VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO XUÂN QUYỀN
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
TRẺ TÀN TẬT THỤY AN
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. Phạm Hữu Nghị
HÀ NỘI, 2016
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ Công tác xã hội với đề tài “Phục
hồi chức năng đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức
năng trẻ tàn tật Thụy An” là đề tài nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các kết
quả nghiên cứu và số liệu trong luận văn này là trung thực không trùng lặp
với các đề tài khác.
TÁC GIẢ ĐỀ TÀI
Học viên
khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An........
3
3.2. Giải pháp tăng cường hoạt động phục hồi chức năng đối với trẻ em
khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An........
KẾT LUẬN.........................................................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU......................................................................................
PHỤ LỤC............................................................................................................83
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTXH
: Công tác xã hội
KT
: Khuyết tật
LĐTB&XH
: Lao động – Thương binh và Xã hội
NKT
: Người khuyết tật
NVCTXH
: Nhân viên công tác xã hội
hội và chỉ trong hoạt động ấy con người mới trở thành chính mình. Con người
muốn trở thành con người thực sự thì phải gia nhập xã hội loài người, để có
được sức mạnh của loài người, từ đó con người sống và phát triển. Như vậy,
sự hình thành và phát triển con người gắn liền với sự hình thành và phát triển
của xã hội trong mọi thời đại.
Người khuyết tật nói chung, trẻ em khuyết tật nói riêng cũng là con
người. Do vậy theo quy luật, họ không thể tách rời, cách ly hoặc từ bỏ mọi
hoạt động của con người. Do nhiều nguyên nhân mà họ đã mất đi quyền bình
đẳng về thân thể và trí lực, nhưng đồng loại, những con người bình thường
không thể lãng quên hay bỏ rơi họ, bởi bản thân họ là người chịu nhiều thiệt
thòi về cả thể chất lẫn tinh thần. Xã hội cần phải trợ giúp, thương yêu, hỗ trợ
để họ trở thành con người có ích trong xã hội và phục vụ cho xã hội.
Xã hội càng phát triển, kinh tế càng tăng trưởng đời sống văn hóa tinh
thần ngày càng cao. Do đó, sự đòi hỏi về tự do, bình đẳng và giải phóng cho
mỗi con người ngày càng trở thành những giá trị hiện thực và cao cả. Tại Hội
nghị Nhân quyền thế giới ngày 25/6/1993, quyền của người khuyết tật được
khẳng định: “Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, và đều có quyền
sống và phúc lợi, giáo dục và việc làm, sống một cách độc lập và tham gia
tích cực vào mọi mặt của đời sống xã hội. Bất kỳ một sự phân biệt trực tiếp
5
hoặc đối xử phân biệt tiêu cực khác đối với người khuyết tật đều vi phạm
quyền của người đó”.
Người khuyết tật không phải là người tàn phế hoàn toàn mà tùy vào các
mức độ khác nhau của các dạng tật, người khuyết tật bị hạn chế một hay
nhiều hoạt động so với người bình thường. Bên cạnh đó do cơ thể có khả
năng bù trừ các chức năng, nên có rất nhiều NKT có những khả năng, tố chất
rất đặc biệt. Người khuyết tật có khả năng tham gia mọi hoạt động kinh tế,
chính trị, văn hóa xã hội. Đó chính là quyền của người khuyết tật phải được
những kỹ năng xã hội cần thiết. Họ không biết cách tiếp cận với các chính
sách hỗ trợ. Bên cạnh đó nhận thức của một bộ phận không nhỏ cá nhân, tổ
chức trong xã hội chưa đúng đắn về NKT, còn có sự kỳ thị, phân biệt.
Chúng ta thường đau đớn và trở nên dễ tổn thương khi trải qua mất mát
hay tổn thất. Những NKT tật sống trong môi trường được đánh giá bằng các
tiêu chuẩn của những người không khuyết tật lại càng phải thường xuyên chịu
đựng những mất mát: Mất đi hình ảnh bản thân, mất đi những cơ hội, vì thế
mất cả hy vọng và ước mơ...Do vậy, người khuyết tật không chỉ cần có những
tổ chức của mình mà còn cần nhân viên xã hội hỗ trợ họ và gia đình họ.
