VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ NGỌC CHÂU QUYÊN
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HÀ THỊ THƢ
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Quản lý công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn
tỉnh Bến Tre” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong
cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
27
Chương 2.
THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
31
VỚI TRẺ EM MỒ CÔI TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẾN TRE
2.1.
Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu
31
2.2.
Thực trạng hoạt động quản lý công tác xã hội đối với trẻ em
35
mồ côi từ thực tiễn tỉnh Bến Tre
2.3.
Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác xã hội đối
60
với trẻ em mồ côi
75
KẾT LUẬN
77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
79
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN
Association of Southeast Asian Nations
Bộ LĐTBXH
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
BV,CS&GDTE
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
BV,CSTE
Bảo vệ, chăm sóc trẻ em
CTXH
TE
Trẻ em
TEMC
Trẻ em mồ côi
TECHCĐB
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
TTBTTE
Trung tâm Bảo trợ trẻ em
TH
Tiểu học
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
Sở LĐTBXH
51
Bảng 2.3
Nguồn nước đang sử dụng
57
Bảng 2.4
Tỷ lệ người chăm sóc đưa trẻ đi chơi
59
Bảng 2.5
Sự khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội
61
Bảng 2.6
Hỗ trợ xã hội
67
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
mối quan tâm nầy, Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế
giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc vào ngày 20/02/1990
và chưa đầy một năm sau nước ta đã ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em vào ngày 12/8/1991. Trong 25 năm qua, nước ta đã đề ra và thực hiện ba
Chương trình hành động quốc gia Vì trẻ em giai đoạn 1999-2000, giai đoạn 20012010, giai đoạn 2012-2020 cùng nhiều chính sách, văn bản hướng dẫn tiêu chuẩn,
chương trình mục tiêu, các dự án, xây dựng tổ chức bộ máy, bố trí và đào tạo cán bộ
quản lý, xây dựng và phát triển các tổ chức, cung cấp dịch vụ có liên quan nhằm
thực hiện mục tiêu Bảo vệ, chăm sóc trẻ em. Nhờ đó, công tác Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em đã có những chuyển biến tích cực.
Trẻ em ngày càng được chăm sóc tốt hơn, được đáp ứng các nhu cầu để phát
triển toàn diện. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ các em đang phải sống
trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, trong đó có những trẻ em mồ côi. Hiện nay, tỷ lệ
trẻ em mồ côi lại đang có xu hướng gia tăng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác
nhau như tai nạn giao thông dẫn đến mất cha, mất mẹ, bệnh tật, cấu trúc gia đình tan
vỡ,… Các em đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ như: bị bóc lột sức lao động, bị
bạo hành, bị lợi dụng hay lôi cuốn vào các tệ nạn xã hội,… Quan trọng nhất là các
em không được sống trong môi trường yêu thương, giáo dục đầy đủ để có thể phát
triển bình thường như bao trẻ em khác, điều này sẽ ảnh hưởng tới tương lai của
chính các em. Theo dự báo, công tác Bảo vệ, chăm sóc trẻ em trong những năm tới
đang đứng trước những khó khăn và thách thức mới. Chính vì vậy, nhằm nâng cao
hoạt động hỗ trợ xã hội cho các em, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định
647/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 phê duyệt Đề án Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc
1
biệt dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013-2020, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc
hỗ trợ nhóm yếu thế này.
Tại tỉnh Bến Tre, công tác Bảo vệ, chăm sóc trẻ em luôn được quan tâm. Tỉnh
luôn có những hoạt động hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Ngày 04/4/2014,
những hành động của mình. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có nhiều bài
viết, công trình nghiên cứu khoa học về quyền trẻ em. Trong những bài viết, nghiên
cứu này đã có phần đề cập đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó đặc biệt được
quan tâm là trẻ em mồ côi. Cụ thể như:
- Đề tài: “Công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt từ thực tiễn các
Trung tâm Bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Định” của tác giả Võ Thị Diệu
Quế. Đề tài này nhằm mục đích tìm hiểu và đánh giá đúng thực trạng công tác xã
hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại các trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn
tỉnh Bình Định. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần đảm bảo hoạt động
công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại các Trung tâm Bảo trợ xã
hội trên địa bàn tỉnh Bình Định trong giai đoạn hiện nay.
