Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh cao bằng (tt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NÔNG THỊ AN

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ
CÔI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TAM BẢO TRỢ XÃ HỘI
TỈNH CAO BẰNG

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2016


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn Khoa học: TS. Bùi Thị Mai Đông

Phản biện 1: PGS.TS. Ngnuyễn Hồi Loan
Phản biện 2: TS. Trần Thị Minh Thi

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:
Học viện Khoa học xã hội 08 giờ 00 phút, ngày 13 tháng 5 năm 2017.

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học Xã hội



đưa ra những khó khăn vật chất học tập, tinh thần của trẻ em trong các trung
tâm bảo trợ xã hội và nhu cầu cần sự hỗ trợ các nguồn lực bên ngoài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực trạng CTXH cá nhân đối với
TEMC tại TTBTXH.CB.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận về TEMC; CTXH cá nhân
đối với TEMC.
Khảo sát, đánh giá thực trạng CTXH cá nhân đối với TEMC tại
TTBTXH.CB.
Vận dụng phương pháp CTXH cá nhân chuyên nghiệp vào một số trường
hợp TEMC tại TTBTXH.CB và đánh giá hiệu quả tác động.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động CTXH cá
nhân đối với TEMC tại TTBTXH.CB nói riêng; CTXH cá nhân đối với TEMC
nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: CTXH cá nhân đối với TEMC từ thực tiễn
TTBTXH.CB
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi đối tượng: Tập trung nghiên cứu tiến trình, vai trò và kỹ năng
của nhân viên CTXH trong CTXH cá nhân đối với TEMC.
- Phạm vi về không gian: Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng

3


- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu các hoạt động của Trung tâm từ năm
2014 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

nhân viên công tác xã hội và nhân viên trực tiếp chăm sóc trẻ mồ côi; 07 trẻ em
mồ côi.

4


- Đối với thảo luận nhóm: 02 buổi trong đó có 01 buổi thảo luận nhóm
với nhân viên công tác xã hội để tìm hiểu về nhu cầu của nhóm trẻ từ 16 tuổi
trở lên và 01 buổi với trẻ em mồ côi để tìm hiểu nhu cầu học nghề của trẻ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Phần nghiên cứu lý luận: Làm sáng tỏ các khái niệm, các lý thuyết
trong CTXH cá nhân đối với TEMC.
- Phần thực trạng CTXH cá nhân đối với TEMC: Giúp cho cán bộ quản
lý có cơ sở để đánh giá một cách khách quan các hoạt động công tác xã hội, đội
ngũ nhân viên CTXH; Một số hạn chế và nguyên nhân trong CTXH cá nhân
đối với TEMC tại Trung tâm
- Phần ứng dụng: Vận dụng lý thuyết CTXH cá nhân trong thực hiện
tiến trình tại Trung tâm; Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt
động CTXH cá nhân đối với TEMC tại TTBTXH.CB.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài cho chúng ta có cái nhìn đúng đắn về
CTXH tại TTBTXH.CB hiện nay. Đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm phát
triển và hoàn thiện các dịch vụ CTXH tại TTBTXH.CB.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục,
luận văn có 03 chương sau đây:
Chương 1. Cơ sở lý luận về TEMC và CTXH cá nhân đối với TEMC.
Chương 2. Thực trạng CTXH cá nhân đối với TEMC từ thực tiễn
TTBTXH tỉnh Cao Bằng

1.1.3.3. Điều kiện vui chơi giải trí
1.1.3.4. Điều kiện học tập
1.1.4. Nhu cầu cơ bản của trẻ em mồ côi
1.1.4.1. Nhu cầu vật chất
1.1.4.2. Nhu cầu về sự an toàn
1.1.4.3. Nhu cầu tình cảm
1.1.4.4. Nhu cầu được tôn trọng
1.1.4.5. Nhu cầu hoàn thiện, phát triển nhân cách
1.2. CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
1.2.1. Khái niệm
1.2.1.1. Công tác xã hội
Theo từ điển CTXH thì: “CTXH đó là một ngành khoa học xã hội ứng
dụng nhằm giúp con người thực hiện chức năng tâm lý xã hội của mình một
cách có hiệu quả và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an sinh
cao nhất cho con người.” Nó còn là “Một nghệ thuật, một khoa học, một nghề
nhằm giúp người dân giải quyết vấn đề từ cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, cộng
đồng”. CTXH giúp con người phát triển hài hòa, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho
con người [6]