Những điều trình bày trên là lý do mà học viên đã lựa chọn đề tài
“Phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục
hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An” làm luận văn thạc sỹ ngành Công tác xã
hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
7
Phục hồi chức năng cho người khuyết tật, trẻ em khuyết tật tại Việt
Nam đã có nhiều đề tài, tài liệu nghiên cứu, nhưng phần lớn mới tập trung ở
vấn đề phục hồi chức năng mang tính chuyên sâu ở lĩnh vực, góc cạnh nào đó.
Tài liệu “Hướng dẫn phục hồi chức năng cho trẻ em khuyết tật tại
cộng đồng” do Sở Y tế Hà Nội thực hiện năm 2007 với mục đích trang bị
kiến thức, kỹ năng cho nhân viên PHCNDVCĐ để hướng dẫn PHCN cho
TKT. Tài liệu này cung cấp những thông tin, kiến thức cơ bản và dễ hiểu nhất
đến mọi đối tượng có thể áp dụng được trong PHCN đối với TKT tại cộng
đồng.
Tài liệu “Công tác xã hội phục hồi chức năng cho trẻ bại não” do Trần
Văn Lý và các cộng sự thực hiện năm 2012 (tài liệu biên soạn với sự hỗ trợ
của Đề án 32), đây là tài liệu phân tích khá kỹ về trẻ khuyết tật bại não, đặc
năng mang tính toàn diện, giải quyết được các vấn đề của người khuyết tật,
trẻ khuyết tật trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống.
Trước thực trạng vấn đề nêu trên, luận văn sẽ tìm hiểu sâu hơn mô hình
phục hồi chức năng toàn diện, khép kín tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ
tàn tật Thụy An, từ đó góp phần nâng cao chất lượng công tác phục hồi chức
năng cho người khuyết tật, trẻ khuyết tật tại Trung tâm và cộng đồng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về phục hồi chức năng cho trẻ
khuyết tật ở Việt Nam và thực tiễn công tác này tại Trung tâm Phục hồi chức
9
năng trẻ tàn tật Thụy An trong những năm qua, từ đó đề xuất giải pháp nâng
cao hiệu quả, từng bước chuyên nghiệp hóa công tác phục hồi chức năng cho
trẻ khuyết tật tại Trung tâm này nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
3.2. Nhiệm vụ
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về trẻ em khuyết tật, nhu cầu của trẻ
khuyết tật; lý luận về phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.
Đánh giá thực trạng hoạt động chăm sóc, giáo dục, phục hồi chức năng
của trẻ khuyết tật hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân, những kết quả và hạn
chế trong hoạt động này.
Nêu định hướng, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Mô hình phục hồi chức năng toàn diện, khép kín cho trẻ em khuyết tật
tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Công tác phục hồi chức năng đối với trẻ em khuyết tật tại Trung tâm
bè, làng xóm, đoàn thể, tôn giáo, trường học, khu vui chơi giải trí, dịch vụ y
tế, chính quyền địa phương, an sinh xã hội...
Sự quan tâm của xã hội đối với trẻ khuyết tật không thể thiếu được các
cơ quan quản lý, các đoàn thể, các dịch vụ và mạng lưới an sinh xã hội. Theo
lý thuyết này, tất cả hệ thống sinh thái đều ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực
đến hành vi của trẻ. Hệ thống quản lý các công việc về người khuyết tật nhiều
11
cấp, nhiều khía cạnh, đảm bảo nhu cầu cho TKT, một dạng đối tượng cần sự
quan tâm đặc biệt [17, tr.129]
Nhân viên công tác xã hội hỗ trợ TKT trong lĩnh vực phục hồi chức
năng cần phân tích được mối tương tác giữa trẻ, gia đình trẻ và các mối quan
hệ ảnh hưởng như thế nào đối với trẻ và gia đình.
