VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THANH NHUẬN
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CAI NGHIỆN MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CHỮA BỆNH – GIÁO DỤC
LAO ĐỘNG XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ SAU CAI NGHIỆN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN THỊ MAI LAN
HÀ NỘI- 2016
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI
NGHIỆN MA TUÝ ĐANG CAI NGHIỆN MA TUÝ ..........................................13
1.1. Một số vấn đề lí luận về người nghiện ma tuý đang cai nghiện ma tuý .............13
1.2. Công tác xã hội đối với người nghiện ma tuý đang cai nghiện ma tuý ..........17
1.3. Chủ trương chính sách, cơ chế pháp lý của Đảng và Nhà nước đối với người
đang cai nghiện ma tuý ..........................................................................................29
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới Công tác xã hội đối với người nghiện ma túy đang
cai nghiện ma tuý...................................................................................................32
CHƢƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƢỜI NGHIỆN MA TÚY TỪ THỰC TIỄN TẠI TRUNG TÂM CHỮA
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Sự chênh lệch về giới tính trong công chức, viên chức ............................37
Bảng 2.2. Độ tuổi của Công chức, viên chức............................................................38
Bảng 2.3. Trình độ học vấn của cán bộ, viên chức ...................................................38
Bảng 2.4 Trình độ chuyên môn của công chức, viên chức. ......................................39
Bảng 2.5. Thời gian công tác của Công chức, viên chức ..........................................41
Bảng 2.6. Tình trạng hôn nhân của công chức, viên chức ........................................41
Bảng 2.7. Sự chênh lệch về giới tính của người đang cai nghiện ma túy .................43
Bảng 2.8. Trình độ học vấn của người đang cai Nghiện ma túy...............................44
Bảng 2.9. Tuổi của người nghiện ma túy ..................................................................45
Bảng 2.10. Tình trạng hôn nhân của người nghiện ma túy .......................................45
Bảng 2.11. Tình trạng Gia đình của người đang cai nghiện ma túy .........................46
Bảng 2.12. Tình trạng nuôi dưỡng con của người đang cai nghiện ma túy ..............47
Bảng 2.13. Thời gian nghiện ma túy của Người đang cai nghiện ma túy ................48
Bảng 2.14. Loại ma túy thường sử dụng ...................................................................48
Bảng 2.15. Công tác hỗ trợ tâm lý, xã hội cho ngưởi nghiện ma túy đang cai nghiện
tại Trung tâm .............................................................................................................49
Bảng 2.16. Công tác giáo dục, truyền thông cho ngưởi nghiện ma túy đang cai
nghiện tại Trung tâm .................................................................................................50
Bảng 2.17. Công tác truyền thông cho người nghiện ma túy đang cai nghiện .........51
Bảng 2.18. Công tác hỗ trợ dạy nghề cho ngưởi nghiện ma túy...............................52
Bảng 2.19. Công tác hỗ trợ tạo việc làm ...................................................................52
Bảng 2.20. Công tác hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người nghiện ma túy đang cai
nghiện ........................................................................................................................53
Bảng 2.21. Trình độ chuyên môn của viên chức làm công tác hỗ trợ tâm lý và giáo
dục, truyền thông .......................................................................................................54
Bảng 2.22. Trình độ chuyên môn của viên chức làm công tác hỗ trợ dạy nghề, tạo
việc làm .....................................................................................................................55
Bảng 2.23. Trình độ chuyên môn của viên chức làm công tác hỗ trợ chăm sóc sức
khỏe cho người nghiện ma túy đang cai nghiện .......................................................56
tổng hợp [3]. khi xâm nhập cơ thể con người s có tác dụng làm thay đổi tâm trạng,
1
ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên những tổn
thương cho từng cá nhân và cộng đ ng.
Theo Báo cáo kết quả phòng chống ma túy năm 2015 của Bộ Công an và
Báo cáo kết quả thực hiện công tác phòng chống mại dâm, cai nghiện ma túy và
quản lý sau cai năm 2015 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2016 của Bộ
Lao động – Thương binh và xã hội cả nước có 200.134 người nghiện ma túy, đã tổ
chức quản lý, chữa trị cai nghiện cho 13.769 người, trong đó 7.587 cai tự nguyện.