6


1.2.1.2. Công tác xã hội cá nhân
CTXH cá nhân là một phương pháp giúp đỡ từng cá nhân con người
thông qua mối quan hệ một - một.
CTXH cá nhân là một cách thức, quá trình nghiệp vụ mà NVXH sử dụng
các kỹ năng, kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng phát huy tiềm năng, tham
gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiện điều kiện sống của chính
họ.
1.2.1.3. Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi


- Vai trò là người nghiên cứu xử lý dữ liệu
- Vai trò là người quản lý hành chính
1.2.4.2. Các kỹ năng cần thiết của nhân viên công tác xã hội trong
công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em mồ côi
- Kỹ năng giao tiếp
- Kỹ năng quan sát
- Kỹ năng lắng nghe tích cực
- Kỹ năng thu thập, phân tích thông tin:
- Kỹ năng thuyết trình
- Kỹ năng tham vấn
- Kỹ năng tư vấn
- Kỹ năng biện hộ.
1.3. MỘT SỐ LÝ THUYẾT ỨNG DỤNG TRONG CÔNG TÁC XÃ
HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
1.3.1. Thuyết nhu cầu của A. Maslow
Abraham Maslow (1908 – 1970), nhà tâm lý học người Mỹ. Hệ thống
cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng hình kim tự tháp,
các nhu cầu ở bậc thấp (nhu cầu cho sự tồn tại) thì xếp phía dưới, trong khi
những nhu cầu cho sự phát triển, sự hoàn thiện cá nhân được coi là quan trọng
hơn, giá trị hơn, chúng được xếp ở các thang bậc trên cao của kim tự tháp. Mỗi
nhu cầu con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước đó.
1.3.2. Thuyết Hệ thống
Thuyết hệ thống là một trong những lý thuyết quan trọng được sử dụng
trong CTXH, đặc biệt khi tìm hiểu, đánh giá về hệ thống xung quanh TEMC, nó
giúp NVXH biết được TEMC đang thiếu những gì, những hệ thống họ có thể
tham gia và tiếp cận bởi trọng tâm của hệ thống là hướng tới những cái tổng thể
và mang tính hòa nhập. Nó còn giúp cho NVXH biết sắp xếp, tổ chức những
lượng thông tin lớn thu thập được để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề
và tìm cách can thiệp.

các em.
1.4.3.2. Mô hình nhà xã hội
Đó là một giải pháp chuyển trẻ em đang sống trong các trung tâm quy
mô lớn sang sống trong môi trường "chăm sóc gia đình quy mô nhỏ" dựa vào
cộng đồng.
1.4.3.3. Mô hình chăm sóc thay thế dành cho trẻ em mồ côi không nơi
nương tựa
Những loại hình chăm sóc thay thế hiện nay là: Chăm sóc bởi họ hàng;
người giám hộ; nhận con nuôi; nhận đỡ đầu; chăm sóc trong các cơ sở tập
trung.
1.5. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ
NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI
1.5.1. Đặc điểm của đối tượng