Nhân viên công tác xã hội cung cấp cho TKT, gia đình những thông tin
liên quan đến tâm lý xã hội và phục hồi chức năng, tham vấn giúp họ lên kế
hoạch, tận dụng tối đa những nguồn lực đã có, các nguồn lực trợ giúp từ bên
ngoài để trẻ được tiếp cận dịch vụ PHCN, can thiệp càng sớm càng tốt.
•
Thuyết hành vi:
Nhân viên công tác xã hội có thể tham gia cùng trẻ và gia đình trong
tiến trình giải quyết vấn đề, phải hiểu biết về lý thuyết hành vi [17, tr.130].
Công tác xã hội với TKT cần phải hiểu tâm lý, động viên khuyến khích
trẻ, và một điều quan trọng là luôn tôn trọng, tạo cơ hội cho trẻ nói ra những ý
kiến của mình mà không cảm thấy bị áp đặt, luôn dành cho chúng những tình
cảm yêu thương vì chúng rất cần sự yêu thương của mọi người.
Nhân viên công tác xã hội có trách nhiệm không chỉ thay đổi hành vi
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phục hồi chức năng đối với trẻ em
khuyết tật.
13
Chương 2: Thực trạng trẻ em khuyết tật và công tác phục hồi chức năng
cho trẻ em khuyết tật tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ tàn tật Thụy An.
Chương 3: Định hướng, giải pháp tăng cường hoạt động phục hồi chức
năng đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ
tàn tật Thụy An.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT
1.1. Trẻ em khuyết tật
1
Khái niệm trẻ em khuyết tật
* Khái niệm trẻ em:
Thuật ngữ “trẻ em” nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi
nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người1.
Tại Điều 1 Công ước quốc tế quyền trẻ em định nghĩa: “Trẻ em là
1Khái niệm “Trẻ em” đã được đề cập trong Tuyên bố Giơnevơ (1924) và Tuyên bố của LHQ về quyền trẻ
em (1959), Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (1968), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị (1966), Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hoá 1966, Công ước LHQ về Quyền trẻ em
(1990), Công ước 138 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc (1976), v.v...
15
Cho đến nay đã có khá nhiều định nghĩa đưa ra nhằm trả lời một câu
hỏi thế nào là người khuyết tật (trong đó có trẻ em khuyết tật)? Theo tổ chức
y tế thế giới OMS thì người khuyết tật là người bị khiếm khuyết 1 hay nhiều
bộ phận cơ thể chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, khiến cho
khả năng hoạt động, sinh hoạt, học tập, làm việc gặp nhiều khó khăn. Tùy
từng mức độ khác nhau các dạng tật mà người bị khuyết tật bị hạn chế một số
hoạt động, chức năng so với người bình thường.
Theo Công ước về quyền của người khuyết tật ngày 06 tháng 12 năm
2006 thì Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần
kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với
hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của
người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác.
Theo Luật Người khuyết tật thì NKT được hiểu là “người bị khiếm
khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu
hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.
1.1.2. Đặc điểm của trẻ em khuyết tật
* Các dạng trẻ khuyết tật
Theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật, khuyết tật được
phân loại theo các dạng sau:
Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động
đầu cổ, chân, tay, thân hình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
16
Các dạng tật khác
* Các nguyên nhân và yếu tố dẫn đến tình trạng KT ở Việt Nam
Thứ nhất: Về nguyên nhân
Do bệnh, tuổi cao, tai nạn, tật bẩm sinh.
Bản thân khuyết tật tạo ra tàn tật.
Thái độ sai của xã hội, đối xử thiếu công bằng gây ra khuyết tật hoặc
làm cho khuyết tật trầm trọng hơn. Xã hội càng ít chú ý đến nhu cầu, khả
năng của người khuyết tật càng tạo ra nhiều tàn tật hơn.
