nhu cầu đối tượng (cá nhân, gia đình, xác định, kết nối và điều
phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp đối tượng tiếp cận với các nguồn lực để giải
quyết vấn đề của họ một cách hiệu quả [15, tr.6].
* Khái niệm quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi
Từ các khái niệm trên, quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi được hiểu
như sau: Quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi là một hoạt động công tác xã
hội nhằm trợ giúp cho trẻ em mồ côi phát triển đầy đủ về mặt thể chất, tâm lý và xã
hội thông qua thực hiện các nhiệm vụ tiếp nhận thông tin đánh giá nhu cầu của trẻ,
lập kế hoạch và triển khai kế hoạch, đánh giá trẻ em mồ côi.
1.2.2. Nguyên tắc trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi
* Nguyên tắc chấp nhận trẻ
Trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi, đây là người có hoàn cảnh
và nhu cầu chưa được đáp ứng. Đối trẻ em mồ côi vẫn có nhân phẩm và gía trị riêng
và có quyền được tôn trọng, bình đẳng. Chính vì vậy trong các hoạt động trợ giúp,
trợ tâm lý…Ngoài ra các dịch vụ hỗ trợ để tạo ra môi trường an toàn cho trẻ cũng
được quan tâm [1, tr.13].
* Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng
Đảm bảo công bằng trong quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi là mỗi
trẻ đều có các quyền như nhau khi tiếp cận các dịch vụ. Các NVQLTH phải có thái
độ khách quan và công bằng khi xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện kế
hoạch trợ giúp đối với tất cả các trẻ mà họ đang quản lý [1, tr.14].
14
1.2.3. Nhiệm vụ quản lý trường hợp đối với trẻ em mồ côi
1.2.3.1. Thu thập thông tin của trẻ em mồ côi [1, tr.19]
Trước khi thu thập thông tin và đánh giá nhu cầu của trẻ em mồ côi,
NVQLTH cần thiết phải lập mối quan hệ đối với trẻ em mồ côi.
NVQLTH phải gặp trực tiếp trẻ em mồ côi để tìm hiểu và hỗ trợ. NVQLTH
cần thiết lập mối quan hệ với trẻ mồ côi để tìm hiểu rõ hơn những khó khăn và nhu
cầu cần trợ giúp của trẻ. NVQLTH cần tạo sự tin tưởng ở trẻ, cần thể hiện sự tôn
trọng và chấp nhận trẻ, để trẻ biết rằng trẻ được chấp nhận.
* Nguồn thu thập thông tin
Thu thập thông tin toàn diện để đánh giá toàn diện về trẻ em mồ côi trước
khi xây dựng kế hoạch cung cấp dịch vụ. Do vậy nguồn thu thập thông tin cần liên
quan tới trẻ mồ côi và những người có liên quan đến trẻ trong việc chăm sóc, nuôi
dưỡng và trong các mối quan hệ xã hội: bản thân của trẻ ; anh, chị, em, ông bà, cô
dì, chú bác…; bạn bè tại trường học ; các nhân viên sóc trẻ tại Trung tâm…
* Phương pháp thu thập thông tin
- Phỏng vấn: trao đổi qua việc đặt những câu hỏi liên quan tới mục đích của
việc thu thập thông tin ;
- Quan sát: qua quan sát trẻ để có những thông tin về sức khỏe thể chất, tinh
thần và kiểm chứng những gì đã nghe được qua các kênh thông tin khác ;
kinh tế, mức thu nhập, sức khỏe của người giám hộ.
+ Các mối quan hệ thành viên trong gia đình với trẻ và giữa các thành viên
với nhau.
+ Nguồn lực trợ giúp về vật chất và tinh thần từ gia đình.
+ Mong muốn của gia đình để trợ giúp trẻ.
+ Kế hoạch dự định của gia đình để đạt được mong muốn đó.
- Thông tin về nguồn lực cộng đồng
+ Các thông tin liên quan đến các tổ chức đoàn thể có trong cộng đồng: sự
kết nối, sự cam kết hỗ trợ cho trẻ;
+ Nguồn lực về vật chất và con người có liên quan đến kế hoạch giải quyết
vấn đề;
+ Các chương trình, chính sách hay mô hình đặc biệt cho nhóm thân chủ đặc thù;
+ Sự cam kết của các nhóm, tổ chức của cộng đồng với việc hỗ trợ thực hiện
kế hoạch.
* Phỏng vấn thu thập thông tin
- Ý nghĩa của phỏng vấn thu thập thông tin : Thông tin thu được chuẩn xác
và có giá trị sẽ đảm bảo cho chất lượng của bản kế hoạch.