9


Trẻ tự ti, dễ tủi thân, sống thầm lặng mặc cảm với số phận, lo lắng, sợ
hãi, xa lánh không muốn quan hệ với bạn bè, liều lĩnh, gan lỳ, mánh khóe, hoài
nghi với mọi người, hoài nghi cuộc sống, thù ghét, hằn thù. Một số trẻ lại có
khả năng tự lập từ rất sớm.
1.5.2. Năng lực, trình độ của nhân viên công tác xã hội
Thực tế cho thấy CTXH là một nghề còn mới ở Việt Nam, đội ngũ
NVXH chưa được đào tạo bài bản, đúng chuyên ngành, họ chỉ được tham gia
các lớp đào tạo ngắn hạn như các lớp tập huấn.
1.5.3. Cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động
Điều kiện cơ sở vật chất dành cho TEMC tại các cơ sở bảo trợ chưa đầu
đủ, diện tích nhà ở, sân chơi thể thao, các lớp học theo khối lớp... đều thiếu.
Kính phí hoạt động được cấp theo quy định của ngân sách nhà nước rất thấp vì
thế định mức của đối tượng chưa được đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của đối

XÃ HỘI TỈNH CAO BẰNG
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ TRẺ
EM MỒ CÔI TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
.1.
KháiLịch
quát sử
về Trung
tâm Bảo
trợ xã
hội Trung
tỉnh Cao
2.1.1.1.
hình thành
và phát
triển
tâmBằng
Bảo trợ xã hội
tỉnh Cao Bằng.
Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng là đơn vị sự nghiệp công lập
trực thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, thành lập với mục đích chăm
sóc, nuôi dưỡng đối tượng xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không có
điều kiện sống cùng gia đình và cộng đồng nơi cư trú
2.1.1.2. Cơ cấu tổ chức, bộ máy lãnh đạo và đội ngũ công chức, viên
chức, người lao động tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng
- Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm gồm: Ban giám đốc (01
Giám đốc, 01 phó giám đốc) và 5 phòng: Phòng Tổ chức - Hành chính; Phòng
Quản lý - Giáo dục; Phòng Quản lý tâm thần, lang thang; Phòng Tư vấn và trợ
giúp đối tượng; Phòng Chăm sóc sức khoẻ, dinh dưỡng.
- Bộ máy lãnh đạo Trung tâm gồm: Giám đốc, phó giám đốc, trưởng,
phó các phòng chuyên môn

- Bước 2: Nhận diện vấn đề
Theo ý kiến của NVXH số 5 tại buổi thảo luận nhóm Trong quá trình
tiếp cận nhân viên CTXH sẽ thiết lập mối quan hệ với thân chủ từ đó sẽ xác
định vấn đề của thân chủ. Ở bước này nhân viên công tác xã hội chủ yếu là
tập trung vào thân chủ chứ không tìm hiểu để xác định xem ai là đối tượng
chính, ai là đối tượng liên quan.
- Bước 3: Thu thập thông tin
Vẫn là ý kiến của NVXH số 5: Nhân viên CTXH sẽ thu thập thông tin
bằng nhiều cách nhưng trước tiên là trên cơ sở hồ sơ đầu vào của thân chủ,
sau đó bằng cách tiếp cận khai thác thêm các thông tin từ chính thân chủ, bạn
bè cùng phòng thân chủ và bạn bè cùng lớp với thân chủ. Ở bước này nhân
viên CTXH đã không tiến hành thu thập thông tin qua người thân (họ hàng)
của thân chủ, vì đa số họ hàng của thân chủ đều ở vùng sâu, vùng xa, thuộc
hộ nghèo và Trung tâm không có nguồn kinh phí để tiến hành đi thu thập.
- Bước 4: Chuẩn đoán
Theo ý kiến của NVXH số 3: Nhân viên CTXH đã tiến hành phân tích
thông tin để chỉ ra vấn đề của thân chủ. Tuy nhiên ở bước này các nhân viên