Quản lý sau cai nghiện đối với 22.462 người, trong đó tại cộng đ ng là 18.200
người và tại trung tâm là 4.262 người. Tính đến tháng 12/2015, cả nước có 142
Trung tâm, cơ sở trú đóng trên địa bàn của 58/63 tỉnh, thành phố; có 26/63 tỉnh,
thành lập cơ sở xã hội để tiếp nhận, quản lý người nghiện không nơi cư trú ổn định
trong thời gian lập h sơ đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đã tiếp nhận, quản lý 6.921 người trong đó 1.255
người có nơi cư trú đưa về địa phương, 241 người không xác định được tình trạng
nghiện đã được trả về địa phương; 4.145 người được tòa quyết định đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc và hiện các cơ sở đang phân loại và làm thủ tục là 1.271 người.
Công tác xã hội với người nghiện ma túy nói chung dối với người nghiện ma
túy đang cai nghiện tại trung tâm nói riêng là vấn đề nghiên cứu dành được nhiều sự
quan tân từ các nhà khoa học và cơ sở giảng dạy nghiên cứu. Bởi vì vấn đề nghiên
cứu này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn tốt, đặc biệt còn mang tính nhân văn sâu sắc.
Tại Việt Nam người nghiện ma tuy là một những đối tượng thuộc nhóm xã hội yếu
thế. Do vậy, Đảng và Nhà nước có những chủ trương chính sách cụ thế trợ giúp
nhóm xã hội yếu thế này. Từ thực tiễn cho thấy, một trong những chính sách là
công tác xã hội dối với người nghiện ma túy. Công tác xã hội đối với người nghiện
ma tuy đã thực hiện được rất nhiều nhiệm vụ trợ giúp cho người nghiện ma tuy và
trong quá trình phát triển. O.F.Kernberg (1975) cho rằng khi xung đột Edipe còn t n
tại ở tuổi thanh thiếu niên, thì những người ở lứa tuổi này s tìm kiếm sự giải thoát
tội lỗi và các ức chế khác ở việc dùng ma túy [45]. Người nghiện ma túy phản ánh
thể thức phòng vệ chống lại sự lệ thuộc vào khách thể (ở đây là bà mẹ ) của chủ thể
và đe dọa ái kỷ mà nó quy định. Ma túy s là khách thể giả thay thế, tượng trưng
cho bà mẹ thuộc tuổi ấu thơ. Ma túy đã được khách thể hóa và lúc này thanh thiếu
niên khép mình trong mối quan hệ với ma túy.
3
Cách tiếp cận này tập trung vào quá trình phát triển, đặc biệt là thời thơ ấu
của con người và cho rằng những lệch lạc của sự phát triển s kéo theo những rối
nhiễu hành vi. Quá trình trị liệu phân tâm nếu hóa giải được những xung đột vô
thức này của người nghiện thì họ có thể trở nên không cần phụ thuộc vào ma túy
nữa.
Cách tiếp cận nhận thức xã hội: Trong cách tiếp cận này mà A.Bandura là
một đại diện thì theo ông nhận thức về khả năng của mình là khái niệm trung tâm
của sự điều chỉnh hành vi của bản thân [40]. Khái niệm “cái tôi hiệu quả“ (Self –
efficacy) do ông đưa ra được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có
lĩnh vực nghiện. Theo ông “cái tôi hiệu quả“ là khả năng thực sự có thể làm một
việc gì đó, là sự đánh giá của con người về khả năng của mình trong việc hoàn
thành các nhiệm vụ phù hợp với các hoàn cảnh khác nhau.
A.Bandura cho rằng cảm giác về “cái tôi hiệu quả“ là chìa khóa trả lời cho sự
tái nghiện của những bệnh nhân nghiện rượu và ma túy. Những chương trình trị liệu
làm nhằm tăng tính hiệu quả của cái tôi của ông đã giúp bệnh nhân vượt qua được
nỗi sợ hãi của đau đớn và bất lực cũng như ứng phó một cách hợp lý hơn với hoàn
cảnh. Nhờ đó mà quá trình cai nghiện diễn ra có hiệu quả hơn.
Cách tiếp cận tâm lý trị liệu nhận thức: Một trong những chuyên gia hàng
đầu khác trong lĩnh vực tâm lý trị liệu nhận thức ở Mỹ là Callahan R.J [44]. Ông có
cách tiếp cận khác đến vấn đề nghiện. Ông cho rằng nguyên nhân của nghiện ngập
lầm…. là những yếu tố dự báo nguy cơ của việc lạm dụng chất gây nghiện. Sự ảnh
hưởng của cha mẹ đến việc sử dụng ma túy của con cái [7].