“Hội thảo khu vực lần thứ 4-Dự án ASEAN về chăm sóc và phát triển trẻ
thơ” được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 19-21 tháng 10 năm 2005. Trong báo cáo của
quốc gia Ma-lay-xi-a tại Hội thảo đã nhấn mạnh việc tăng cường vai trò của cộng
đồng và các tổ chức phi chính phủ nhằm bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt.
Đề tài: “Nghiên cứu mô hình công tác xã hội tại trung tâm nuôi dưỡng trẻ
em mồ côi Hà Cầu – Hà Đông – Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh nhằm tìm
hiểu và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của mô hình công tác xã hội
đối với trẻ em mồ côi tại trung tâm nuôi dưỡng. Từ đó tác giả đề xuất những giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình công tác xã hội đối với trẻ em
mồ côi tại trung tâm nuôi dưỡng.
- “Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ” (MICS) năm 2010–
2011 cho thấy, Việt Nam có 83,7% trẻ em trong độ tuổi từ 0–17 tuổi đang sống với
cả cha và mẹ, trong khi có 5,2% không sống với cả cha và mẹ. Khoảng 5,7% trẻ em
chỉ sống với mẹ dù cha đẻ vẫn còn sống và 2,4% trẻ em chỉ sống với mẹ khi cha đẻ
đã tử vong. Khoảng 1,8% trẻ em chỉ sống với cha dù mẹ đẻ vẫn còn sống và 0,7%
chỉ sống với cha khi mẹ đẻ đã tử vong. Có 5,3% không sống với cha đẻ. Kết quả
3
quan trọng và hết sức có ý nghĩa đối với việc bảo vệ trẻ em mồ côi.
4
- Bài viết “Kinh nghiệm của một số nước về hệ thống bảo vệ trẻ em” của tác
giả Nguyễn Hãi Hữu cho thấy thực tế ở Australia, Thuỵ Điển, Hồng Kông việc hình
thành hệ thống bảo vệ trẻ em liên quan rất nhiều đến các quy định của pháp luật và
chính sách hiện hành. Một trong những điểm mới trong bài viết là khái niệm “tư
pháp thân thiện với trẻ em”. Khi trẻ em vi phạm pháp luật thì áp dụng các hình thức
điều tra, xét hỏi, xử lý tại toà án như thế nào để không gây tổn hại cho trẻ em đặc
biệt là trong trường hợp trẻ em là nạn nhân của các hành vi bạo lực, xâm hại.
Hiện nay, việc hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt mà nhất là trẻ em mồ côi
được thực hiện với nhiều hoạt động khác nhau như dịch vụ chăm sóc thay thế, dịch
vụ y tế, giáo dục, tham vấn tâm lý-xã hội,… Trong thời gian qua, các nguồn lực của
công tác xã hội cho lĩnh vực này dần được hoàn thiện về mặt luật pháp, nguồn nhân
lực và cụ thể là đội ngũ nhân viên công tác xã hội, cộng tác viên công tác xã hội, hệ
thống cơ sở vật chất kỹ thuật. Nhưng việc quản lý công tác xã hội đối với lĩnh vực
nầy vẫn còn non trẻ. Thực tế chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý công tác
xã hội đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn tỉnh Bến Tre. Do đó, trong đề tài nầy, tác
giả đi sâu tìm hiểu thực trạng của việc quản lý công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi
từ thực tiễn tỉnh Bến Tre, những kết quả đạt được của hoạt động này, những thuận
lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện, nguyên nhân thực trạng của việc quản lý
công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp để góp phần
đảm bảo việc quản lý công tác xã hội trên địa bàn tỉnh được tốt hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về lý luận và thực trạng về quản lý công tác xã hội đối với trẻ em
mồ côi từ thực tiễn tỉnh Bến Tre và các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề này. Trên cơ
sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc quản lý công tác xã
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: ở Trung tâm Bảo trợ trẻ em và tại cộng
đồng của tỉnh Bến Tre.