12


CTXH chỉ dự vào kết quả của các bước trên chứ không dùng các công cụ: Sơ
đồ phả hệ, Cây vấn đề, Bảng phân tích điểm mahj, điểm yếu trong lý thuyết về
phương pháp CTXH để chẩn đoán, đánh giá vì vậy một số vấn đề liên quan đến
thân chủ không được phân tích đề cập.
- Bước 5: Lập kế hoạch can thiệp
Theo ý kiến của NVXH số 3: Do không sử dụng các công cụ hỗ trợ nên
kết quả chuẩn đoán không nêu hết được các vấn đề gặp phải của thân chủ vì thế
khi nhân viên CTXH đã lên kế hoạch để giải quyết vấn đề của thân chủ rất
nhiều trường hợp đã không xác định đầy đủ mục tiêu và thiếu các nguồn lực hỗ

cho các cháu đang theo học các trường đại học, trung học chuyên nghiệp. Hỗ
trợ cho các cháu đi viện điều trị và các hoạt động ngoại khóa năng cao năng
lực, kỹ năng sống cho các cháu.
- Kết nối mạng lưới trợ giúp
Nhân viên CTXH đã thực hiện nhiều buổi tuyên truyền cho các đối
tượng tại Trung tâm về chính sách của Đảng và nhà nước, giới thiệu để TEMC
tiếp cận được với các chính sách như chính sách bảo hiểm y tế, chính sách hỗ
trợ giáo dục. 100% TEMC đều được thụ hưởng các chính sách đó. Năm 2016
trợ giúp cho trên 120 lượt TEMC trong đó 36 TEMC được hỗ trợ khó khăn đột
xuất; 83 TEMC được kết nối giới thiệu học nghề làm chổi chít, chổi rơm, học
làm hoa pha lê; trên 300 TEMC được tư vấn trực tiếp về chính sách cũng như
hỗ trợ tâm lý, chia sẻ, động viên giúp trẻ vững tin vượt qua khó khăn và rất
nhiều trường hợp khác được kết nối, từ thiện vật chất, hỗ trợ trong trường hợp
chữa bệnh hiểm nghèo, bệnh tâm thần mãn tính [25].
- Tham vấn, hỗ trợ tâm lý
Qua khảo sát 07 TEMC với câu hỏi: Ở Trung tâm, ngoài các hoạt động
như: ăn, uống, vệ sinh cơ thể, đi học, xem phim, đọc sách báo, em có được
tham gia các hoạt động nào khác không?
Cả 07 em đều trả lời thường xuyên được tham gia các buổi ngoại khóa
theo từng chủ điểm
Ba em trả lời là được tham gia các buổi tham vấn, tư vấn về học nghề, về
sức khỏe, về tâm lý lứa tuổi...
Theo Báo cáo của Trung tâm trong năm 2016 đã tổ chức các buổi tham
vấn, tư vấn cho trên 80 lượt TEMC về: Chăm sóc sức khỏe khi giao mùa;
phòng, chống các bệnh về hô hấp; Tâm lý lứa tuổi; Sinh lý tuổi dậy thì và các
bệnh phụ khoa thường gặp có những thông tin như thông tin về bảo vệ môi
trường [25]... giúp TEMC tự xem xét vấn đề và tự thay đổi bản thân để thích
ứng với cuộc sống tại Trung tâm.
- Hoạt động quản lý ca
Theo ý kiến của NVXH số 1 trong buổi thảo luận nhóm thì Nhân viên

những nhìn nhận không đúng đối với đối tượng tại Trung tâm vì thế sau khi tìm
hiểu sự vụ thông qua nhiều nguồn thông tin nhân viên CTXH đã tiến hành các
buổi làm việc với giáo viên chủ nhiệm của các đối tượng hoặc Ban giám đốc
Trung tâm phải làm việc với Ban giám hiệu nhà trường để bảo vệ quyền lợi cho
đối tượng và giải quyết các mối quan hệ phức tạp nảy sinh.
Kết quả năm 2016 biện hộ và tiến hành hòa giải cho 14 cháu có xích
mích với các bạn ngoài trường; biện hộ trước ban giám hiệu và giáo viên chủ
nhiệm, giáo viên bộ môn cho 08 trường hợp [25].
2.2.3. Kỹ năng công tác xã hội cá nhân của đội ngũ nhân viên công
tác xã hội làm việc tại Trung tâm
Theo chị T.M.H Phó giám đốc Trung tâm đã đánh giá: nhân viên CTXH
tại Trung tâm thường xuyên sử dụng các phương pháp CTXH chuyên nghiệp
vào hoạt động can thiệp, hỗ trợ; Tất cả các nhân viên CTXH đều có trình độ,
năng lực và đạo đức nghề nghiệp cơ bản cụ thể 03 người được đào tạo đại học chuyên