Tóm lại, các công trình nghiên cứu nhân cách, nhân cách của người nghiện
ma túy, các biện pháp trị liệu cho người nghiện ma túy từ góc độ tâm lý học khá đa
dạng và phong phú. Với những kết quả thu được nhiều vấn đề về nhân cách người
nghiện ma túy được làm sáng rõ. Tuy nhiên số nghiên cứu từ phương diện đa nhân
tố ở nước ngoài không nhiều. Các nghiên cứu thường chỉ tập trung, đi sâu vào một
yếu tố, thường là gắn với cá nhân, mang tính chủ quan mà các nhà nghiên cứu cho
là nguyên nhân cơ bản, và họ cũng đi tìm cách giải quyết, hướng trị liệu từ các yếu
tố này. Có l với mục đích trị liệu cho đối tượng người nghiện ma túy nên phần
nhiều các nhà tâm lý học nước ngoài quan tâm đến yếu tố cá nhân, còn các yếu tố
xã hội ít được quan tâm. Trong khi đó công tác xã hội đã chứng minh hình vi con
người chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi môi trường xã hội. Tình hình nghiện ma túy
5
hiện nay đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải quan tâm nghiên cứu loại đối tượng này
theo quan điểm hệ thống, quan điểm phức hợp, đa ngành, liên ngành.
2.2 Nghiên cứu trong nước
Trong thời gian qua, ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên
quan tới vấn đề này, dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể nêu một số đề tài sau:
Đề tài cấp Bộ 2002 “Các giải pháp tạo việc làm cho người nghiện ma túy,
người mại dâm sau khi được chữa trị phục h i” do Nguyễn Văn Minh (2002) làm
chủ nhiệm. Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm, đời sống người nghiện
ma túy, người bán dâm. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều khả năng tái nghiện
của người nghiện ma túy sau cai là do không có việc làm, mặc dù nghị lực của đối
tượng là yếu tố quyết định, sự quan tâm của gia đình là yếu tố quan trọng giúp đối
tượng từ bỏ tệ nạn xã hội. Do vậy, các đề xuất của tác giả hướng tới hoàn thiện hệ
thống các giải pháp tạo việc làm cho đối tượng nhằm giúp họ ổn định cuộc sống,
giảm tỷ lệ tái phạm, tái nghiện. [24]
nghiên cứu hành vi của người nghiện ma tuý, cũng như quan điểm về việc giải
quyết chúng trong thực tiễn. Kết quả nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm nhân cách
và hoàn cảnh xã hội nổi trội của thanh niên nghiện ma tuý, mối quan hệ giữa các
đặc điểm với hành vi nghiện. Trong đó, vai trò gia đình được tác giả tìm hiểu ở khía
cạnh môi trường gia đình gắn với vị thế kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến đặc điểm
nhân cách và mức độ nghiện của thanh niên nghiện ma túy, cách quản lý của cha
mẹ với con. Trên cơ sở đó, việc ngăn ngừa hành vi nghiện ma tuý và việc cai nghiện
ma tuý ở thanh niên cần phải kết hợp giữa tri thức và biện pháp của tâm lý học. Kết
quả nghiên cứu đã định hướng về hướng giáo dục và ứng xử thích hợp với người
nghiện ma tuý cũng như góp phần ngăn ngừa việc lạm dụng ma tuý ở thanh thiếu
niên [18].
Như vậy, người nghiện ma túy là một nhóm xã hội đặc thù, họ không chỉ yếu
về mặt thể chất mà cả về tinh thần. Có thể thấy rằng, các tài liệu mới chỉ đề cập tới
vấn đề việc làm và giải quyết việc làm; hỗ trợ vốn cho người sau cai nghiện ma túy.
Nghiên cứu ”Công tác xã hội đối với người nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm
Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội và Quản lý sau cai nghiện thành phố Cần
Thơ” hy vọng s là sự đóng góp nhỏ của tác giả vào nỗ lực phòng chống tệ nạn ma
túy chung của toàn xã hội.