Nền y học phát triển chậm, chăm sóc sức khỏe ban đầu chưa tốt, nhiều
người bệnh mang nhiều di chứng thương tật thứ cấp do điều trị không đầy đủ,
không kịp thời. Y học tiên tiến cũng có thể gây nên khuyết tật nhiều vì nhiều
bệnh nhân nặng được cứu sống mà trước đây không làm được [19, tr.14].
Ngành PHCN phát triển yếu kém là một nguyên nhân gây ra tàn tật.
Theo ước tính Tổ chức Y tế thế giới 10% dân số bị khuyết tật. Riêng
các nước khu vực Tây Thái Bình Dương có khoảng 100 triệu người khuyết
tật, 75% trong số họ chưa được chăm sóc, phục hồi. Ở Việt Nam hiện nay có
khoảng 7 triệu NKT, chiếm 7,8% dân số, trong đó 28,3 % NKT là trẻ em, có 3
triệu NKT có nhu cầu phục hồi chức năng [3].
Thứ hai: Nhóm yếu tố nguy cơ
Nhóm nguy cơ thứ nhất: Do điều kiện tự nhiên.
Đất nước ta ở vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm thường phải gánh chịu
những hậu quả do thiên tai để lại. Ước tính mỗi năm nước ta có khoảng 10
trận bão lớn nhỏ đổ bộ vào. Ngoài bão ra còn có các thiên tai cục bộ như lốc,
mưa đá, lũ quét, lũ ống, hạn hán... Hậu quả thiên tai, sự tàn phá của nó đã gây
ra những thiệt hại về kinh tế, làm thất thoát hàng tỉ đồng về tài sản, hoa màu
18
kể cả tính mạng con người; trong đó có bộ phận đã trở thành khuyết tật. Việt
Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng
hơn những vùng khác.
Nhóm nguy cơ thứ tư: Những tai nạn rủi ro và bệnh nghề nghiệp.
Hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, cùng với xu thế mở cửa hội nhập, trong nền kinh tế nhiều thành
phần, theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đang tạo ra đà phát
triển về kinh tế, gia tăng mạnh mẽ các phương tiện giao thông, xây dựng các
nhà máy, xí nghiệp. Điều đó đang từng bước nâng cao mức sống của nhân
dân, tạo điều kiện cho các gia đình và xã hội chăm sóc con cái được tốt hơn,
nhưng mặt trái của nó là các thiết bị công cụ, nguyên liệu, vật tư, hóa chất
chưa được sử dụng,bảo quản theo đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật, nên đã
gây nhiễm độc thai nghén, dẫn tới không ít phụ nữ sinh con dị tật, dị dạng.
Trong nền kinh tế thị trường, do chạy theo lợi nhuận, nên có nhiều
phương tiện giao thông chưa đảm bảo các thông số an toàn cùng với sự kém
hiểu biết về luật giao thông của một số chủ phương tiện, tình trạng dùng chất
kích thích khi điều khiển phương tiện giao thông đã dẫn đến những tai nạn rủi
ro làm cho một bộ phận trẻ em trở nên khuyết tật.
Trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, quản lý thị trường của Nhà
nước còn lỏng lẻo, một bộ phận thương nhân sử dụng những hóa chất, phẩm
màu bị cấm trong thực phẩm, hay không tuân theo những quy định vệ sinh
trong các mặt hàng ăn uống đã gây ra những hậu quả đáng tiếc cho người tiêu
dùng, đó là một trong những nguyên nhân gây ra khuyết tật.
Nhóm nguy cơ thứ năm: Khuyết tật do ô nhiễm môi trường.
Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề toàn cầu hiện nay. Ô nhiễm môi
trường đang ngày càng gia tăng ở Việt Nam. Nguồn nước, không khí ở nước
ta ngày càng ô nhiễm, điều đó cũng làm gia tăng bệnh tật.