- Phạm vi về thời gian: Đề tài được tiến hành từ tháng 01 năm 2016 đến tháng
5 năm 2016.
6
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về đời
sống của các trẻ em mồ côi, thực trạng của công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi trên
địa bàn rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp để nâng
cao hiệu quả quản lý công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi trên địa bàn.
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như dịch vụ
hỗ trợ của công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi, hệ thống chính sách đối với trẻ em
mồ côi,...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: là phương pháp sử dụng các kỹ thuật
chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được
công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết phục vụ cho quá
trình nghiên cứu.
Tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến công tác xã hội như: Nhập
môn công tác xã hội, Phát triển cộng đồng, Lý thuyết công tác xã hội; phân tích
những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề công tác xã hội đối
với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; phân tích các tài liệu, báo cáo của các cấp chính
quyền địa phương; phân tích, đánh giá các tài liệu liên quan đến chính sách hỗ trợ,
ưu đãi đối với trẻ em và các biện pháp can thiệp, hỗ trợ, giúp đỡ họ.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp
của người được điều tra. Qua đó, hình thành được câu trả lời đầy đủ và có được
những thông tin chính xác cho bảng hỏi cũng như bảng phỏng vấn sâu, đề tài sẽ tập
trung quan sát các hoạt động quản lý công tác xã hội hoặc các hoạt động mang tính
chất quản lý công tác xã hội để xác định những vấn đề khó khăn họ gặp phải.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm
hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về trẻ em mồ côi nói riêng và lý
luận về các chính sách xã hội dành cho trẻ em nói chung.
8
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực trẻ em,
chính sách xã hội dành cho trẻ em.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ xác định được thực trạng và những nguyên nhân cơ bản
ảnh hưởng đến việc quản lý công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi từ thực tiễn tỉnh
Bến Tre hiện nay. Từ đó, giúp đưa ra một số giải pháp để việc quản lý công tác xã
hội đối với trẻ em mồ côi ngày càng hiệu quả hơn.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục thì
luận văn gồm có ba chương:
Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi
Chƣơng 2. Thực trạng về quản lý công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi từ
thực tiễn tỉnh Bến Tre
Chƣơng 3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả từ quản lý công tác xã hội đối
với trẻ em mồ côi từ thực tiễn tỉnh Bến Tre.
9
10
* Khái niệm trẻ em mồ côi
Theo Khoản 1, Điều 3 của Luật BV,CS&GDTE, thì TECHCĐB là TE có hoàn
cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện
quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng. Và, tại Điều 40 của Luật nầy đã
quy định 10 nhóm TECHCĐB bao gồm TEMC không nơi nương tựa, TE bị bỏ rơi;
TE khuyết tật, tàn tật; TE là nạn nhân của chất độc hoá học; TE nhiễm HIV/AIDS;
TE phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; TE phải làm việc
xa gia đình; TE lang thang; TE bị xâm hại tình dục; TE nghiện ma tuý; TE vi phạm
pháp luật.
Trong xã hội, vẫn có nhóm TE trên thực tế không mồ côi cha mẹ (cha mẹ còn
sống và không phải mất tích), nhưng vẫn không có mối liên hệ về mặt kinh tế ngay
từ khi mới sinh ra. Đó là nhóm trẻ em bị bỏ rơi. Do các em không có cha, không có
mẹ hoặc không có cả hai và khó khăn về chăm sóc kinh tế nên nhóm TE nầy sẽ có
nhiều biểu hiện khác so với các nhóm TECHCĐB khác và cũng khác với nhóm TE
bình thường.
Theo Khoản 6, Điều 3 của Luật Nuôi con nuôi ban hành năm 2010 thì: TEMC
là TE mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không
xác định được. [18, tr. 2]
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xác định TEMC là những em
dưới 16 tuổi và có hoàn cảnh cả cha lẫn mẹ đã chết hoặc cha hoặc mẹ đã chết; cả
cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đã mất tích theo quy định của Pháp luật Dân sự (gồm
có cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hợp pháp).