7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về công tác xã hội với người nghiện ma tuý
đang cai nghiện, từ đó đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công
tác xã hội với người nghiện ma tuý đang cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh –
Giáo dục -Lao động xã hội và Quản lý sau cai nghiện thành phố Cần Thơ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu công tác xã hội với người nghiện ma
Là công cụ trợ giúp nhân viên xã hội sắp xếp, tổ chức những lượng thông tin
lớn thu thập được để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và tìm cách can
thiệp. Việc tổ chức thông tin thành hệ thống s giúp nhân viên xã hội nhìn nhận vấn
đề sáng tỏ hơn.
5.1.2. Hướng tiếp cận thực tiễn
Thực tế, ở Việt Nam, có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong phát triển cộng
đ ng căn cứ vào từng tiêu chí sắp xếp. Tuy nhiên, xét về chiều hướng tiếp cận, có
thể phân ra hai cách tiếp cận chính: tiếp cận từ nội lực cộng đ ng và tiếp cận chủ
quan của chuyên gia. Hướng tiếp cận áp đặt của các chuyên gia vốn được ứng dụng
nhiều trong giai đoạn trước. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam bước
vào thời kỳ đổi mới mạnh m , phát triển nhanh chóng tăng trưởng kinh tế với tốc độ
xóa đói giảm nghèo nhanh của nước có thu nhập trung bình thấp, các hướng tiếp
cận lấy con người làm trọng tâm ngày càng có chỗ đứng trong công tác trợ giúp
chuyên nghiệp. Do đó, hướng tiếp cận dựa vào nội lực hay còn gọi là tiếp cận nhu
cầu với phương pháp ABCD với đặc trưng trao quyền cho cộng đ ng, đảm bảo đáp
ứng nhu cầu cấp thiết của cộng đ ng cũng như tính bền vững ngày càng được chú
trọng thay vì cách tiếp cận cũ. Đây cũng được xem là xu hướng chủ yếu của phát
triển cộng đ ng trên thế giới. Để phát huy tốt phương pháp phát triển cộng đ ng
dựa vào nội lực, chúng tôi xin đề xuất những từ khoá sau đây và coi chúng như là
hệ giá trị cho các phương pháp tiếp cận chung:
5.1.3. Hướng tiếp cận công tác xã hội
- Quan điểm sức mạnh: Là một mô hình đòi hỏi người nhân viên Công tác xã
hội trong quá trình làm việc phải thoát ra khỏi quan điểm tập trung vào vấn đề của
thân chủ, mà nhằm đưa ra các sức mạnh cá nhân và môi trường cũng như sức mạnh
từ phía các ngu n lực có thể góp phần giải quyết vấn đề.
9
- Quan điểm sức mạnh giúp nhân viên xã hội nhận ra và khám phá các ngu n
thông tin quý giá để giải quyết vấn đề thân chủ theo hướng dựa vào sức mạnh. Điều
Nhận thức về vai trò, ý nghĩa của công tác xã hội đối với người nghiện ma
túy, gia đình và cộng đ ng và khó khăn và thuận lợi mà người nghiện ma túy gặp
phải trong khi đang học tập, giáo dục, chữa bệnh Trung tâm.
- 10 người đang cai nghiện ma túy
- 2 người đại diện cho ban ngành, đoàn thể có liên quan
- 2 người đại diện cho Trung tâm
- 2 người đại diện cho gia đình
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài luận văn đã xây dựng được khung lý thuyết nghiên cứu công tác xã
hội cá nhân đối với người nghiện ma túy. Trong đó g m có các khái niệm: Nghiện
ma túy; người nghiện ma túy; Người nghiện ma túy đang cai nghiện ma túy; Công
tác xã hội; Công tác xã hội đối với người nghiện ma túy đang cai nghiện ma túy;
Luận văn cũng đã chỉ ra những vấn đề lý luận chính về tiến trình công tác xã hội cá
nhân đối với người nghiện ma túy cũng như vai trò và nhiệm vụ của nhân viên công
tác xã hội đối với nhiệm vụ này. Kết quả nghiên cứu lí luận của luận văn góp phần
bổ sung những vấn đề lí luận về công tác xã hội cá nhân với người nghiện ma túy
đang cai nghiện vào trong nội dung lí luận của khoa học công tác xã hội cá nhân.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu thực trạng công tác xã hội đối với người nghiện ma túy
từ thực tiễn Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội và Quản lý sau cai
nghiện thành phố Cần Thơ. Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận văn có ý nghĩa
quan trọng trong việc góp phần vào việc giúp nhân viên công tác xã hội, cán bộ
quản lý công tác xã hội và người nghiện ma túy thấy được vai trò và ý nghĩa quan
trọng của công tác xã hội đối với người nghiện ma túy từ thực tiễn Trung tâm Chữa
bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội và Quản lý sau cai nghiện thành phố Cần Thơ.