15


ngành CTXH; 06 người được đào tạo ngắn hạn về CTXH và trong quá trình làm
việc họ đã vận dụng nhiều kỹ năng để giúp đỡ thân chủ cụ thể là:
- Kỹ năng giao tiếp: Theo ý kiến của các cháu được hỏi cho biết hầu hết
nhân viên CTXH đều cởi mở, dễ gần vì thế nhiều trường hợp thân chủ đã chủ
động tìm đến nhân viên CTXH để xin được tham vấn, tư vấn và chia sẻ các vấn
đề của mình.
- Kỹ năng quan sát: Thông qua nội dung của các buổi giao ban đầu tuần,
hằng ngày trong quá trình làm việc nhân viên CTXH tại Trung tâm luôn quan
sát tất cả các hoạt động của đối tượng từ đó họ ghi chép đầu đủ trong sổ giao ca
và chính họ đã phát hiện được các vấn đề của thân chủ và các mối quan hệ mắt
xích của thân chủ.
- Kỹ năng lắng nghe tích cực: Tại các buổi thảo luận nhóm đã thấy

2.2.4. Một số hạn chế của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em
mồ côi tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Cao Bằng
Theo kết quả của buổi thảo luận nhóm với nhân viên Công tác xã hội để
đánh giá những hạn chế công tác xã hội cá nhân dành cho TEMC năm 2016 thì
thấy rõ 06 nhân viên công tác xã hội đều khẳng định là Công tác xã hội cá nhân
còn một số hạn chế như sau:
Công tác xã hội cá nhân chưa thực hiện được nhiều tại Trung tâm
nguyên nhân là do đội ngũ nhân viên CTXH còn mỏng, trình độ còn thấp chỉ có
03 viên chức đang theo học lớp đại học tại chức CTXH còn lại là các ngành
khác chuyển sang. Mặt khác số lượng TEMC tại trung tâm quá lớn và hầu như
các trẻ đều có những vấn đề cần sự trợ giúp và hỗ trợ (Ý kiến của chị T.M.H
Phó giám đốc Trung tâm).
Quá trình thực hiện CTXH cá nhân của các nhân viên CTXH tại Trung
tâm chưa tuân thủ đầy đủ theo các bước của tiến trình của các mô hình can
thiệp trong CTXH cá nhân chẳng hạn về quản lý trường hợp: (Ý kiến của
NVXH số 2)
- Các nhân viên CTXH không tiến hành mở hồ sơ quản lý ca;
- Các bước trong quản lý trường hợp đã thực hiện tuy nhiên không đầy
đủ cụ thể như:
+ Tiếp nhận trường hợp: Hồ sơ chính là hồ sơ đầu vào Trung tâm của
TEMC.
+ Đánh giá: Trên cơ sở hồ sơ có sẵn của đối tượng và tiếp xúc với đối
tượng nhân viên CTXH đã đánh giá tình trạng sơ bộ của đối tượng nhưng
không tiến hành đánh giá sâu được về tình trạng hoạt động thể chất, sức khỏe,
tâm lý, hoạt động cảm xúc mà chỉ tập trung đánh giá chức năng hoạt động nhận
thức.
Không dùng các công cụ để đánh giá như sơ đồ phả hệ, sơ đồ sinh thái từ
đó việc hỗ trợ, can thiệp, trị liệu liên quan đến bệnh tật di truyền đã không có
trong kế hoạch đồng thời không mô phỏng được mối quan hệ họ hàng của đối
tượng để có sự trợ giúp, can thiệp hiệu quả.