1.1.2. Những vấn đề trẻ em mồ côi thường gặp
Khi xã hội phát triển, sẽ có nhiều vấn đề xã hội phát sinh, trong đó hầu hết các
đối tượng yếu thế ít nhiều đều bị ảnh hưởng, nhưng TEMC là đối tượng mà các vấn
đề xã hội đang rình rập nhiều nhất, các em dễ bị ảnh hưởng nhất. Có nhiều vấn đề
hoại bản thân,...; Ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển của trẻ: cuộc sống
của các em dễ bị xáo trộn như học sút kém, bỏ học, bỏ nhà đi, thay đổi tính nết, trở
nên khó bảo, xa lánh mọi người, dễ có hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội; Gây mất
trật tự, an toàn xã hội, gia tăng tội phạm, tệ nạn mại dâm. Một số trẻ bị lạm dụng
tình dục sau đó dễ đi vào con đường mại dâm hoặc môi giới mại dâm, lạm dụng tình
dục TE khác.
12
1.1.2.2. Nguy cơ trẻ bỏ học
TE ở lứa tuổi dưới 16 là lứa tuổi mà các em phải ngồi trên ghế nhà trường để
lĩnh hội kiến thức từ các trường phổ thông hoặc trường nghề, tích lũy kiến thức để
chọn một ngành nghề phù hợp với nguyện vọng, với sở trường để có nghề nghiệp
vững vàng trong tương lai, góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, vì lý
do khách quan, cũng có khi là lý do chủ quan mà các em phải rời trường, phải bỏ
lớp khi còn ở lứa tuổi dưới 16 để mưu sinh kiếm sống thì nhóm TE này được gọi là
TE bỏ học.
Hiện nay, nhóm TE bỏ học chưa được đề cập trong Luật BVCSTE 2004
nhưng theo Điều 40 của Luật BVCSTE 2004 thì nhóm TEMC được quy định trong
Luật là nhóm TECHCĐB. Có nhiều vấn đề mà TEMC thường gặp, trong đó có cả
nguy cơ bỏ học của trẻ.
Ở lứa tuổi này, các em mồ côi cha mẹ hoặc giả là mồ côi một bề thì việc bỏ
học để tìm kế sinh nhai là việc thường gặp. Các công việc mà các em đi làm sau khi
bỏ học thường đa dạng và cũng gắn liền với cuộc sống của các em, có em thì đi bán
vé số, có em đi làm thuê ở lò bánh mì, lò gạch, cũng có khi giữ nhà cho chủ, đi vác
mướn, đánh giày,... Những công việc này thường gắn một phần lớn vào việc quyết
định phát triển nhân cách của trẻ khi các em lớn lên.
1.1.2.3. Trẻ em lao động sớm
Theo kết quả cuộc điều tra quốc gia về lao động TE (2002) thì cho đến nay
việc phạm tội có lợi lớn cho chúng. Nhưng khi bị phát hiện thì muôn tội lỗi họ đều
để các em phải gánh chịu. Chính môi trường không lành mạnh này dễ lôi kéo các
em vướng vào vì những lời ngon ngọt chuyên nghiệp của họ bởi các em luôn cần có
một nhu cầu về tình cảm, nhu cầu cần được sự che chở.
1.2. Lý luận về quản lý công tác xã hội đối với trẻ em mồ côi
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm về quản lý
Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con
người. Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý như:
Theo Các Mác, tất cả mọi lao động sản xuất trực tiếp hay lao động chung nào
tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để
14
điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện các chức năng chung phát sinh từ sự
vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất …“Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển
lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.”
Như vậy, theo Các Mác: Quản lý là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá trình
lao động phát triển xã hội. Các nhà quản lý quốc tế như: Fredderich Wiliam Taylor
(1856-1915) Mỹ; Henry Fayol (1841-1925) Pháp; Max Weber (1864-1920)
Đức…đều khẳng định: “Quản lý là khoa học, đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự
phát triển xã hội”.
Quản lý là hoạt động phân bổ và sử dụng nguồn tài nguyên để đạt được mục
tiêu của tổ chức. Nó bao gồm những nhiệm vụ thiết lập và duy trì một môi trường
nội bộ trong đó con người làm việc cùng nhau trong các nhóm có kết quả và hiệu
quả để đạt được mục tiêu nhóm (Koontz, Harold and O’Donnel, Cyril, 1976).