Kết quả nghiên cứu thực tiễn của đề tài cũng chứng tỏ, đối với người nghiện ma túy
thì việc sử dụng công tác xã hội đối với người nghiện ma túy đang cai nghiện trong
việc trợ giúp họ là phương pháp tối ưu. Có thể nhân rộng phương pháp này trên đối
tượng người nghiện ma túy đang cai nghiện tại các Trung tâm khác. Các kết quả
theo chu kỳ hoặc dùng kéo dài liên tục một thứ ma tuý và tình trạng lệ thuộc này
làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy sự bức bách phải dùng
ma tuý để có được những hiệu ứng ma tuý về mặt tâm thần của ma tuý và thoát khỏi
sự khó chịu, vật vã do thiếu ma tuý [13].
Từ quan điểm xã hội thì nghiện ma túy là "tệ nạn xã hội làm tổn hại đến sức
khỏe, nhân cách, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt và trật tự an toàn xã hội"
[28].
Nghiện ma tuý là hiện tượng phụ thuộc cả về thể xác và tinh thần vào ma túy
do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất khả năng kiểm
soát bản thân ở người nghiện, có hại cho cá nhân và cho xã hội [17].
Theo một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi do Viện Nghiên cứu Quốc gia
Hoa Kỳ về lạm dụng ma túy (NIDA) thì: Nghiện ma túy là một căn bệnh của não bộ
có bản chất mãn tính và tái diễn được biểu hiện bằng hành vi bắt buộc phải tìm
kiếm và sử dụng chất ma túy đó bất chấp những hậu quả của việc sử dụng. [8]
Tổng hợp những hiểu biết trên đây về nghiện ma túy, có thể đưa ra khái niệm
như sau: Nghiện ma tuý là tình trạng ngộ độc mãn tính do sử dụng lặp đi lặp lại
nhiều lần một hay nhiều loại ma túy người sử dụng bị lệ thuộc cả về thể xác và tinh
thần vào chất ma túy đó, do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng
dẫn đến mất khả năng kiểm soát bản thân ở người nghiện, có hại cho cá nhân và cho
xã hội.
13
1.1.2. Khái niệm người nghiện ma tuý
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): “Người nghiện ma túy là người sử dụng
chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần dưới các hình thức khác nhau như
hút, hít, tiêm, chích và bị lệ thuộc vào các chất này” [6].
Theo Luật phòng, chống ma túy 23/2000/QH 10: Người nghiện ma túy là
người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và lệ thuộc vào
chống lại xã hội và vi phạm pháp luật
- Về đặc điểm nhân cách
Phần lớn người nghiện có sự biển đổi về nhân cách do sự lệ thuộc vào ma
túy về mặt tâm thần hoặc về mặt cơ thể hoặc bị lệ thuộc cả hai. Khi người nghiện có
đủ ma túy để dùng thì họ cảm thấy thoải mái, sảng khoái. Khi không có nó thì họ
thường cau có, bực bội hoặc cô độc, u sầu. Do các chất ma túy thường tạo nên khoái
cảm, sảng khoái làm cho người nghiện giảm hứng thú, nhân cách bị thu hẹp, cách
cư xử trở nên thô lỗ. Người nghiện thường ít chú ý đến người thân, thờ ở với công
tác, với những vui bu n trong cuộc sống.
Đặc biệt do tính lệ thuộc ma túy nên người nghiện tìm đủ mọi cách để đảm
bảo có được liều quen dùng. Vì vậy, họ có thể nói dối, lấy cắp của gia đình, của xã
hội, cướp giật… miễn làm sao họ có được ma túy. Cho nên, họ đã làm cho bản thân
và gia đình tan nát về vật chất, tinh thần, đạo đức…
Một đặc điểm nữa đáng chú ý của người nghiện ma túy là họ luôn tìm cách
gây “Lây lan về tâm lý” họ thường hứng thú nói về cảm giác sảng khoái, sung
sướng khi dùng ma túy, khiến mọi người khác có ý nghĩ muốn dùng.