- Yêu cầu của phỏng vấn thu thập thông tin: lựa chọn thời gian phỏng vấn
phù hợp để mang lại hiệu quả cao, nên là những lúc mà người tham gia phỏng vấn
thấy thoải mái nhất về tâm lý.
- Kỹ năng đặt câu hỏi: là khả năng sử dụng nhiều loại câu hỏi khác nhau để
thu thập thông tin cũng như hỗ trợ thân chủ bày tỏ cảm xúc, qua đó nhà chuyên môn
sẽ giúp thân chủ thay đổi được các cảm xúc và suy nghỉ tiêu cực bằng cảm xúc và
suy nghỉ tích cực để cải thiện vấn đề hiện tại của mình. Như các loại câu hỏi :
16
+ Câu hỏi đóng/mở ; câu hỏi khai thác cảm xúc, suy nghỉ, hành vi ; câu hỏi
định hướng, tập trung vào chủ đề ; câu hỏi khẳng định lại thông tin.
tiếp xúc với mọi người xung quanh không ? hành vi trẻ thay đổi liên tục các em dễ
bị kích động hoặc ngược lại thờ ơ lãnh đạm; các em sống ít tin tưởng vào người
khác, sống nghi ngờ hoặc tỏ ra bất cần.
- Nhận thức của trẻ: trẻ có được đi học không, nhận thức của trẻ đối với mọi
sự việc xung quanh, mức độ hiểu biết của trẻ đến đâu.
- Khả năng tự khẳng định bản thân của trẻ
- Khả năng tự chăm sóc và tự bảo vệ bản thân của trẻ: trẻ mồ côi thường hay
thụ động nên việc tự chăm sóc và tự bảo vệ bản thân thường gặp những hạn chế
nhất định.
- Khả năng tiếp cận đến các dịch vụ bảo vệ trong trường hợp cần thiết, khả
năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản: trẻ em mồ côi có cuộc sống vật chất và tinh
thần rất chật vật, khó khăn, nên cản trở trẻ trong việc tiếp cận các dịch vụ bảo vệ
cũng như các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Các vấn đề trẻ em mồ côi đang gặp phải: thiếu thốn tình cảm, các em rất
hụt hẩng trong cuộc sống, cảm thấy cô đơn, phải lao động sớm để kiếm sống, vướn
vào các tệ nạn xã hội, ít được học hành, môi trường sống không an toàn…
* Đánh giá thông tin liên quan đến vấn đề của trẻ
- Môi trường trẻ em mồ côi đang sống: xem trẻ sống có tốt, có an toàn
không? nhu cầu chăm sóc của trẻ có được đáp ứng không?
- Các mối quan hệ xã hội của trẻ: xem các mối quan hệ của trẻ gồm những ai,
gia đình, họ hàng, thầy cô, bạn bè, hàng xóm, cá tổ chức đoàn thể, các tổ chức xã
hội.
- Các tổ chức đã hỗ trợ cho trẻ em mồ côi: những hỗ trợ của cộng đồng hay
những chính sách, chương trình, dịch vụ xã hội mà trẻ đang được thụ hưởng.
1.2.3.3. Xây dựng và thực hiện kế hoạch trợ giúp
* Xây dựng kế hoạch trợ giúp [1, tr 25]
Bước 1: Xác định vấn đề ưu tiên của trẻ em mồ côi
Từ những thông tin đã thu thập được ở các bước trên, cần phải xác định vấn
đã được xác định ở các bước trên, nhân viên QLTH cùng với trẻ em mồ côi và
người có trách nhiệm tham gia thảo luận có thể đưa ra các hoạt động can thiệp.
19
Mục tiêu trợ giúp
Các hoạt động cụ thể
Hỗ trợ phục hồi tâm lý cho - Gần gũi chia sẻ với trẻ
trẻ.
- Tham vấn, động viên khích lệ trẻ
Thay đổi thái độ đối với - Tư vấn cho trẻ em mồ côi về tầm quan trọng của việc
việc học của trẻ em mồ côi
học tập, đặc biệt trong hoàn cảnh của trẻ hiện tại
- Giới thiệu cho trẻ về những thành công trong cuộc sống
của những bạn gặp khó khăn tương tự
Đảm bảo đời sống vật chất - Cung cấp các đồ dùng trang thiết bị cần thiết cho sinh
cho trẻ em mồ côi để các hoạt và học tập của trẻ
em sống và học tập như - Sử dụng nguồn lực của Trung tâm
những trẻ em khác
- Vận động các tổ chức xã hội, nhà trường và các nhà hảo
tâm trong và ngoài nước.