20
Ý thức bảo vệ môi trường của nhiều người Việt Nam còn chưa cao, làm
cho các ổ dịnh bệnh phát triển và lan rộng, dẫn tới những hậu quả khuyết tật ở
Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người
(Abraham Maslow, 1908- 1970)
Nhu cầu cơ bản (basic needs):
Nhu cầu này cũng được gọi là nhu cầu của cơ thể (body needs) hoặc nhu
cầu sinh lý (physiological needs), bao gồm các nhu cầu cơ bản như: ăn, uống,
ngủ, không khí để thở, tình dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,
đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người [17, tr. 53].
Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện
trừ khi những nhu cầu cơ bản được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ
chế ngự, hối thúc một người hành động khi nhu cầu cơ bản chưa đạt được
Chúng ta có thể kiểm chứng dễ dàng điều này khi cơ thể không khỏe
mạnh, đói khát hoặc bệnh tật, lúc ấy, các nhu cầu khác chỉ còn là thứ yếu.
Đối với TKT, do gặp nhiều khó khăn trong việc tự đáp ứng các nhu cầu
cơ bản. Để thỏa mãn được các nhu cầu này, trẻ cần sự hỗ trợ của người khác.
Nhu cầu về an toàn (safety needs):
Khi con người được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, nghĩa là các nhu cầu
này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ cần gì tiếp
22
theo? Khi đó các nhu cầu về an toàn sẽ bắt đầu được kích hoạt. Nhu cầu an
toàn được thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần [17, tr. 53].
Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn
cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ… Trẻ
khuyết tật thường hay biểu lộ sự thiếu cảm giác an toàn khi bứt rứt, khóc đòi
cha mẹ, mong muốn được vỗ về.
Ở trẻ khuyết tật, việc đi lại, di chuyển, cử động khó khăn; tinh thần
thường cảm thấy bất an. Việc tự bảo vệ của trẻ lại càng khó khăn, trẻ thường
nhút nhát, tự ti, thường ngại tiếp xúc với người khác, đôi khi sợ sệt.
này có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn [17, tr. 54].
Một số TKT thường bị hạn chế những thế mạnh của bản thân. Vì vậy,
nếu chúng ta chỉ nhìn vào những hạn chế đó mà có những hành động, lời nói
mang tính chỉ trích, chê bai sẽ làm cho tâm lý của trẻ bị suy sụp, trẻ sẽ càng tự
ti, sống khép mình, ngại giao tiếp với người khác.
Để khắc phục tình trạng đó, mọi người tiếp xúc với trẻ đều phải có sự
tác động tích cực, đưa ra lời khen hoặc tán thưởng khi trẻ đạt được bất cứ
thành quả gì, dù là lớn hay nhỏ. Điều đó sẽ làm cho trẻ cảm thấy mình được
tôn trọng, hình thành lòng tự trọng cho trẻ, làm thay đổi cách nghĩ và hành
động của trẻ, giúp trẻ hợp tác hơn, tích cực trong học tập và PHCN.
Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs):
Maslow mô tả nhu cầu này là: “nhu cầu của một cá nhân mong muốn
được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm””. Nói một
cách đơn giản, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết khả năng, tiềm năng
của mình để tự khẳng định mình, để làm việc, đạt các thành quả trong xã hội.
Nhu cầu này cũng chính là mục tiêu cao nhất mà giáo dục hiện đại nhắm
đến. Trong báo cáo của Unesco Learning: the Treasure Within, vấn đề học tập
đó được mô tả qua 4 trụ cột của giáo dục (The Four Pillars of Education):
24
1. Học để biết (Learning to know).
2. Học để làm (Learning to do).
3. Học để chung sống (Learning to live together).
4. Học để tự khẳng định mình (Learning to be)
Đối với trẻ khuyết, tuy sự khẳng định mình thể hiện qua vị trí không cao
như trẻ bình thường, người bình thường, nhưng nhu cầu này rất mạnh mẽ.
Ví dụ: Chỉ đơn giản như việc trẻ tự đi lại rất khó khăn nhưng trẻ luôn có
nghị lực rất tốt để cố gắng đứng dậy và đi (có thể chỉ đi được 1 - 2 bước rồi
ngã), việc đó hình thành trong tâm trí trẻ sự phấn đấu và nghị lực cao hơn.