- Về mặt tâm lý
Người nghiện ma túy thường có những đặc điểm như bức xúc về mặt tâm lý
muốn sử dụng lại chất gây nghiện, khi lên cơn nghiện, người nghiện khó có thể
kiểm soát được suy nghĩ và hành vi của mình nên dễ dạng gây ra những tổn thương
cho người khác hoặc gây ra những hành động làm ảnh hưởng xấu đến gia đình và
người xung quanh. Tuy nhiên, khi tỉnh táo, người nghiện nhận thức được tác hại của
việc lạm dụng chất gây nghiện và đôi khi cũng có mong muốn cai nghiện và thực
hiện những hoạt động có ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Để giúp người nghiện
chiến thắng được chính bản thân mình, vượt qua sự cám dỗ chết người của chất gây
15
nghiện, gia đình, cộng đ ng, xã hội và những nhà chuyên môn như nhân viên xã hội
cần tích cực hỗ trợ, giúp đỡ.
cơ thể, sự phụ thuộc của cơ thể vào chất ma túy và những biến chứng về mặt y học
(xuất hiện hoặc làm nặng thêm các bệnh cơ hội).
Khi đói thuốc (hội chứng đau vật vã):
Sốt nhẹ, sợ nước, uể oải, đau nhức, ngáp vặt, chảy nước mắt sống, đ ng tử
giản nở; Tính tình dễ cáu gắt, nhưng luôn tỏ thái độ thành khẩn, đầy thuyết phục, lại
sẵn sàng hành động xấu, miễn là có tiền.
Khi no thuốc
Bị táo bón, tiểu gắt, mắt đỏ, đ ng tử teo dần, thân nhiệt tăng ăn không đúng
bữa, hay ăn vặt, uống nhiều nước, toàn thân như kim châm, nhẹ nhàng sảng khoái.
Thường hay nói nhiều, vui vể hoạt bát và thích âm thanh mạnh, xúc giác mạnh, mắt
không mở hết hoặc nhắm hờ, không thích tiếng n, s cáu gắt nếu bị quấy rầy. Nếu
sử dụng các tân dược thì rất hung hãn, lao vào các cuộc chơi nguy hiểm, đốt da tay,
rạch da chân, gây sự đánh nhau, đua xe ., Xuất hiện những hành vi cô lập: cắt móng
tay, nhổ râu, nặn mụn một cách không chủ động.
Nếu là người đang nghiện thì sức khỏe suy sụp dần, không quan tâm chăm
sóc đến sức khỏe bản thân [17].
1.2. Công tác xã hội đối với ngƣời nghiện ma tuý đang cai nghiện ma tuý
1.2.1. Khái niệm công tác xã hội
- Hội đ ng giáo dục công tác xã hội Mỹ (1969) định nghĩa: ”Công tác xã hội
là một nghề nhằm tăng cường việc thực hiện chức năng xã hội của cá nhân hay
nhóm người bằng các hoạt động đặt trọng tâm vào mối quan hệ xã hội của họ cấu
thành sự tương tác giũa con người và môi trường. Những hoạt động này bao g m 03
chức năng: phục h i năng lực bị tổn thương, cung cấp những ngu n tài nguyên từ cá
nhân và xã hội, phòng ngừa sự lệch lạc chức năng xã hội‟‟.
- Theo Hiệp hội chuyên gia Công tác xã hội (năm 2000) cho rằng: Công tác
xã hội là hoạt động chuyên môn nhằm giúp cá nhân, gia đình hay cộng đ ng phục
h i hay tăng trưởng chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các
mục tiêu cá nhân [11].
17
cụ thể. Tuy nhiên Bà cũng cho răng „‟ Công tác xã hội không phài là hướng tới giải
18
quyết mọi vấn đề xã hội mà chỉ hướng vào giải quyết những vấn đề thiết yếu trong
cuộc sống hằng ngày của con người [16].
- Công tác xã hội là một nghề hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá
nhân gia đình và cộng đ ng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức
năng xã hội, đ ng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguôn lực và dịch
vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đ ng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề
xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [22].