các bước của tiến trình và sử dụng thành thạo các kỹ năng của người làm
CTXH trong các ca trợ giúp TEMC. Tuy nhiên do số đối tượng là TEMC tại
Trung tâm rất đông và lực lượng nhân viên CTXH lại ít vì thế khó có thể đảm
bảo một cách thường xuyên CTXH cho tất cả các đối tượng.
Từ thực trạng này chúng ta sẽ đi vào thực hiện tiến trình CTXH cá nhân
đối với 01 trường hợp TEMC tại Trung tâm để chúng ta hiểu một cách sâu xa
hơn những nhu cầu, những suy nghĩ cũng như những mong muốn của TEMC,
trên cơ sở đó chúng ta có những đề xuất và những giải pháp giúp các em có cơ
hội phát triển bản thân mình.

18


Chương 3
ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
TRẺ EM MỒ CÔI TẠI TRUNG TÂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TEMC
3.1. ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TẠI TRUNG TÂM
3.1.1. Mô tả ca
Tháng 9 năm 2016, huyện Bảo Lâm đã đưa 07 đối tượng đến bàn giao
tại TTBTXH.CB nuôi dưỡng theo các quyết định của Sở Lao động- Thương
binh và Xã hội. Khi đó tôi và các đồng nghiệp tiếp nhận các đối tượng, qua
quan sát tôi thấy có một em nam lớn tuổi nhất trong cả nhóm, nhanh nhẹn
nhưng ít nói và có phần sợ sệt. Tôi đã chủ động tìm hiểu thông qua cán bộ
Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện Bảo Lâm thì được biết tên em
là V. A. T sinh năm 2004, đang là học sinh lớp 4, bố mẹ mất do ăn lá ngón tự
tự, hiện giờ em không còn bất kỳ người thân nào vì thế huyện Bảo Lâm đã
hoàn tất các thủ tục để đưa em vào nuôi dưỡng tại TTBTXH.CB. Đặc biệt em
có năng khiếu múa khèn, thổi sáo và hát rất hay.

Qua hai cuô ̣c vấn đàm trên, tôi đã xác định được vấn đề của thân chủ:
Mă ̣c cảm, không tự tin; Kiế n thức về văn hóa kém, không thích đi học; Sống
khép mình, ít bạn bè. Để xây dựng kế hoa ̣ch trơ ̣ giúp cho thân chủ, tôi đã sử
dụng thêm các công cụ như: Phân tích mă ̣t ma ̣nh – yế u của thân chủ; Sơ đồ phả
hệ của gia đình thân chủ; Sơ đồ sinh thái của thân chủ; Sơ đồ Cây vấn đề
Bước 4: Lập kế hoạch can thiệp
Trong kế hoạch tôi đã xác định 03 mục tiêu đối với thân chủ của mình cụ
thể:
- Thân chủ bớt mă ̣c cảm và xóa bỏ những suy nghĩ tiêu cực về cha mình
- Thân chủ hòa đồng với các bạn trong lớp và thích đi học
- Thân chủ được học lớp hát, múa ở Nhà thiếu nhi Kim Đồng
Bước 5: Triển khai kế hoạch
Tiếp tục thực hiện các buổi vấn đàm với sự trợ giúp của Ban giám đốc
Trung tâm Bảo trợ xã hội, Ban giám hiệu nhà trường, Ban Giám đốc Nhà thiếu
nhi Kim đồng và các bạn cùng lớp của thân chủ. Tôi đã từng bước thực hiện
được mục tiêu đề ra trong kế hoạch.
Bước 6. Lươ ̣ng giá
Nhìn la ̣i cả quá trình trơ ̣ giúp của mình tôi thấ y thân chủ đã có sự thay
đổ i, tiế n bô ̣ rõ rê ̣t:
+ Từ một đứa trẻ chỉ biết trách móc, hận thù người cha TC đã thấu hiểu,
thông cảm và chấp nhận số phận của mình.
+ Từ mô ̣t đứa trẻ ít nói không tự tin, không dám nói chuyê ̣n với người la ̣
nay TC đã nhanh nhe ̣n hơn, nói nhiề u hơn và hòa đồ ng với tấ t cả mo ̣i người ở
Trung tâm cũng như ở ngoài trường
+ Từ mô ̣t người không thích đi học đã có nhiều tiến bộ trong các môn
học.