Theo Aunapuff: “Quản lý là một hệ thống xã hội chủ nghĩa, là một khoa học
và là một nghệ thuật tác động vào hệ thống xã hội chủ yếu là quản lý con người
nhằm đạt được mục tiêu xác định. Hệ thống đó vừa động vừa ổn định bao gồm
Các khái niệm “quản lý” tuy có khác nhau nhưng chúng có chung những điểm
chủ yếu sau đây: Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một
nhóm xã hội chúng là những tác động có tính định hướng. Những tác động đó được
phối hợp nỗ lực của cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Tóm lại, có thể hiểu quản lý “là một quá trình tác động có tổ chức, có định
hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất
các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện
biến động của môi trường”.
1.2.1.2. Khái niệm về công tác xã hội
Có nhiều khái niệm về CTXH được đưa ra ở các góc độ khác nhau:
Theo từ điển Bách khoa ngành CTXH (1995) có ghi “CTXH là một khoa học
ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những
chuyển biến xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội”.[21, tr. 12]
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác
nhau, điển hình có tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: “CTXH là hoạt động thực
tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương
16
pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. CTXH theo đuổi mục
tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội’’. [10, tr. 26]
CTXH tại Việt Nam cũng được xem như là sự vận dụng các lý thuyết khoa học
về hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội
và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế hướng
tới bình đẳng và tiến bộ xã hội. Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyên môn
góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãn
những nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai
trò xã hội của mình. [30, tr. 17]
Và như vậy ta có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của tác giả
người và thỏa mãn các nhu cầu con người. [26, tr. 288]
Theo Kidneigh, 1950: “Quản lý/quản trị công tác xã hội là một tiến trình
chuyển đổi chính sách xã hội thành các dịch vụ xã hội…trong một tiến trình hai
chiều: một là chuyển đổi chính sách thành các dịch vụ cụ thể, và hai là sử dụng
kinh nghiệm để sửa đổi chính sách.”
Theo Trecker, Quản lý công tác xã hội “một tiến trình làm việc với con người
bằng cách phát huy và liên kết năng lực của họ để họ sử dụng mọi tài nguyên sẵn
có để thực hiện mục đích cung cấp những chương trình và dịch vụ cần đến”.
Như vậy có thể thấy, quản lý CTXH là một phương pháp của CTXH có liên
quan tới việc cung ứng và phân phối các nguồn tài nguyên xã hội giúp con người
đáp ứng nhu cầu của họ và phát huy tiềm năng bản thân. Người ta cho rằng khi
chuyển đổi các chính sách xã hội thành các chương trình và dịch vụ, nhà quản lý
CTXH áp dụng một sự tổng hợp các phương pháp CTXH vào tiến trình quản lý.
Quản lý CTXH là phương pháp quan trọng để tối đa hóa tính hiệu quả của các
chương trình hoạt động CTXH để giải quyết các vấn đề xã hội và cải thiện điều kiện
xã hội tốt hơn. Quản lý CTXH nhằm cung cấp nền tảng để thực hành CTXH liên
quan đến các chức năng của cơ sở xã hội, chất lượng thực hành CTXH phần lớn phụ
thuộc vào cách quản lý ngành CTXH. Quản lý CTXH có các đặc điểm như:
- Sử dụng các nguyên tắc và kỹ thuật của quản trị tổng quát;
- Sử dụng triết lý, mục đích và các chức năng của CTXH, các phương pháp
chẩn đoán xã hội, phân tích và tổng hợp các nhu cầu của cá nhân, nhóm hay cộng
18
đồng và sử dụng việc tổng quát hóa nhằm thay đổi và phát triển các mục đích và
chức năng của cơ sở;
- Quản lý CTXH là làm việc với con người dựa vào kiến thức và hiểu biết
hành vi con người, các mối quan hệ nhân sự và các tổ chức phục vụ con người;
- Các phương pháp CTXH không chỉ được sử dụng để cung cấp dịch vụ