Từ những phân tích trên có thể đi đến khái niệm về Công tác xã hội như sau:
Công tác xã hội là ngành khoa học, là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp
nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết các khó khăn nảy sinh
trong cuộc sống, trong quá trình tương tác với môi trường xung quanh nhằm hướng
tới việc thúc đảy năng lực cá nhân, tiềm lực gia đình và cộng đồng tự giải quyết vấn
đề của chính mình.
1.2.2. Khái niệm Công tác xã hội đối với người nghiện ma túy đang cai
nghiện ma tuý
Qua tham khảo nhận thấy các tài liệu viết về Công tác xã hội đối với người
nghiện ma túy còn ít.Theo bản thân khái niệm về Công tác xã hội đối với người
đang cai nghiện ma túy g m các nội dung sau:
- Công tác xã hội đối với người nghiện ma túy là khoa học giúp người nghiện
giải quyết các vấn đề trong quan hệ và môi trường xã hội; là khơi dậy tiềm năng của
đối tượng và tôn trọng lắng nghe đối tượng.
- Công tác xã hội đối với người nghiện ma túy là sử dụng kiến thức và kỹ
năng khoa học giúp cho đối tượng tự tăng sức mạnh nội lực để vươn lên và phát
triển [2].
Từ những phân tích trên có thể đi đến khái niệm về Công tác xã hội đối với
người nghiện ma tuý đang cai nghiện ma tuý tại Trung tâm: Công tác xã hội đối với
Người nghiện ma túy nhóm OPIATS (g m thuốc phiện, heroin…) trong thời
gian cắt cơn thường có những biểu hiện hội chứng cai như: Cảm giác thèm ma túy
rất cao độ, ngạt mũi, chảy nước mắt, đau cơ hoặc chuột rút, bu n nôn, giãn đ ng tử,
nổi da gà hoặc ớn lạnh, nhịp tim nhanh hoặc tăng huyết áp.Trong khi người nghiện
ma túy dạng Amphetamine (ATS) có những hiểu hiện hội chứng cai: Mất ngủ hoặc
20
ngủ lịm và mệt mỏi, chậm chạm hoặc kích động tinh thần vận động, trầm cảm, cảm
giác thèm nhớ ma túy, tăng khẩu vị ăn nhiều hơn lúc bình thường.
Ngoài những biểu hiện của hội chứng cai về mặt cơ thể ra trong giai đoạn cắt
cơn người nghiện thường có một số biểu hiện về mặt tâm lý như sau:
Sự thèm muốn sử dụng ma túy ở họ lên đến đỉnh điểm vì khi cắt cơn người
nghiện s ngưng sử dụng ma túy hoàn toàn dẫn đến xuất hiện hội chứng cai như đã
nói ở trên. Vì sự ngưng dung nạp (sử dụng) ma túy vào cơ thể một cách đột ngột
nên dẫn đến sự thèm nhớ ma túy lên đến đỉnh điểm, họ thay đổi hoàn toàn hành vi,
biến động bất thường ở họ luôn xuất hiện cảm xúc giận giữ, cáu gắt, tội lỗi, mặc
cảm, hoảng hốt, lo lắng…
Tâm lý muốn buông xuôi tất cả, mất niềm tin vào bản thân, không muốn cố
gắng nữa. Một số người trước khi bước vào giai đoạn cắt cơn thường tỏ ra rất
quyết tâm nhưng họ nhanh chóng thay đổi ý định khi phải đối mặt với cơn thèm
nhớ ma túy và các đau đớn của hội chứng cai. Lúc đầu họ sẵn sàng phối hợp với
cán bộ, người thân để tham gia điều trị nhưng khi họ không vượt qua được hội
chứng cai thì s thay đổi ý định không muốn điều trị nữa. Tất cả những điều đó
nếu họ không vượt qua được họ s tìm mọi cách để tìm đến sử dụng lại ma túy, có
thể tự làm đau bản thân, tự tử… để thoát khỏi sự kiểm soát của người khác và khi
biết mình đã tái nghiện trở lại ở họ có thể xuất hiện trạng thái tâm lý muốn bỏ
cuộc, buông xuôi tất cả.
Họ cảm thấy lạc quan, tự mãn, họ v lên nhiều viễn cảnh vì tin là mình đã cai
được nghiện, dễ có nhiều ý nghĩ cường điệu hóa mọi vấn đề, khẳng định mình có