20



năng hoạt động trong lĩnh vực CTXH để cử đi tham gia các khóa đào tạo (Đại
học, trung cấp) về chuyên ngành CTXH.
- Mời chuyên gia về Trung tâm để tập huấn cho nhân viên theo các
chuyên đề về CTXH cá nhân đối với TEMC như đặc điểm tâm lý TEMC; nhu
cầu của TEMC, lý thuyết về nhu cầu, hệ thống sinh thái....để làm sao mỗi nhân

21


viên CTXH đều có thể hoạt động chuyên nghiệp hơn trong vai trò trợ giúp, kết
nối, biện hộ...
- Thường xuyên tổ chức hội thảo, hội nghị tại Trung tâm để tất cả các
nhân viên có điều kiện giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau trong tổ
chức hoạt động CTXH tại Trung tâm.
3.2.3. Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý về vai trò của
công tác xã hội trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý trẻ em mồ
côi
Ban lãnh đạo Trung tâm là những người trực tiếp chỉ đạo các hoạt động
của trung tâm vì vậy nhận thức của họ sẽ quyết định cho việc điều hành như thế
nào và ảnh hưởng trực tiếp đến các đối tượng tại trung tâm. Qua khảo sát tại
Trung tâm thì đội ngũ lãnh đạo của Trung tâm chưa hiểu hết vai trò của CTXH
trong hoạt động chăm sóc TEMC, họ chỉ chú trọng về chăm sóc dinh dưỡng và
y tế, ít quan tâm đến tâm lý, tình cảm... của TEMC. Do đó nâng cao nhận thức
về vai trò CTXH trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý TEMC đối
với đội ngũ cán bộ là hết sức cần thiết. Để nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán
bộ quản lý cần tập trung vào các nội dung như sau:
- Có cơ chế chính sách và xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp với yêu
cầu của từng phòng chuyên môn.
- Tổ chức cho đội ngũ cán bộ quản lý đi học tập kinh nghiệm tại các
trung tâm công tác xã hội tiêu biểu để từ đó họ được trao đổi, thăm quan các

họ giải quyết những vấn đề gặp phải từ đó thấy được CTXH cá nhân dành cho
TEMC nói riêng và trẻ em nói chung chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.
Trên cơ sở đó cần có những giải pháp thiết thực, kịp thời góp phần đưa hoạt
động CTXH đến với các nhóm yếu thế được nuôi dưỡng, chăm sóc tại Trung
tâm.
KẾT LUẬN
Trong tiến trình phát triển đất nước, trẻ em và đặc biệt là TEMC luôn
được Đảng, Nhà nước quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi
nhằm động viên về tình thần và hỗ trợ vật chất từng bước giúp TEMC vượt lên
số phận của mình.
Cao Bằng là một tỉnh nghèo, nhưng với sự quan tâm của đảng, nhà
nước và sự nỗ lực của chính quyền địa phương đã từng bước quan tâm đến đời
sống vật chất, tinh thần cho dân sinh trên địa bàn, đặc biệt là sự quan tâm đến
đối tượng TEMC.
Qua quá trình tìm hiểu, phân tích, đánh giá hoạt động CTXH cá nhân
đối với TEMC từ thực tế TTBTXH tỉnh Cao Bằng tôi có một số kết luận như
sau:
Một là, TTBTXH tỉnh Cao Bằng đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn theo đề án đã được phê duyệt. Có nhiều nỗ lực trong việc tư vấn,
tham vấn, kết nối các nguồn lực trong việc hỗ trợ các đối tượng tại Trung tâm
nói chung và đối tượng là TEMC nói riêng.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status